Home Vài nét về Chuyển Luân
Chào mừng độc giả thứ 100,000 In Email

... Và có thể nói, đó cũng là một phần đề cương của Chuyển Luân.

 

Kính gửi bạn đọc gần xa,

http://dlcache.com/thumbs/56d/chuyenluan.net.gif

Chuyển Luân Online, ra mắt bạn đọc từ tháng 11/2003, là một tiếp nối của Tạp chí Chuyển Luân. Vì phương tiện và chi phí nên Tạp chí Chuyển Luân phải tạm thời đình bản với 27 số đến với bạn đọc suốt thời gian 5 năm [4/1997-4/2002].

Nếu Chuyển Luân Online không gặp nạn hai lần suýt tan cửa nát nhà thì lá thư này có thể đã đến sớm hơn, còn nếu tính cả những độc giả của tạp chí Chuyển Luân thì lá thư này hẳn còn sớm hơn nữa. Ngót hai chục ngàn bạn đọc không được kể số vào 100.000 lần này, xin hỉ xả cho.

Xin cám ơn bạn đọc thứ 100.000. Nói chính xác hơn là xin cám ơn lượt khách viếng trang nhà thứ 100.000. Con số 100 ngàn thực ra còn rất khiêm tốn so với những trang nhà khác, nhưng đó là một niềm vui cho anh chị em trong nhóm chủ trương.

Phải thưa ngay rằng sự chiếu cố của quý vị, dù với mục đích gì, đều là một khích lệ cho anh chị em chúng tôi. Đối với chúng tôi, những lời khen chê, khuyến khích, chửi bới hăm dọa, vu vạ bâng quơ đều, nếu không phải là cách khuyến khích chúng tôi làm tốt hơn, hay cảnh tỉnh chúng tôi về những sai sót cần sửa chữa, thì cũng là cơ duyên vô tình giúp chúng tôi giải bớt cái ngữ nghiệp không thể tránh khỏi cho những kẻ đã chọn hạnh nguyện ông ác gác cổng chùa.

Ở vị thế đó, chúng tôi thường cố tránh ngữ nghiệp và cố dặn lòng phải vô tranh, vô cầu bằng cách tự xem mình như bào ảnh trong gương. Người soi gương cười thì ảnh trong gương cười lại, người soi gương nhăn mặt thì ảnh nhăn mặt lại...

Chúng tôi thiển nghĩ, có lẽ cũng như đại đa số bạn đọc, mình là những kẻ đã chọn cách sống đạo ở ngoài đường, chọn cách tu nhà, tu chợ để tiếp trợ hạnh nguyện của quý vị tu chùa, trên căn bản giải thực-giải hoặc-giải nghiệp.

Từ những năm 20 thế kỷ trước, Phật giáo Việt Nam đã chuyển mình hiện đại hóa phương thức truyền bá chánh pháp và đổi mới sinh hoạt Phật sự. Tiến trình đó có lúc đẩy Phật giáo đến chổ gánh lấy cộng nghiệp dân tộc bằng cuộc vận động bảo vệ tín ngưỡng và bình đẵng tôn giáo năm 1963, cuộc vận động hòa bình năm 1966, cùng các cuộc vận động khác cho đến ngày chiến tranh kết thúc tái lập hòa bình thống nhất.

Phật tử dấn thân nhập cuộc không phải để tranh bá đồ vương hay tranh đoạt quyền hành và danh lợi thế tục. Đó là những điều Thái Tử Tất Đạt Đa từng chối từ như là điều kiện tiến quyết để thành Phật.

Là người ước mong lần theo vết chân Phật, Phật tử tại gia cũng như xuất gia há đi ngược con đường chối bỏ lợi danh thế tục đó? Cho nên, dấn thân nhập cuộc chỉ là để tạo cơ duyên cho mỗi người chuyển nghiệp, tạo khế cơ khế lý để tiếp sức làm vơi bớt hay triệt tiêu những gánh nặng thực dân, bị trị, độc tài, bất công và chiến tranh qua phân, vốn là nguồn khổ đau và nhân duyên ngáng trở tâm nguyện sống đạo.

Chuyển Luân Online ghi nhận công đức của bất cứ ai đã dẹp bỏ những gánh nặng đó, và sẽ tiếp trợ cho bất cứ ai ngăn chận những gánh nặng đó tái sinh. Chúng tôi chấp nhận và ủng hộ chính quyền đương nhiệm trong chừng mực đó.

Chúng tôi muốn nhân cơ hội này để có vài lời thưa thốt cùng bạn đọc xa gần những cảm nghĩ và nguyện ước của chúng tôi về Phật giáo, về chính quyền, về những thành phận tự nhận là đối chính. Vì cảm nghĩ và ước nguyện đó mà có Chuyển Luân.

VỀ PHẬT GIÁO

Năm 1975, Phật giáo hoan hỉ khi chiến tranh chấm dứt, độc lập hòa bình thống nhất trở lại. Đáng buồn là niềm vui ấy đến thì trận cuồng phong cải tạo xã hội chủ nghĩa với những cơn say chiến thắng thường tình cũng mang oan nghiệt đến theo.

Phật giáo đã bị bất công đối xử vì bị xem như, nếu không là một thứ ma túy ý thức hệ thì cũng là một đoàn thể quần chúng cần khống chế.

Cho đến khi những thành phần hữu trách với tương lai dân tộc ý thức được điều đó thì tác hại đã thành hiện thực. Đó là một điều đáng tiếc do các người hữu trách trực tiếp quản lý tôn giáo lúc bấy giờ. Có dịp chúng tôi sẽ trở lại vấn đề này.

Chuyển Luân, tạp chí cũng như Online, được khởi đầu trong ý thức về thực tại đáng tiếc đó với hi vọng, nếu chưa làm cho chính quyền và Phật giáo gần lại với nhau hơn trong mục tiêu dựng nước và giữ nước, thì ít ra cũng đừng xa nhau hơn vì những tác hại oan nghiệt.

Ý tưởng này đã manh nha từ năm 1980 với bản tường trình về tình hình Phật giáo sau năm năm dưới chế độ mới được ấn hành lại trên tạp chí Khai Phóng ở Mỹ. Cố gắng đó căn cứ trên nhận thức rằng:

1. Chế độ nào cũng cần có một ý thức hệ để cai trị. Từ thập niên 70, Nga Xô đã chuyển biến, nhất là với quyết nghị theo đó thời gian chuyển tiếp lên Cộng Sản chủ nghĩa là vô hạn định, nghĩa là gián tiếp chính thức giã từ chủ nghĩa Marx-Lenin, trước tiên là chủ nghĩa Stalin về vô sản chuyên chính. Mặt khác, những biến động nội bộ hậu Cách Mạng Văn Hóa ở Trung Quốc cũng chứng tỏ con sư tử ngủ đang cựa mình thoát xác và xa dần tư tưởng Mao trạch Đông.

Việt Nam còn trông chờ gì vào ý thức hệ của Nga Xô hay Trung Quốc, trong khi tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh bắt nguồn từ hứng khởi yêu nước chứ không phải là ý thức hệ? Tinh thần Lục Hòa và Bát Chánh Đạo cũng như dân tộc tính của Phật giáo và truyền thống hòa hợp cộng tồn của Tam Giáo sẽ là nòng cốt cho một ý thức hệ Việt Nam.

Ý thức hệ đó, hợp với tinh thần tự giác nhi giác tha hay Phật pháp bất ly thế gian pháp, không đối nghịch với tinh thần Xã Hội chủ nghĩa mà đề cương chính yếu là một người vì mọi người.

2. Hễ khi nào người Việt đi đúng đường hướng dân tộc thì thành công, hễ khi nào hấp tấp chạy theo người ngoài thì thế nào cũng không tránh khỏi cập lụy tiêu cực.

Hồn thiêng sông núi đang còn nên trong số những thành phần hữu trách đương quyền, không thiếu gì người thấy được điều đó, nhờ vậy mới có đổi mới, mới có cởi trói, mới có mở cửa.

Câu nói của Thủ Tướng Phan văn Khải khi tiếp HT Huyền Quang ở Hànội: Xin Hòa Thượng từ bi hỉ xả... Hành động của Chủ Tịch Trần đức Lương lên chùa đọc thông điệp Phật Đản là những bằng chứng. Đáng tiếc là HT Huyền Quang đã không biết triển khai cơ duyên đó mà lại để cho những kẻ vọng động thiểu trí như Võ văn Ái, Quảng Độ, và cả một vài sư bên Phật giáo thân chính phá hỏng cơ hội.

3. Hễ khi nào Phật giáo đi quá sát với quyền lực thế trị thì hàng ngũ sơn môn sẽ vong thân phân hóa. Bởi quyền lực thế trị có thể làm sa đọa, trong khi mục tiêu của Phật sự không phải là cầu tranh danh lợi như một số lớn các tôn giáo khác.

Ngoài mục tiêu từ bi và tự giác nhi giác tha, điều mà Phật sự nhắm tới là tạo điều kiện để sơn môn khỏi phải bận tâm về chuyện thế trị và để cho các hàng Phật tử tại gia bình thường theo đuổi tâm nguyện tu chứng.

Mục tiêu của Phật sự không phải là tranh đoạt quyền lực thế tục. Quyền lực chính đạo cao nhất mà sơn môn phải đãm nhận là những tấm gương, có lúc tấm gương đó được gọi là Quốc Sư, là Thái Thượng Hoàng. Gọi gì thì gọi, đó cũng chỉ là phương tiện nhất thời, bất đắc dĩ.

3. Hoàn cảnh chung quanh không thiếu gì những âm mưu lợi dụng số đông quần chúng Phật tử để kích động Phật giáo đối kháng, bằng cách gây ra tình trạng nội chiến giữa Phật giáo với chính quyền theo thế trai cò chống nhau ngư ông hưởng lợi.

Xét cho cùng, thủ thuật này cũng chỉ là sự nối dài của âm mưu lãnh thầu ngoại bang để đánh đến người Việt cuối cùng của tập đoàn theo gót ngoại bang từ Pháp đến Mỹ, khống chế chính quyền Miền Nam trước 1975 và được tàn dư của những tập đoàn này lặp lại y nguyên trong sinh hoạt của cái gọi là cộng đồng lưu vong tỵ nạn ở hải ngoại hiện nay.

Chuyển Luân ủng hộ những cố gắng làm cho chính quyền đến gần với quần chúng, làm cho người Việt lưu vong gần với quê hương, và làm cho Phật giáo với chính quyền gần nhau hơn trên căn bản dựng nước và giữ nước.

Bởi vậy mà Chuyển Luân thường thẳng thắn bộc trực bày tỏ:

1. cảnh tỉnh những đồng đạo cả tại gia lẫn xuất gia đã chạy theo ngoại đạo, chạy theo tàn dư của chế độ cũ để vô tình tiếp sức cho những âm mưu đưa đất nước trở lại thời bị trị tôi đòi phồn vinh huy hoàng của đám này ngày xưa.

2. với chính quyền đương nhiệm về những điều chúng tôi nghĩ là sai trái, có thể làm giảm hiệu năng của một chính quyền của dân, do dân và vì dân. Thấy phải chúng tôi nói phải, thấy trái chúng tôi nói trái, chúng tôi không mưu cầu một ân huệ hay một địa vị nào từ chế độ đương hành.

3. với những kẻ tự nhận là 'quốc gia'. Thời có quyền trong tay thì cầu an xu phụ ngoại nhân để thụ hưởng, khi mất quyền thì lại đi rủ rê, khuyến dụ, hăm dọa kẻ khác theo mình để sẵn sàng làm tay sai ngoại nhân lần nữa.

Từ thời Pháp đến thời Mỹ, họ là thành phần được tuyển chọn, được ưu đãi, được xuất ngoại, được hoãn dịch, được học hành tới nơi tới chốn để cung ứng nhân sự cho bộ máy đô hộ. Họ trở thành kẻ xa lạ ngay trên quê hương mình, bên cạnh đồng bào của mình. Đến khi thua chạy ra nước ngoài thì tàn dư của thành phần này lại tụm năm tụm ba tiếp tục trò đè đầu cưỡi cổ lừa dối đồng hương nhẹ dạ dưới chiêu bài cộng đồng quốc gia chống Cộng để tiếp tục mưu đồ của họ, kể cả mưu đồ đi đêm với chính quyền trong mục đích tranh thủ và thu hồi những đặc quyền đặc lợi họ từng hưởng thời ngoại thuộc.

Đáng nói là chiêu bài cộng đồng quốc gia chống Cộng của thành phần này đã lừa bịp được một số sơn môn và Phật tử trong ngoài nước, khiến họ trở thành những kẻ cầm cờ cầm quạt đánh trống khua chiêng phục vụ hết chiến dịch đối kháng phục quốc, đến chiến dịch đấu tranh cho nhân quyền tự do tín ngưỡng, đòi lại những tài sản đã cướp được nhân danh tôn giáo.

Chư tôn túc như quý ngài Tâm Châu, Hộ giác, Viên Lý, Giác Lượng, Giác Đẳng và công ty ở Mỹ. Minh Tâm, Như Điển ở Âu châu, Quảng Ba, Tâm Phương, Nhật Tân ở Australia, Huyền Quang, Quảng Độ và công ty ở trong nước... là điển hình của lực lượng cờ quạt chiêng trống này như những âm binh dưới quyền nhất hô bá ứng của Võ văn Ái và Ỷ Lan.

Chuyển Luân đã phải thống tâm gọi họ là sư tử trùng, là CCCĐ, là những con rối của CCCB đang trì kéo Phật giáo dậm chân tại chổ bằng những xuýt xoa quỵ lụy năn nỉ các chính khách cơ hội ngoại quốc mà họ gọi là gây áp lực quốc tế, và những đôi co cù nhầy vô bổ với chính quyền.

Suốt bao nhiêu năm qua, những người tự nhận là trưởng tử Như Lai, mà phản tỉnh là điều kiện tu hành tiên quyết, có bao giờ tự hỏi đã làm được gì ít ra là về phương diện Pháp thí và lợi hành đồng sự, hay chỉ ngồi không ăn của mồ hôi nước mắt mà đàn na tín thí đã dâng cúng để:

1. kiếm tiền xây chùa riêng cho mình, phung phí tiền của Phật tử để mừng thượng thọ vị ngã vị danh,

2. ngây thơ đoàn kết liên tôn với đám tà ma ngoại đạo để nghe họ xúi dại, để tự nguyện chạy theo những kẻ từng giết hại Tăng Ni Phật tử, từng cấm treo cờ Phật giáo, từng chiếm đất chùa làm nhà thờ, từng dẫn Pháp đi giết Thầy Kim Sơn và suýt xử tử Thầy Đôn Hậu, Thầy Thiện Minh, từng đòi Mỹ tiếp tục oanh tạc cho đến khi miền Bắc trở về thời đá cũ.

3. nhắm mắt ký những thông điệp, thông bạch, diễn văn tuyên bố do Võ văn Ái và mấy cậu ấm chính trị thảo sẵn,

4. ngoài việc lâu lâu lại năn nỉ quốc tế gây áp lực cấm vận, hô hào đừng buôn bán với Việt Nam, đừng viện trợ cho Việt Nam, đừng để cho người tỵ nạn gởi tiền gởi quà về Việt Nam.

Dù đau lòng hổ thẹn mà nói những chuyện đó, nhưng khi nào những chuyện đó còn thì chúng tôi sẽ tiếp tục nói. Nói với tinh thần vô cầu, vô tranh, không thù hận. Thấy phải chúng tôi nói phải, thấy trái chúng tôi nói trái, chúng tôi không mưu cầu một ân huệ lợi danh nào đối với những giáo hội này, giáo hội nọ.

Trong ý thức tự giác nhi giác tha, chủ trương một người vì mọi người của Xã Hội chủ nghĩa là một lý tưởng thế trị, không phải là điều đáng sợ mà là điều đáng có, đáng xiển dương. Phật tử tại gia cũng như xuất gia có quyền hợp tác với chính quyền, hay đối lập với chính quyền tùy cơ duyên. Nhưng hợp tác phải cho ra hợp tác, đối lập phải cho ra đối lập.

Lấy tình thương hóa giải hận thù và tăng hận bất cách túc, dù có trách cứ gì chính quyền nữa thì cũng không thể đặt mình vào thế thù nghịch. Chúng tôi không ngạc nhiên khi nghe ngài Quảng Độ trả lời phỏng vấn của Ỷ Lan trên đài Á Châu Tự Do ngày 15/8/2005.

Là một tăng đức trang nghiêm ái ngữ, ngài Quảng Độ đã gọi nguyên văn những người làm phật ý ngài là "loại bây giờ nó không còn chút lương tri, nó gần như con súc vật, mà có thể nói đứng một phương diện nào nó là một con súc vật."

Một-con-súc-vật? Là người Việt bình thường có ai gọi con vật như thế không, nặng lời như thế mà quên rằng 'con súc vật' đó thay vì nhắm mắt cho ngài tự do nói chuyện với nước ngoài để chưởi bới và tố cáo con súc vật đó tướt đoạt tự do của mình như thế, thì con súc vật ấy có thể cho công an vào còng tay nhốt ngài lên lầu Thanh Minh Thiền Viện vì tội công xúc tu sỉ?!

Bi hài hơn nữa là ngài Quảng Độ không biết đã rữa tội trở lại Kitô giáo chưa mà ăn nói giống hệt cố Giáo Hoàng John Paul II. Vị Giáo Hoàng này gọi giáo quyền các tôn giáo cạnh tranh dành dân lấn đất với mình là đồ lang sói, thì ngài Quảng Độ cũng gọi những người ông thù ghét là một-con-súc-vật.

Tăng hận bất cách túc và chánh ngữ như thế thì Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của các ngài đâu cần phải có ma vương qủy sứ nào đến gây pháp nạn? Đáng tiếc là một số bậc cao minh không những không can gián mà còn khen ngài Quảng Độ là 'Đạo Pháp Công Thần'. Công thần này sẽ còn gây pháp nạn cho Phật giáo dài dài, bởi vì HT Quảng Độ là Viện Trưởng Viện Hóa Đạo, và tương lai sẽ là Quyền Đệ Ngũ Tăng Thống khi HT Huyền Quang chuyển nghiệp.

Di chúc mang tên HT Huyền Quang suy cử HT Quảng Độ làm Quyền Đệ Ngũ Tăng Thống hẳn đã nằm sẵn trong túi quần của Võ văn Ái và trong xách tay của Ỷ Lan, cũng như trước đây di chúc mang tên Thầy Đôn Hậu suy cử HT Huyền Quang làm Quyền Đệ Tứ Tăng Thống nằm sẵn trong túi quần của đệ tử Thích Hải Tạng chờ sư phụ chuyển nghiệp là tung ra vậy.

Năm 1963, bằng cuộc vận động cho bình đẳng tôn giáo và bảo vệ tín đồ, Phật giáo bất đắc dĩ tự đặt cho mình một trách nhiệm thế trị nặng nề là góp phần vận động độc lập quốc gia, hòa bình dân tộc và cách mạng xã hội. Độc lập, hòa bình thống nhất đã hiện thực, Phật sự trước mắt là vận dụng tín đồ gánh vác trách nhiệm thế trị như một công dân. Muốn vậy thì ít ra mấy việc sau đây có lẽ cần được chú ý đúng mức:

1. Thanh lý môn hộ, trang nghiêm tăng già. Tạo điều kiện cho lớp trẻ có cơ duyên gánh vác Phật sự. Chuẩn bị cho lớp thanh niên Tăng tự lực mưu sinh để khỏi quá ỷ lại vào đàn na tín thí. Chuẩn bị cho những Tăng Ni nửa đường đứt gánh có nơi nương tựa.

2. Đổi mới phương cách truyền đạt Phật pháp. Hiện đại hóa Phật sự để Phật giáo không hiện thân như cách kinh doanh của một số thầy cúng chuyên làm tiền bằng nghề bán Bạch Y Thần Chú, bói toán và đi show cầu siêu, cầu an, cưới hỏi, khai trương cầu tài.

3. Củng cố và cải tổ sinh hoạt của Gia Đình Phật Tử cho phù hợp với nhu cầu tu học của lớp trẻ hôm nay. Thanh thiếu niên thế kỷ 21 không phải là thanh thiếu niên của thập niên 30 thế kỷ trước. Cứ nhìn một số lãnh tụ của GĐPT hải ngoại lên tiếng ủng hộ Mỹ đánh Iraq, và chống Hồi giáo thì thấy GĐPT sa đọa và lỗi thời như thế nào.

4. Phát triển Khuôn Hội và các Niệm Phật Đường trên căn bản địa phương.

5. Định chế hóa sinh hoạt Phật sự của Ni bộ, cư sĩ và thành phần bán thế xuất gia. Lực lượng cư sĩ hữu tâm hiếu hoạt trong ngót nửa thế kỷ chấn hưng và dấn thân thế trị của Phật giáo, công lao và những hy sinh đứng đầu gió của các tầng lớp Tỳ Kheo Ni trong bất cứ phong trào, chiến dịch nào của Phật giáo là những bài học khó quên. Tránh cái cảnh cần thì nhờ tới, không cần thì lãng quên.

6. Anh hùng mạt vận bán quy Tăng. Có chương trình vận dụng và khuyến khích các cựu quân nhân, các cán bộ công nhân viên đã về hưu tham gia sinh hoạt Phật sự, cố vấn cho các đoàn thể Phật tử, nhất là Phật sự địa phương của các Khuôn Hội, các Niệm Phật Đường.

VỀ CHÍNH QUYỀN

Độc lập hòa bình thống nhất đã trở về với đất nước chẳn 30 năm. Bằng thời gian kháng chiến chống ngoại xâm. Đáng tiếc là hào quang ba mươi năm hy sinh kháng chiến cứu nước thành công, đã bị 10 năm theo chánh sách tiến nhanh tiến mạnh của chủ nghĩa Stalin gây nhiều tỳ vết.

Trừ những ai xem Việt Nam, và riêng Miền Nam, như miền đất hứa của Pháp, của Mỹ hay của Vatican, đàng nào đi nữa thì dân chúng cũng ghi nhận công khó của chế độ đương hành những điểm sau đây: đã chấm dứt chiến tranh, thu hồi độc lập, tái thống nhất đất nước, triệt hạ những độc quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của tầng lớp mại bản kinh tế và gian thương tâm linh.

Tương lai đất nước hoàn toàn tùy thuộc vào tài năng, viễn kiến, thành tâm thiện chí của những thành phần hữu trách.

Chính quyền không thể đổ cho đối kháng đối lập, hay diễn tiến hòa bình theo kế hoạch của các thế lực ngoại bang. Và kiểm điểm nghiêm túc đầu tiên của những người thừa kế sự nghiệp của Chủ Tịch Hồ Chí Minh là nhớ lại tâm nguyện của Chủ Tịch rằng kháng chiến thành công thì sẽ xây dựng một đất nước giàu và đẹp. Đã đến lúc chính quyền cần kiểm điểm nghiêm túc hơn sở trường sở đoản, thành bại trong quá khứ, nhu cầu và đường hướng phát triển trong tương lai.

Nói đến làm dân giàu là nói đến mượn vốn để phát triển. IMF, WB, WTO hay bất cứ một tổ hợp kinh tài nào đều được thành lập để bảo vệ quyền lợi của các nước phát triển. Họ có tiền thì phải cho vay, và khi cho vay là họ biết có thể đòi về được.

Việt Nam dư sức trả nợ, vì Việt Nam may mắn hơn những dân tộc khác là có tài nguyên thiên nhiên tiền rừng, bạc biển, ruộng lúa phì nhiêu, dầu thô khí đốt, than đá, trình độ thất học gần như triệt tiêu, lực lượng lao động trẻ, và cả triệu người đang du học không tốn tiền khắp những nước tiến bộ nhất hôm nay và hàng ngàn chuyên viên trình độ cao cấp đang làm việc tại nước ngoài.

Với tài nguyên dồi dào, lực lượng lao động cơ hữu, chuyên viên cao cấp, miễn là có chánh sách phát triển sáng suốt, việc phát triển đất nước chỉ còn là vấn đề thời gian.

Thay vì xem lực lượng người Việt ở nước ngoài là Việt kiều, chánh phủ cần có chánh sách đối xử không phân biệt với đồng bào Việt Nam như người Việt trong nước.

Lúc không còn sự phân biệt giữa người Việt nước ngoài và người Việt trong nước, chỉ còn là người Việt, kỹ thuật và tư bản từ người Việt ở khắp năm châu chắc chắn sẽ chuyển về Việt Nam trong các dự án phát triển. Nhiều trí thức Việt Nam đã bất mãn vì bị gọi là Việt Kiều và đối xử như Việt kiều, đã ngần ngại về nước sống hay làm việc.

Đẹp không phải là phải xây tháp Eiffel, Vạn Lý Trường Thành, Golden Gate, London Tower, St Peter Square, Red Square, Tokyo Tower hay những khu nhà chọc trời kiểu New York trên một đất nước mà ngôi nhà cao nhất là những lầu hai tầng.

Cái đẹp bắt chước xô bồ, đẹp học lóm vụng về nơi các đô thị Việt Nam hậu chiến đã làm cho có người quên rằng căn cứ địa và an toàn khu của Việt tính là làng xã, và đừng quên rằng đô thị hóa là nguồn của sa đọa, hổn loạn và tội ác mà văn minh công nghệ đã bày ra.

Đẹp là triệt tiêu được, hay thu hẹp được, hố ngăn cách giữa kẻ dư ăn dư để với kẻ thiếu ăn, giữa con vua và con sãi chùa, giữa kẻ học nhiều và kẻ ít học, giữa thành thị và nông thôn, giữa những vùng đất cày lên sõi đá khỉ ho cò gáy với những vùng phồn hoa đô hội. Nên tránh những vết xe đổ của các nước Á Châu đồng hội đồng thuyền, trong khi đất nước phát triển mà vẫn còn hàng triệu phụ nữ bán thân nuôi miệng hay tha phương cầu thực bằng các nghề hạ tiện như làm tôi tớ trong nhà.

Đẹp là thực hiện được một mạng lưới an toàn để đỡ đần cho những người cô quả, tật nguyền, điên loạn, bất hạnh, thiếu may mắn. Phản ứng của chính quyền Pháp trong vụ nóng mùa hè giết cả chục ngàn ông già bà cả cô quả, phản ứng của chính quyền Mỹ khi cuồng phong Katrina đổ ụp xuống đầu những người nghèo bất hạnh cho thấy những lỗ hổng trong mạng lưới an toàn này đã trở thành một điều điếm nhục cho quốc gia như thế nào. Nói thế khác, một mạng lưới an toàn về xã hội cần được thiết lập để hoàn thành lý tưởng chủ nghĩa xã hội: bảo vệ người kém may mắn để xứng hợp với quốc hiệu Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Đừng đổ lỗi thất bại cho kinh tế chỉ huy hay kế hoạch hóa rồi hấp tấp chạy theo kinh tế toàn cầu mà hậu quả ai cũng thấy là đồng bào đồng loại sẽ đối xử với nhau như lang sói.

Tình cảnh của các nước Đông Âu và Nga sau khi bức tường Berlin sụp đổ, tình cảnh Nam Cao Ly, Thái Lan sau lần đồng bạc bị phá giá mấy năm trước đây, tình cảnh các nước Phi châu bệnh hoạn chết đói trên những mỏ dầu, kim cương, cobalt, than đá hay trên những cánh đồng bạt ngàn không trồng lúa, bắp, khoai sắn để ăn mà trồng mía, cà-phê, cocoa, thuốc lá để xuất cảng, tình cảnh của Mỹ sau trận cuồng phong Katrina thổi qua những khu nghèo nàn ở Mississippi, Alabama, Lousiana là những bài học cho những ai nghĩ rằng kinh tế toàn cầu, WTO, IMF, WB là những chiếc đũa thần.

Đừng nôn nóng muốn Việt Nam ba mươi năm chinh chiến ăn cả triệu triệu tấn bom đạn và thuốc khai quang làm sao bắt kịp Singapore hay Hongkong sống nhờ tiền của ngoại quốc và chưa một ngày chinh chiến. Nếu có bài học đáng học thì phải chăng đó là bài học của của Trung Quốc, Mã Lai, Nhật và các nước Bắc Âu về thế nào là giàu và đẹp.

Từng lãnh đạo được toàn dân kháng chiến thắng lợi, há lại không lãnh đạo được đảng viên, đoàn viên, cán bộ công nhân viên, bộ đội biết cần kiệm liêm chính chí công vô tư? Cả nước đang nói chuyện chống tham nhủng, chống hối mại quyền thế. Đó là điều đáng hoan nghênh tiếp sức.

Nhưng tại sao vẫn duy trì những ngày lễ kỷ niệm, ăn mừng, liên hoan, đại hội Đảng, họp Đảng với công quỹ và tiền thuế của dân? Điều đó có đi ngược với nguyện vọng cần kiệm liêm chính chí công vô tư của Chủ Tịch Hồ Chí Minh không?

Thành công kinh tế xã hội nếu không đi đôi thì cũng mở đường cho thành công chính trị. Đã vận dụng và cải tạo được quần chúng yêu nước và trọng pháp há lại không có kế hoạch vận dụng và cải tạo được quần chúng biết thừa hưởng và hành xử quyền tự do dân chủ là những quyền không chỉ bảo vệ người dân bị trị mà bảo vệ cả những người cai trị?

Nói đến dân chủ tự do là nói đến những thành phần đối kháng đối lập.

VỀ NHỮNG THÀNH PHẦN ĐỐI LẬP

Đối kháng là chuyện đùa dai hay mánh mung của những kẻ cuồng tín vọng ngoại, muốn dùng chiêu bài kháng chiến phục quốc để thu hụi chết và trốn thuế. Nhưng đối lập là một diễn tiến tất yếu của một chế độ trưởng thành và tự tin. Xây dựng đối lập là trách nhiệm không chỉ của những kẻ muốn đối lập, mà còn là trách nhiệm của bất cứ ai, kể cả chính quyền, biết đặt nặng vấn đề ổn định chính trị, ổn định xã hội để phát triển và tiến bộ.

Thành công kinh tế của Trung Quốc, Đài Loan, Cuba và thất bại của India, Philippines đã là những bằng chứng phản biện không cần có dân chủ tự do chính trị vẫn tiến bộ ổn định. Cho nên, muốn có dân chủ tự do chính trị, one man one vote, thì trước tiên những thành phần đối lập phải chứng minh được hiệu dụng của tự do dân chủ chính trị.

Điều đó cả ba mươi năm nay, và có thể nói cả nửa thế kỷ nay, những người hôm nay tự nhận là đấu tranh cho tự do dân chủ chính trị đã không dám và không muốn làm. Sinh hoạt tự do dân chủ tiêu biểu là tuyển cử, là Quốc Hội. Nhưng trước đây những người vỗ ngực tự nhận là 'chiến sĩ tự do' đã làm gì khi Ngô đình Diệm đắc cử gian lận với 99% tổng số phiếu? Khi Nguyễn Khánh ban hành Hiến Chương Vũng Tàu, những người này ở đâu? Khi Nguyễn văn Thiệu tìm mọi cách ngăn không cho Dương văn Minh và Nguyễn cao Kỳ ra tranh cử vì vi phạm Điều 4 Hiến Pháp cấm làm lợi cho Công Sản và trung lập thì miệng mồm của họ để đâu? Khi công an cảnh sát ngang nhiên vào Quốc Hội đang họp lôi xềnh xệch Tổng Thư Ký Hạ Viện Trần ngọc Châu ra thì những chiến sĩ tự do dân chủ trốn núp ở đâu? Họ có biết cảnh Dân Biểu Nghị Sĩ sắp hàng nhận những phong thư lì xì của Nguyễn cao Thăng trước mỗi lần bầu phiếu tại Quốc Hội không?

Ba mươi năm từ sau ngày Việt Nam Cộng Hòa bị giải thể, đa số chạy lọt ra ngoại quốc lại hô hào nhân quyền dân chủ tự do để chống Việt Nam, nhưng nhất quyết không để cho đồng hương của họ hưởng tự do dân chủ căn bản ngay ở những quốc gia có truyền thống dân chủ từ mấy trăm năm. Họ cấm đồng hương du lịch về Việt Nam, buôn bán với Việt Nam, gửi tiền về cho bà con bạn bè. Họ cấm không được đọc sách, nghe nhạc, xem tivi từ Việt Nam. Họ cấm đồng hương nói khác họ, nghĩ khác họ, nếu không sẽ bị sách nhiễu, chụp mũ, khủng bố. Vì tự mâu thuẩn lố bịch như thế nên thành công mà họ đạt được là những trò cười, những lặng yên ngao ngán. Hậu quả là mức độ chống đối lần lần xuống thang, từ phục quốc xuống đối kháng, từ đối kháng xuống đối lập, từ đối lập xuống năn nỉ. Cuối cùng họ đã trở thành cái khuôn dấu củ khoai cho chính quyền Việt Nam trong chiến dịch kết thân với Mỹ.

Con dấu củ khoai đó đã được trình diện tại Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ tại Sàigòn ngày quốc khánh Mỹ. Hầu hết bộ mặt đối kháng đối lập chuyên nghiệp lâu nay đã xuất hiện trong buổi lễ ấy. Mấy ông Mỹ con đồng thanh ca bài ca con cá sống vì nước, tôi sống nhờ bàn tay lông lá, dưới quyền nhạc trưởng Lê xuân Khoa mới từ Mỹ về cầm chịch lễ ra quân này.

Lê xuân Khoa là ai? Ông là tay chân của Huỳnh văn Lang, ủy viên kinh tài của Đảng Cần Lao. Được lọt ra ngoại quốc du học trong thời gian có chế độ quân dịch. Khi yên ổn trở về ông được vào Đại Học Văn Khoa Sàigòn dạy triết lý Ấn Độ. Phải, triết lý Ấn Độ! Chuyện Ấn Độ nằm ở đâu là chuyện khác. Mới đây, ông xuất bản quyển Việt Nam 1945-1995 với quan điểm: "thực tế là một cuộc nội chiến vì ý thức hệ và cũng là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa các đại cường mà rốt cuộc là tất cả mọi phe đều thua." Hai bên đều thua, nghĩa là không có kẻ thắng người bại, và do đó cũng không ai lỗi ai phải gì cả. Chính quyền Mỹ và chính quyền Pháp phải long trọng ghi ơn Lê xuân Khoa về lập luận chạy tội cho kẻ xâm lược và tay sai bản địa này. Lê xuân Khoa nghĩ sao về câu của Bùi Giáng trong quyển Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại: Những kẻ "hèn" là những kẻ lập lờ suy tư để lẩn trốn, biện luận lơ mơ để phỉnh phờ, tự gạt gẫm mình và "làm cao" với thiên hạ [tr.656]?

Lê xuân Khoa là MC cho buổi trình diện đối lập tại Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ nhân ngày quốc khánh của Mỹ. Lập luận đại cường ủy nhiệm và không ai thắng không ai bại của Lê xuân Khoa quả đã gây ra một hậu quả tức thì không chối cãi. Đó là cuộc chiến bằng bút mực để tranh thắng bại giữa Hoàng minh Chính, Trần Khuê, Hoàng Tiến và Nguyễn thanh Giang là người từng viết bài "bênh người Mỹ không xâm lược Việt Nam, không có ý đồ đô hộ Việt Nam. Cuộc chiến tranh chống Mỹ chết chóc hàng triệu người là vô nghĩa." Mặt khác, không biết một đồng chí của ông là Hoàng minh Chính có đọc sách của Lê xuân Khoa không, trước khi ông đã được sang Mỹ để nhập bọn với Lê xuân Khoa, Nguyễn chí Thiện và Đoàn viết Hoạt dưới bóng cờ vàng ba sọc đỏ, ngóng chờ phép lạ.

Sự xuất hiện phi thường đúng thời đúng lúc của Lê xuân Khoa có lẽ cũng mở mắt cho người ta về tài chui sâu trèo cao và đón gió của những kẻ đang rấp ranh đào huyệt chôn chế độ. Đây chỉ mới đợt đầu. Còn Đỗ quang Hưng, Phó bá Long, Nguyễn bá Long, Vũ thư Hiên, Ngô công Đức, Hồ ngọc Nhuận, Lê văn Nuôi, Lữ Phương, Lê hiếu Đằng, Nguyễn đăng Trúc, Đỗ mạnh Tri và lực lượng Opus Dei của Hiến Chương Roma 89 và của Tòa Tổng Giám Mục Sàigòn nữa. Chịu khó chờ xem một khi tiến trình thiết lập Tòa Khâm Mạng Tòa Thánh ở Hànội hoàn tất. Vì lẽ, thừa nhận ngoại giao với Vatican là cấp môn bài bạo loạn cho Đạo Quân Thứ 5 công khai quậy nhân danh tự do tôn giáo, nhân quyền, dân chủ dưới hiệu kỳ Thà Mất Nước Không Thà Mất Chúa. Những tấm hình cờ vàng ba sọc đỏ phấp phới sau lưng Giáo Hoàng Benedict XVI tại đại hội thanh niên công giáo thế giới ở Đức vừa rồi là một ví dụ.

Nhai lại quan niệm chiến tranh ủy nhiệm của Lê xuân Khoa, bây giờ nhóm đối lập có môn bài Mỹ lại nói đến một nền dân chủ ủy nhiệm như lời Bác Sĩ Nguyễn đan Quế trả lời đài VOA ngày 26/3/2005: Những áp lực của chính phủ Hoa Kỳ cùng các tổ chức tranh đấu cho nhân quyền đã giúp cho tiến trình dân chủ hóa Việt Nam tiến lên và càng ngày càng mạnh mẽ hơn. Như vậy, nếu không có chính phủ Hoa Kỳ, Quốc Hội Hoa Kỳ, các cơ quan truyền thông đại chúng Hoa Kỳ, The Freedom House, The Kennedy Human Rights Center, Ủy ban Nhân quyền của Hàn lâm viện Hoa Kỳ, Ký giả không biên giới, Amnesty International, Working Group on Arbitrary Prisoners của LHQ... mà Nguyễn đan Quế đã thống thiết ghi ơn thì sẽ không có đối lập mà cũng chẳng có tự do dân chủ?

Đọc lại cái lộ đồ 9 điểm thực hiện dân chủ đa đảng đa nguyên của Nguyễn đan Quế người ta có lẽ phải tự hỏi: Ông đòi có tự do để làm gì? Để đi vào tòa TLS Mỹ mà Yes Sir, uống whiskey, coca cola, chụp hình làm báo cáo à?! Ông đòi có dân chủ để làm gì? Để nói dốc à? Nội dung cương lĩnh của đảng ông là gì? Chương trình hành động nếu ông nắm được chính quyền là gì? Nếu cuộc bầu cử tới chính quyền nhường cho ông 15%, hay 20%, hay 30% các ghế dân cử địa phương và Quốc Hội trung ương thì ông sẽ làm gì? Làm như thế nào? Chương trình tranh cử của ông ra sao? Tranh những ghế nào, ở đâu, người đâu, tiền đâu? Nói đến một Lộ Trình 9 Điểm Đưa VN Tới Dân Chủ Đa Đảng mà không trả lời những câu hỏi đó thì có phải là ba lơn, ba trợn và đùa dai không?

Vì đối lập không phải là giết nhau, loại trừ nhau, nhưng là kiểm soát đốc thúc nhắc nhở phe kia làm những điều mà phe kia không chịu làm, hay làm không tới nơi tới chốn, hoặc chịu làm mà không làm được. Trong tinh thần ấy, có người nghĩ rằng phải chi Nguyễn đan Quế và công ty Đa Đảng đọc lại bài nói chuyện của Lê đăng Doanh và Đặng quốc Bảo với Bộ Chính Trị thì có lẽ ít ra cũng tìm được khối chuyện để mà làm hay đề nghị làm một cách thiết thực cụ thể, thay vì đưa ra lộ trình 9 điểm dẫn về hư vô.

Nhưng chắc Nguyễn đan Quế-Lê xuân Khoa và công ty Đa Đảng không nghĩ như vậy. Bởi đã chủ trương phải có chiến tranh ủy nhiệm thì tại sao lại không có dân chủ ủy nhiệm và đối lập ủy nhiệm? Ai ủy nhiệm? Yên chí! Khỏi lo! Tất cả sẽ do Ơn Trên Phù Hộ cho chúng ta, như Ơn Trên đã phù hộ cho Ngô chí sĩ về chấp chánh năm 1954.

Đó cũng là những lời chân chất chào mừng lượt khách thứ 100.000 của Chuyển Luân Online. Và có thể nói, đó cũng là một phần đề cương của Chuyển Luân.

Chúng tôi không có thành tích để khoe, chúng tôi chỉ có khổ đau lận đận và hạnh nguyện trả nợ đồng bào đồng đạo làm bằng chứng. Như người gieo giống. Có hạt xuống ruộng, có hạt rơi trên đường, bị chim ăn, bị khách bộ hành dẫm nát. Không sao cả. Chúng tôi vẫn tiếp tục trả nợ đời với lòng vô cầu, vô tranh, không thù hận.

TM. Chuyển Luân

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trở về trang trước


Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:

 

Đọc nhiều tuần qua

Gắn tin vào

Home Vài nét về Chuyển Luân