WWW CHUYỂN LUÂN

 
  Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm mới Bính Tuất  Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

 Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
  Online số cũ
  Các số báo cũ
  Weblogs
   
 

Nối Kết:

 

  

Thư pháp

 
 
 

 

  

Thư pháp

 
 
 

  

  

  

 
 
 

Thầy NHẤT HẠNH

(Nguồn trích từ trang nhà Phù sa: Phusa.net)

Bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh tại Học Viện Quốc Gia Chính Trị HCM, Hà Nội ngày 17 tháng 3 năm 2005

Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác đạo Phật.

III. Trao đổi:

1/. Giáo sư -Tiến sĩ Phạm Ngọc Quang hỏi : Chúng ta đang sống trong một thời kỳ mà cuộc cách mạng khoa học công nghệ đang phát triển hết sức mạnh mẽ. Nhận thức của con người về các quá tŕnh tự nhiên và xă hội ngày càng sâu sắc, ngày càng đầy đủ và ngày càng mang tính phổ biến hơn. Vậy trong thời kỳ đó, theo Thiền Sư, niềm tin tôn giáo v́ thế có giảm đi hay không và nếu không th́ v́ sao? Cũng xin ư kiến của Thiền Sư về xu hướng phát triển của tôn giáo khi nhân loại ngày càng bước sâu hơn vào nền văn minh trí tuệ trong tương lai như thế nào?

 

- Thiền sư Thích Nhất Hạnh :

Mê tín hay không mê tín :

Tùy theo cách mà chúng ta thực tập mà sự hành trí đó nó là mê tín hay không mê tín. Trong nhà của chúng ta, ta thường thiết lập bàn thờ tổ tiên vào vị trí trung ương, tại v́ chúng ta muốn tôn vinh tổ tiên, dù cho cái nhà của chúng ta là nhà tranh vách nứa chúng ta cũng tôn trí bàn thờ tổ tiên vào vị trí trung ương. Đó chứng tỏ rằng chúng có niềm tin ở nơi tổ tiên, giai đoạn này rất là quan trọng. Sự kiện thiết lập một bàn thờ tổ tiên trong nhà là một hành động giáo dục rồi. Có thể coi như là một cái ǵ rất khoa học mà không phải mê tín. Nếu ḿnh công nhận rằng cây có cội, nước có nguồn th́ đó là một niềm tin rất khoa học. Có ǵ là mê tín đâu ? và bàn thờ tổ tiên là biểu trưng cho niềm tin đó, là chúng ta có gốc, có nguồn và chúng ta đă tiếp nhận được những giá trị lớn lao từ gốc, từ nguồn chúng ta. Sự có mặt của bàn thờ tổ tiên trong nhà không phải là dấu hiện mê tín ǵ hết. Những người không hề theo đạo Phật, những người cơ đốc giáo, hoặc những người cộng sản cũng có thể làm như vậy. Bởi v́ trong nhà của ḿnh mà có một bàn thờ tổ tiên, điều đó chứng tỏ rằng ḿnh có gốc có nguồn và ḿnh luôn luôn hướng về cội nguồn của ḿnh.

Điều này rất đẹp, đó là văn hoá chứ không phải là tôn giáo, không phải là mê tín. Mỗi ngày ḿnh tới bàn thờ tổ tiên, lấy miếng vải để lau bụi, hay là đốt một cây hương để cắm vào bát hương, hành động đó có người cho là mê tín nhưng mà theo tôi nó rất là khoa học. Tại v́ trong thời gian đốt cây hương kia,  ḿnh có cơ hội tiếp xúc được với tổ tiên ở trong từng tế bào của người ḿnh, nếu chúng ta tin rằng tổ tiên đang ngồi trên bàn và đợi chúng ta đốt một cây hương cho quư ngài th́ đó là mê tín. Nhưng chúng ta biết rằng tổ tiên không ngồi trên bàn thờ, bàn thờ cũng như là một biểu tượng, cũng như là một lá cờ, lá cờ không phải là đất nước, chỉ là biểu tượng thôi. Bàn thờ cũng vậy, trong khi chúng ta đốt một cây hương như thế th́ chúng ta phải sử dụng năng lượng của niệm của định và của tuệ th́  hành động đốt hương đó mới có giá trị, đó là giá trị tâm linh và khoa học. Thầy tôi dạy rằng: mỗi khi con đốt một cây hương, con phải đem hết cả sự thành tâm vào trong việc đốt hương. Làm thế nào trong khi đốt hương có năng lượng của niệm của định của tuệ. Niệm là năng lượng của sự có mặt hoàn toàn của thân và tâm. Khi mà thân và tâm của ḿnh về lại với nhau, ḿnh thật sự có mặt trong giây phút hiện tại th́ đó gọi là năng lượng của niệm. Và khi ḿnh có sự chuyên chú vào hành đng đó mà không suy nghĩ về quá khứ, không suy nghĩ về tương lai, không suy nghĩ về bất cứ một cái ǵ khác nữa th́ đó là năng lượng của định, trong khi mà chúng ta đốt một cây hương, chúng ta làm thế nào đốt cây hương để cái năng lượng của niệm và của định nó có mặt, nghĩa là chúng ta có mặt đích thực trong giây phút hiện tại và ta phải chuyên chú vào việc đốt hương th́ đó là điều kiện để có sự truyền thông với tổ tiên. Có tuệ giác thấy rơ ḿnh là sự tiếp nối rất linh động, rất cụ thể của tổ tiên với tất những thao thức hoài vọng của ông bà. Trong thời gian ta đốt hương và ta cắm cây hương lên bàn thờ th́ ta có niệm và có định, chính cái niệm và định đó giúp ta tiếp xúc được với tổ tiên hiện đang có mặt trong từng tế bào cơ thể chúng ta, theo tôi đó là một hành động rất là khoa học, nó không có cái ǵ mê tín hết. Cũng như khi chúng ta chào một lá cờ. Có mê tín ǵ đâu?  tại v́ cái lá cờ đó tuy nó chỉ là một miếng vải thôi nhưng nó biểu trưng cho đất nước. Nếu nói là thắp cây hương mê tín th́ chào cờ cũng là mê tín. V́ vậy tùy theo nhận thức của chúng ta mà thôi. Như tôi đă nói, tôn giáo có phần hy vọng, có phần cầu nguyện, nhưng mà đạo Phật không phải chỉ là một tôn giáo, đạo Phật là một nền tuệ giác và tuệ giác đó có thể đem lại hạnh phúc cho chúng ta ngay trong giây phút hiện tại.

 

Có hạnh phúc ngay, khi bước chân đi thiền hành :

 

Phương pháp thiền hành mà chúng tôi thực tập mỗi ngày là khi chúng tôi đem tâm về với thân và có mặt thật sự trong giây phút hiện tại th́ chúng tôi tiếp xúc được ngay với bao nhiêu là mầu nhiệm của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại: trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở... Tất cả những cái mầu nhiệm đó nó có mặt trong giây phút hiện tại và ta phải trở về giây phút hiện tại mới có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm đó của sự sống. Và những mầu nhiệm sự sống đó sẽ nuôi dưỡng ta và làm cho chúng ta thấy rằng sự sống là một cái ǵ hết sức là mầu nhiệm. Đi thiền hành là đem tâm thân về với nhau, mỗi bước chân đưa ta trở về với giây phút hiện tại để ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm sự sống trong giây phút hiện tại.  Mỗi bước chân đem lại vững chăi, đem lại thảnh thơi, đem lại hạnh phúc và chúng ta bước như là đang bước ở cơi tịnh độ hay là ở cơi thiên đường. Tôn giáo hay diễn giải rằng  thiên quốc là thiên đường, thiên quốc chỉ nằm ở tương lai và nằm ở chỗ khác. Nhưng mà theo tuệ giác của đạo Phật th́ cơi gọi là tịnh độ, gọi là niết bàn đó, nó có mặt ngay trong giờ phút hiện tại với tất cả những mầu nhiệm của nó. Khi ḿnh đem tâm trở về với thân và ḿnh có mặt đích thực trong giây phút hiện tại th́ ḿnh tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của niết bàn của tịnh độ và mỗi bước chân ḿnh đặt vào trong tịnh độ mà không đặt ra ngoài. V́ vậy Thiền hành nghĩa là thực tập sống hạnh phúc, sống vững chăi, sống thảnh thơi và sống tự do trong giây phút hiện tại. Tại v́ phần lớn chúng ta đều tin rằng hạnh phúc chỉ có thể có được trong tương lai, v́ vậy ai cũng đi bương bă t́m hạnh phúc trong tương lai, chúng ta nghĩ rằng những điều kiện hạnh phúc nó chưa có đủ, chúng ta cần một vài điều kiện nữa, và những điều kiện đó chúng ta phải đi t́m ở tương lai. V́ vậy hầu hết chúng ta đều hy sinh giây phút hiện tại để đi t́m hạnh phúc trong tương lai. Đó là lầm lỗi căn bản theo Đức Phật. Đức Phật nói rằng chúng ta có thể sống  hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Đó gọi là hiện pháp lạc trú.

 

Hiện pháp lạc trú:  

Hiện pháp tức là giây phút hiện tại, lạc trú là sống hạnh phúc với điều kiện là ta có thể đem tâm trở về với thân và có mặt thật sự trong giây phút hiện tại, và khi đó ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Ta sẽ thấy rằng những điều kiện hạnh phúc ta đang có dư sức để có thể  có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Ví dụ như qúy vị thực tập thế này: Thở vào tôi có đôi mắt sáng, thở ra tôi mỉm cười v́ hai con mắt sáng của tôi, hai con mắt sáng là điều kiện rất lớn của hạnh phúc v́ chỉ cần mở mắt ra là ta thấy trời xanh mây trắng, thấy rơ cái khuôn mặt dễ thương của đứa con ḿnh. Tôi cũng có thể ư thức là ḿnh đang có một trái tim c̣n tốt đang hoạt động b́nh thường. Bởi v́ có những người có trái tim không b́nh thường và họ mong ước là họ có trái tim b́nh thường như chúng ta. Chúng ta có rất nhiều về điều kiện của hạnh phúc nhưng chúng ta luôn quên. Chỉ khi nào chúng ta trở về với giây phút hiện tại, ư thức được những điều kiện may mắn  đó th́ chúng ta hạnh phúc liền lập tức, chúng ta không cần đi t́m cầu những điều kiện khác của hạnh phúc. 

Tôi xin đề nghị : Quư vị lấy một tờ giấy, và viết xuống những điều kiện may mắn mà quư đang có, quư vị thử xem, thử  viết xuống xem được bao nhiêu điều kiện mà quư vị đang có, quư vị sẽ ngạc nhiên thấy rằng hai trang giấy không đủ để quư vị ghi xuống những điều kiện hạnh phúc mà quư vị đang có! Có thể phải cần thêm bốn trang hay sáu trang nữa.! Và v́ vậy phương pháp của Đức Phật rất là nhiệm mầu : đừng có đi t́m hạnh phúc ở tương lai, cũng đừng có bị kẹt vào các kỷ niệm quá khứ, đừng nuối tiếc quá khứ, đừng tưởng tới tương lai, quá khứ th́ không c̣n, tương lai th́ chưa tới... và đó là lời của Đức Thế Tôn. Người thức giả trở về giây phút hiện tại, tập nh́n sâu hơn trong  hiện tại để thấy có quá nhiều điều kiện hạnh phúc trong tầm tay và ḿnh có thể có hạnh phúc được liền bây giờ. Niết bàn cũng như tịnh độ ḿnh có thể tiếp xúc được ngay trong giây phúc hiện tại, tại sao phải đợi chờ nữa?  Hầu hết chúng ta đều nghĩ một cách rất mê tín là trong giây phút hiện tại chúng ta chưa hạnh phúc được. Hạnh phúc là phải đi kiếm ở tương lai một vài điều kiện nữa cho nên chúng ta hy sinh cái giây phút hiện tại. Nhưng  mà theo tuệ giác của đức Thế Tôn th́ sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại thôi. Quá khứ đă không c̣n, tương lai th́ chưa tới,  muốn gặp mặt sự sống th́ phải quay về với giây phút hiện tại. V́ vậy cho nên một hơi thở có ư thức, một bước chân có ư thức giúp cho chúng ta đem tâm trở về với thân và có mặt thuần túy, có mặt đích thực trong giây phút hiện tại. Đó là sự thật đầu tiên của những người giác ngộ mà tất cả quư vị đều có thể làm được điều đó. Cho nên, không có tuệ giác th́ có thể cho đó là mê tín, có tuệ giác th́ cho đó là một sự thật rất là khoa học. Chúng ta đừng để cho h́nh tướng bên ngoài đánh lừa. Trong Kinh Kim Cương có nói rằng: ’’chỗ nào có h́nh tướng là chỗ đó có sự đánh lừa’’. Chỉ có tuệ giác mới giúp chúng ta được tự do và giúp chúng ta không bị đánh lừa bởi h́nh tướng mà thôi. Nhà bác học Einstein có nói rằng: ‘’nếu có một tôn giáo nó có thể đi đôi được với khoa học, tôn giáo đó là Phật giáo’’ Chúng tôi thấy rằng là khi chúng ta học khoa học cho đến nơi đến chốn, chúng ta có thể hiểu Phật giáo sâu sắc hơn.  

 

Một là tất cả, tất cả là một:  

Ví dụ như khi  đọc Kinh Hoa Nghiêm, th́ quư vị sẽ thấy quan điểm một là tất cả, tất cả là một, nhất tức nhất thiết, nhất thiết tất nhất. Bây giờ chúng ta nh́n vào khoa sinh vật học chúng ta thấy như thế nào, khoa học bây giờ nó có khả năng lấy một tế bào trong cơ thể và làm ra một cái cơ thể khác y hệt như tế bào cha cái đó gọi là cloning, trong cơ thể chúng ta có hai loại tế bào : tế bào mầm và tế bào sinh dưỡng. Chúng ta lấy bất cứ một tế bào sinh dưỡng nào, chúng ta bỏ đói nó chừng hai, ba ngày, nó sẽ trở thành một tế bào mầm và khi đó chúng ta lấy trứng ở trong một tế bào buồng trứng của một phụ nữ, chúng ta nạo hết cái nội dung ra, chúng ta chỉ cần cái vỏ thôi, chúng ta đặt cái tế bào mầm này vào trong và chúng ta cho một luồng điện đi ngang qua th́ nó khép lại chúng ta gửi cái đó vào trong tử cung của một người phụ nữ để nuôi th́ sau đó chín tháng đứa con được sinh ra, nó là một bản sao y hệt của tế bào cha, tế bào của người mà từ đó chúng ta lấy tế bào sinh dưỡng đó. Sinh săn như thế gọi là sinh săn theo ḍng vô tính. Nếu chúng ta lấy ra một ngàn tế bào th́ chúng ta có thể làm ra một ngàn đứa bé, gia tài di truyền đó nó đồng nhất với gia tài của người gốc. Tại sao vậy, chúng ta thấy rất rơ mỗi tế bào của cơ thể nó chứa đựng tất cả những tế bào khác, chỉ cần một tế bào thôi bất cứ là tế bào trong cơ thể mà chúng ta có thể làm một con người toàn vẹn. Thế th́ điều đó chứng minh cái chi ?  Nó chứng minh cái một chứa đựng tất cả và chúng ta đă từng nghe rằng : mỗi tế bào của chúng ta chứa đựng tất cả những giữ kiện, tất cả những gia sản di truyền của tất cả các thế hệ cha ông của chúng ta, nếu chúng ta có một máy đọc tinh vi th́ chúng ta có thể có đủ những giữ kiện về các thế hệ của tổ tiên chúng ta, tất cả những giữ kiện đó chỉ cần nh́n trong một tế bào là có đủ. V́ vậy cho nên giáo lư gọi cái một chứa đựng tất cả, nó đă được khoa học hiện giờ chứng minh xác định được, cho nên tôn giáo không có nghĩa là cái ǵ chống phản lại với khoa học.  

 

Thiên quốc hay cơi tịnh độ và hạnh phúc trong phút giây hiện tại:  

Tôi đă từng giảng trong những đại hội của người cơ đốc giáo và tôi đă khuyến cáo, đă khuyên những nhà thần học nên hiện đại hóa cách giảng dạy và cách thực tập. Tôi nói rằng : cái mà quư vị gọi là thiên quốc, nó có thể có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Đó là tôi căn cứ trên truyền thống đạo Phật mà nói, như cái mầu nhiệm của sự sống chúng ta có thể tiếp xúc được trong giây phút hiện tại. Và tôi có nói rằng : nếu anh muốn không cần phải chết đi mới đi vào thiên quốc được, th́ với năng lượng của niệm và của định th́ khi bước một bước anh có thể đi vào trong thiên quốc ngay trong giây phút hiện tại để tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Và những nhà lănh đạo cơ đốc giáo nếu  muốn cho những người thanh niên, những người trẻ không c̣n bỏ nhà thờ đi như họ đă và đang làm bây giờ th́ phải cung cấp giáo lư, loại thực tập nào mà giúp cho người đương thời có thể thực tập để hạnh phúc được liền. Khi mà quư vị cung cấp được cái thiên quốc cho người ta ngay bây giờ và ở đây, thanh niên họ mới không đi t́m hạnh phúc ở cái chiều hướng của ma tuư, của danh lợi, của quyền hành, của sắc dục. Nếu không th́ họ chỉ có thể chạy về hướng đó mà thôi.  

Ở trong thánh kinh có nói về một câu chuyện của một người nông dân khám phá ra được một kho tàng trong một thửa ruộng, sau đó anh về bán hết tất cả mọi thứ khác của ḿnh để mua cho được thửa ruộng đó, tại v́ anh thấy  thửa ruộng đó quư giá nhất. Th́ ở đây cũng vậy, khi mà ḿnh khám phá ra sự sống với tất cả những mầu nhiệm của nó, khi mà ḿnh khám phá ra tịnh độ và  niết bàn là những ǵ có mặt ngay trong phút hiện tại. Ḿnh cảm thấy có quá nhiều hạnh phúc và ḿnh có thể buông bỏ tất cả những cái khác trong đó có : thù hận, danh vọng, sắc dục và uy quyền nữa. Nếu mà chúng ta có thể cung cấp được những pháp môn thực tập giúp cho con người sống được hạnh phúc trong giây phút hiện tại để nuôi dưỡng thân tâm, để có cơ hội luyện thêm định lực hầu có thêm hiểu biết và t́nh thương th́ hạnh phúc đó lớn lắm. Những niềm hạnh phúc lớn ấy mới giúp ḿnh buông bỏ được tnhững đối tượng của tham đắm, của quyền hành và của dục vọng. Và có những vị lănh đạo của Cơ Đốc giáo họ thấy giá trị của sự thực tập đó và họ đă đi theo. Tôi nghĩ rằng là nó tùy thuộc theo cách ḿnh thấy mà thôi. Cũng một sự kiện đó nếu ḿnh nh́n cạn th́ thấy đó là tôn giáo là mê tín, nhưng nếu ḿnh có được một nhận thức sâu sắc hơn nhờ có tuệ giác th́ ḿnh biết đó là một thực tại rất hiện thực và khoa học.

 

Thờ ông địa là mê tín hay khoa học ?

Cũng như là khi tôi nói với những người tây phương về bàn thờ ông địa. Ở Việt Nam mỗi khi chúng ta đến đất mới chúng ta phải cúng đất đai, tôi giải thích cho các bạn Tây phương rằng trong văn hoá Việt Nam  khi chúng tôi đến một vùng đất mới, chúng tôi phải chứng tỏ sự cung kính của ḿnh, chứng tỏ muốn làm hoà b́nh với vùng đất đó và v́ vậy cho nên chúng tôi thiết lập bàn thờ ông địa. Đó là một sự cam kết rằng ḿnh sẽ sống như thế nào để tôn trọng, để bảo tồn được đất và nước ở vùng đó. Cái bàn thờ ông địa này không phải là mê tín, đó là một  hành động cam kết sẽ tôn trọng sinh môi vùng này, sẽ không để cho vùng này bị ô nhiễm, bị phá hoại. Người Tây phương và thế hệ trẻ ngày nay  họ chấp nhận một cách rất trân quư việc thiết lập bàn thờ ông địa. V́ vậy cho nên ban đầu quư vị có thể nói rằng thờ ông địa là một hành động mê tín nhưng nếu chúng ta chuyển hướng nhận thức của chúng ta th́ thờ ông địa là một hành động rất hiện đại, là một lối sống rất đẹp đẽ và rất ư nghĩa. Tại v́ ông địa là ǵ?  là sự có mặt của tinh thần trách nhiệm, là sự tôn trọng sinh môi hoàn cảnh  mà chúng ta đang sống. Đời nay, phần đông chúng ta đang đi ngược lại lối sống đẹp đẽ đó, chúng ta đang phá hoại môi sinh của chúng ta, đang làm ô nhiễm  môi sinh của chúng ta và như vậy chúng ta đang không có thờ ông địa. Thờ ông địa là phải  kính trọng  đất nước và hoàn cảnh trong đó ḿnh sống. Ḿnh phá rừng, ḿnh làm cho ô nhiễm sông hồ tức là ḿnh không có niềm kính trọng đó. Tổ tiên chúng ta thiết lập bàn thờ ông địa nghĩa là tổ tiên chúng ta đă có ư muốn tôn trọng sinh môi, muốn giữ ǵn vùng đất, nước và những khu rừng này. Thành ra tùy theo cách ḿnh nh́n mà cái đó là cái ǵ rất là mê tín hay là cái đó là cái ǵ rất là khoa học, tất cả đều do cái tâm của ḿnh, tất cả đều do cái nhận thức của ḿnh hết.

 

2/. Giáo sư Tiến Sĩ Ngô Thảo hỏi: Khi mà nói đến đạo Phật là nói đến sự giác ngộ, đến tuệ giác, đến trí tuệ. Điều ấy có nghĩa là đạo Phật không chấp nhận những vấn đề mê tín dị đoan. Vậy th́ theo Thiền Sư hiện nay chúng ta có cách nào tốt nhất để khắc phục cái hiện tượng mê tín dị đoan trong chùa, trong lễ hội và kể cả trong thờ cúng tổ tiên. 

- Thiền sư Thích Nhất Hạnh :  Khi đi vào chùa, thấy tượng Phật ḿnh thắp hương, ḿnh vái ḿnh xá đức Phật đó th́ nó cũng có thể là mê tín rồi, tại v́ theo tuệ giác của đạo Phật th́ Phật tức là khả năng hiểu và thương, đại từ đại trí đại bi nó nằm ở trong mỗi con người, c̣n cái tượng kia nó đâu phải là Phật, nó chỉ là một cái biểu tượng thôi, một cái ǵ bằng đồng thôi. Thường th́ những người mới bắt đầu thực tập th́ hay nghĩ rằng Phật ở ngoài ḿnh nhưng nếu thực tập cho giỏi, có người hướng dẫn đàng hoàn, th́ trong một thời gian ngắn người đó sẽ thấy rằng Phật nằm ở trong tâm, nhưng mà luôn luôn phải bắt đầu bằng cái chỗ bắt đầu. Ban đầu thấy Phật ở ngoài, ở trên bàn thờ, rồi sau đó mới thấy Phật ở trong tâm. Th́ đối với những người kia với những hiện tượng kia cũng vậy.

 

Giáo dục quần chúng cho khéo, từ chỗ thấp lên cao:  

Chúng ta biết rằng khi mà chúng ta có bàn thờ tổ tiên chúng ta phải thắp hương và thắp hương như vậy không có nghĩa là tổ tiên ngồi trên bàn thờ và khi chúng ta thắp hương như vậy chúng ta có cơ hội tiếp xúc với tổ tiên ở trong từng tế bào của cơ thể, nó có thể là rất khoa học, nhưng mà người ta nh́n vào có thể coi thấy đó như là mê tín. Chúng ta biết rằng theo truyền thống văn hóa chúng ta, tổ tiên chúng ta có quyền biết được những cái ǵ đang xẩy ra cho con cháu. Khi mà chúng ta gả con gái cho một anh chàng ở bên làng bên th́ chúng ta phải cáo với tổ tiên, chúng ta phải làm mâm cúng hoặc là trái cây hoặc là cái ǵ đó, chúng ta phải thắp hương và chúng ta nói : xin cáo với tổ tiên là chúng con mới vừa  hứa gă con gái cho cái anh chàng ở bên làng đó. Theo truyền thống th́ tổ tiên phải được biết điều đó, nhưng mà khi chúng ta khấn như vậy tức là chúng ta nói với tổ tiên ở trong tế bào cơ thể của chúng ta chứ không phải tổ tiên đang ngồi trên bàn thờ như là một thực tại ở ngoài. Ở ngoài hay trong là tùy theo tŕnh độ, tùy cái tuệ giác của từng người mà thôi. Có những người họ chưa đạt tới cái thấy như vậy và chúng ta phải t́m cách để đưa họ từ từ, từ chỗ thấp đến chỗ cao, chứ đừng có vội nói với họ cái đó là mê tín, nên bỏ.  

 

Đừng đánh mất giá trị của niềm tiếc thương:  

Ví dụ như tục đốt vàng mă, đốt áo quần bằng giấy cho người chết. Chúng ta có thể nói đó là mê tín, tại v́ làm thế nào có thể đốt cái áo đó để gửi xuống một cơi khác để người mặc được? Nhưng chúng ta nên tập nh́n sâu để thấy giá trị văn hóa ở trong hành động đó. Chúng ta chào lá cờ đâu phải chào miếng vải kia, chúng ta đang chào hồn thiêng đất nước. Chúng ta phải thấy rằng cái niềm thương của ḿnh, niềm tiếc thương của ḿnh đối với người chết, đối với người đă khuất nó khiến ḿnh biểu lộ cái t́nh thương dưới những h́nh thức này hay h́nh thức kia trong đó có h́nh thức cúng tiền giấy và cúng áo quần giấy. Tôi có viết một đoạn văn là ‘’Bông hồng cài áo’’, nói về t́nh mẹ t́nh cha. Tôi nói với những người trẻ rằng : đến ngày rằm tháng Bảy, thay v́ cúng lễ đốt vàng mă gửi cho cha mẹ đă khuất  th́ ḿnh có thể in cái tập này ra, ḿnh có thể tổ chức những buỗi lễ bông hồng cài áo.  

Những buỗi  lễ bông hồng cài áo của chúng tôi tổ chức như thế này : những người nào mà c̣n mẹ th́ trong buỗi lễ sẽ được cài bông hoa màu hồng, c̣n những người nào mất mẹ th́ sẽ được cài một bông hoa màu trắng. Khi ḿnh được cài một bông hoa màu hồng th́ ḿnh rất  hănh diện v́ ḿnh c̣n có mẹ đang sống và cái hạnh phúc của ḿnh lớn thêm lên nhờ ư thức qua buỗi lễ kia. C̣n khi mà ḿnh được cài một bông hoa màu trắng th́ ḿnh ư thức rằng tuy mẹ của ḿnh đă mất rồi  nhưng ḿnh có cơ hội để tưởng nhớ mẹ. Buổi lễ đó gọi là lễ bông hồng cài áo - phát xuất từ một đoản văn của chúng tôi viết năm 1962 - đă thành ra một truyền thống rồi.  Hiện bây giờ các nước nhất là ở Việt Nam, trong nhiều thành phố, những người trẻ, người trí thức đang thực tập tưởng nhờ cha mẹ bằng buổi lễ bông hồng cài áo đó. Họ tổ chức rất cảm động và đă làm cho nhiều người con giựt ḿnh tỉnh dậy về t́nh mẹ t́nh cha và sau đó đă thương cha mẹ nhiều hơn. Thực tập như vậy chúng ta có một h́nh thái, một h́nh thức biểu lộ t́nh thương của chúng ta, nó hiện đại hơn, nhờ thế chúng ta khỏi phải cần đi mua giấy tiền hay vàng bạc. Đốt vàng mă hay làm lễ bông hồng cài áo, cả hai cái điều đó có cái giá trị văn hóa thâm sâu là tưởng nhớ đến người thương. Có phải như vậy không ? một bên tổ chức cái lễ rất là trẻ rất là văn minh sâu sắc, c̣n bên kia là phải đi mua giấy vàng bạc, mướn người làm áo quần bằng giấy để đốt. Chúng ta phải nhớ rằng cả hai đều có giá trị văn hóa hết : đó là t́nh thương tưởng đến người đă chết. Nếu mà chúng ta chưa t́m ra được những phương thức khác làm biểu lộ được thứ t́nh cảm đó th́ chúng ta chớ vội chấm dứt cái kia. Khi mà tổ chức được lễ bông hồng cài áo rồi th́ chúng ta có thể khuyên rằng thay v́ đốt tiền giấy với vàng mă th́ chúng ta làm cái lễ này. Nhưng các bạn nên nhớ khi chúng ta chưa cống hiến được cho họ những phương cách có thể biểu lộ thứ t́nh cảm tốt đẹp đó th́ chúng ta đừng có chấm dứt những cái kia. Chính những cái kia tuy bề ngoài nó là mê tín đó nhưng nó nuôi dưỡng được t́nh nghĩa, nó có giá trị văn hóa thâm sâu ở trong đó, chúng ta phải rất cẩn thận mới được. Nếu chúng ta chấm dứt truyền thống ân nghĩa của chúng ta đó là một thiệt tḥi lớn cho văn hóa Việt. V́ vậy cho nên chúng ta phải rất cẩn thận. Do đó chúng tôi nói đến phải giáo dục quần chúng cho khéo, chúng ta phải giúp cho người ta đi từ chỗ thấp đi lên chỗ cao từ từ.

 

Cái nh́n vô tướng:

Nhân đây tôi xin nói một câu chuyện vui là, trong thiền học có câu như thế này : Trước khi tôi tu thiền th́ tôi thấy núi là núi, sông là sông và trong khi tôi tu thiền th́ tôi thấy núi không là núi nữa, sông không là sông nữa và sau khi tôi tu đă tạm chín rồi th́ tôi lại thấy núi lại là núi, sông lại là sông. Câu đó nó rất là ngộ nghĩnh, nó là biện chứng pháp của Phật học, của thiền học là tại v́ sao ?  Khi ḿnh nh́n vào đứa con và ḿnh nói đây là đứa con tức là ḿnh chưa thấy được đứa con. Nếu mà ḿnh nh́n vào đứa con ḿnh thấy người cha trong đứa con lúc đó ḿnh bắt đầu thấy được đứa con. Cũng như là khi mà ḿnh nh́n vào đám mây mà ḿnh chỉ thấy mây là đám mây thôi th́ chưa chắc ḿnh đă thấy được đám mây, nh́n vào đám mây phải thấy được nước sông, nước hồ và sức nóng của mặt trời th́ mới là bắt đầu thấy được đám mây sâu sắc hơn. Nh́n vào đám mây mà thấy được cơn mưa th́ lúc đó ḿnh mới thấy được đám mây sâu sắc hơn và v́ vậy cho nên ḿnh đă nh́n đám mây bằng con mắt vô tướng. Ở trong Kinh Kim Cương có những câu mà ḿnh không thể hiểu được nếu mà ḿnh không có đặt câu đó dưới ánh sáng của biển chứng pháp Phật giáo : Cái mà tôi gọi là vị Bồ Tát đó không phải là vị Bồ Tát nhưng đó mới thật sự là một vị Bồ Tát. Khi mà ḿnh nh́n vào sông mà thấy núi ở trong đó th́ ḿnh mới thấy sông một cách đích thực ; khi mà ḿnh nh́n vào núi mà thấy sông ở trong núi th́ lúc đó ḿnh mới thấy núi một cách đích thực, khi mà ḿnh nh́n vào đứa con mà thấy người cha trong đó, th́ lúc đó ḿnh mới thấy dứa con  được rơ ràng, lúc đó ḿnh mới thấy được cái tự tính của đứa con. Khi nh́n vào kẻ thù mà thấy được người bạn  - một người bạn tương lai - tại v́ trong kẻ thù đó có hạt giống của người bạn và để ḿnh có thể tưới tẩm hạt giống người bạn ở trong người kẻ thù kia, th́ kẻ thù kia sẽ tan biến để ḿnh có một người bạn,  việc làm này rất là mầu nhiệm. Một đứa con hư mà ḿnh chỉ thấy cái hư của nó thôi  th́ rất uổng cho ḿnh v́ ḿnh sẽ mất con. Nhưng nếu biết rằng tuy hư thế nhưng nó cũng có hạt giống tốt của một người con tốt, ḿnh biết cách tưới tẩm hạt giống tốt trong nó th́ từ một đứa con hư sẽ trở thành một đứa con rất là tốt. V́ vậy cho nên nguyên tắc đồng nhất là sự trở ngại rất lớn cho nhận thức của chúng ta. Cũng như là khi chúng ta đưa ra một nhận xét th́ nhận xét đó có thể gọi là chính đề và nếu chúng ta nh́n cho kỹ th́ có sự mâu thuẫn trong chính đề đó tức là phản đề. Và chính cái phản đề đó nó giúp cho chúng ta thấy chính đề rơ ràng hơn trong h́nh thái tổng hợp đề đó, và cứ như vậy chúng ta càng thấy được sâu trong cái bản chất của sự thật và mâu thuẫn đó nó dẫn đạo sự đi tới. Trong cái ta có thể thấy được cái phi ta và v́ vậy cho nên chúng ta thấy được chiều sâu của cái ta, chúng ta không có bị kẹt vào cái tướng. Và con mắt vô tướng là như vậy.

 

3/. Phát biểu của Giáo Sư Phạm Như Cương, thành viên Hội Đồng Tư Vấn Ủy Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam :

Tôi là Phạm Như Cương  tôi nghiên cứu về triết học nói chung, và đặc biệt về triết học Marxism. Hôm nay sau lúc nghe Thiền Sư  tŕnh bày một số vấn đề, tôi rất là thú vị và tôi mong ước : Ở trong cái xă hội Việt Nam chúng ta, làm sao cho những vấn đề thuộc về mặt thế giới quan, nhân sinh quan... đấy, chúng ta có thể thiết lập được một sự đối thoại thoải mái, b́nh đẳng, tin cậy nhau giữa những người Marxists và những người có niềm tin tôn giáo ví dụ  như  là Phật Giáo - tôi tạm nói thế - bởi v́ Thiền Sư cũng thừa nhận rằng trong Phật Giáo cũng có cái phần tôn giáo trong ấy nhưng mà đồng thời tôi cũng rất đồng ư với Thiền Sư  là trong Phật Giáo nói về mặt triết lư nói về mặt nhân sinh nó có rất nhiều nhận thức sâu sắc mà như hôm nay Thiền Sư đă tŕnh bày. Tôi thấy cần tạo điều kiện để tổ chức những cuộc đối thoại như hôm nay bởi v́ chính Thiền Sư trong lúc tŕnh bày cũng không phải chỉ nói đơn thuần về những điều trong Phật Giáo - mà Thiền Sư cũng đă vận dụng kể cả những kiến thức văn hóa Tây phương ví dụ như  Thiền sư nói đến những là Lavoisier, Descartes và nói đến những thành tựu rất mới, rất hiện đại của sự phát triển khoa học hiện nay. Có điều thú vị là nhiều môn khoa học hiện nay chứng minh rằng những cái thấy của thời xưa dầu là ở một cái thời đại nó rất là xa xưa, những cái thấy  đó xưa nay ḿnh thấy rất lư thuyết. Nhưng lạ thay với khoa học thực tiển mà chúng ta đang sống, chính nó đă chứng minh cho chúng ta thấy rằng chúng ta không thể xem thường những cái giá trị đă định hướng cho sự nhận thức những  lư thuyết xa xưa.

 

Người Marxists đă từng có lúc hiểu rất sai về tôn giáo:  

Hiện nay, tôi cũng vẫn tiếp tục giữ cái niềm tin mác xít của ḿnh và theo tôi nghiên cứu về chúng trong cái lịch sử phát triển của học thuyết Marx th́ không phải lúc nào Marx cũng đúng, không phải là không có những cái sai lầm - V́ vậy mà bây giờ tuy tôi giữ rất vững niềm tin Marxism của tôi,  tôi vẫn nói, chúng tôi, những người Marxists Việt- là theo thời đại mới này và theo cái quan điểm của Đảng Cộng Sản Việt Nam  th́  những người Marxists Việt Nam đang làm một cuộc nhận thức lại, một cuộc đổi mới trong đó có phần đổi mới tư duy của ḿnh. Trong cái đổi mới tư duy đó, có phần đổi mới tư duy về vấn đề tôn giáo. Bởi v́  - tôi nói một cách thẳng thắng -  những người Marxists đă từng có lúc hiểu rất sai về tôn giáo và v́ thế mà người Marxists  - vốn vẫn tự cho ḿnh là chủ nghĩa vô thần -  chiến đấu một cách sai lầm chống tôn giáo. Và những điều đó đă đưa đến hậu quả không phải là ít đâu. Chúng tôi phải công khai thừa nhận cũng như bây giờ nói với các tôn giáo  - chúng tôi không c̣n nói nó có nhiều mặt tiêu cực, mặt vô bổ. Chúng tôi phải nói, nó có những mặt tích cực, có giá trị quư báu -  mà trong đó ví dụ như những cái mà hôm nay Thiền Sư tŕnh bày. Thiền sư nói nhiều về cái tuệ giác là cái  - tôi nghĩ -  nhận thức quư báu về văn hóa và về đạo đức.  Th́ đường lối của Đảng Cộng Sản Việt Nam bây giờ đă khẳng định những cái giá trị ấy về tôn giáo và muốn làm sao xây dựng cái nền văn hóa Việt Nam mới  trong đó nó phải bao gồm tất cả những yếu tố tinh hoa tích cực trong bất cứ những cái trào lưu tư tưởng hay lư thuyết nào đă từng có trong lịch sử. Đó là một điều  - cho nên tôi rất thú vị như thế này, và tôi mong rằng rồi - có nhiều cuộc đối thoại như thế nầy trên tinh thần cởi mở như hôm nay, tin cậy thẳng thắng như hôm nay v́ sự nghiệp của đất nước và v́ hạnh phúc dân tộc của chúng ta. Điều đó nếu được hiểu biết đúng đắn, cởi mở và khoan dung. Khoan dung tôi hiểu theo nghĩa không phải là ai đấy đứng bên trên, và nói là tôi khoan dung với anh đâu !  Khoan dung đây tức là tôn trọng nhau, b́nh đẳng lắng nghe nhau,  để có thể nói chuyện được với nhau. Nếu được như vậy th́ rất bổ ích.

 

Sức mạnh của tinh thần:  

Và điều thứ hai tôi cũng muốn nêu với Thiền Sư như thế nầy,  bởi v́ chúng ta bây giờ là đang tọa đàm,  tôi thấy nói về tuệ giác như Thiền Sư nói đó th́ chủ yếu là nói những vấn đề nhận thức  về cái tâm của ḿnh. Các cái đó th́ cực kỳ quan trọng, cái sức mạnh ấy ghê gớm lắm. Nhưng vốn là một người Marxism th́ tôi thấy như thế nầy  - có thể nếu nói như Thiền Sư -  có phải là ta đang tuyệt đối hóa vai tṛ của nội tâm và vai tṛ của tu dưỡng sức mạnh bên trong của ḿnh chăng ? Theo người Marxists và theo kinh nghiệm của tôi th́ tôi thấy như thế này : cái sức mạnh tâm linh, cái sức mạnh của tinh thần là sức mạnh có một giá trị không thể tưởng tượng được không lường được, có thể nói chúng ta đánh thắng Pháp, thắng Mỹ - là nhờ cái sức mạnh tinh thần ấy. Ta không thể nói chủ yếu là từ yếu tố vật chất. Đành rằng vật chất cũng phải có nhưng mà sức mạnh tinh thần là cái sức mạnh đầu tiên mà đó là cái sức mạnh vô địch của dân tộc chúng ta,  nhưng mà mặc khác th́ tôi nghĩ như thế này cũng không thể chỉ tuyệt đối hóa cái yếu tố ấy. Chúng ta phải nhận thức cái nội tâm của chúng ta nhưng mà chúng ta cũng phải nhận thức cái thế giới bên ngoài. Cho nên vấn đề mà ta gọi nôm na như thế này, vấn đề trời và đất, vấn đề đạo và đời, vấn đề là bản thân chúng ta và hoàn cảnh khách quan,  những chuyện đó là những chuyện nó cần một cái quan điểm như thế nào cho nó toàn diện và tổng thể hơn. Mà thực ra quan niệm tổng thể như vậy th́ trong cách tŕnh bầy của Thiền Sư về tuệ giác nó cũng bao gồm chuyện đó. Có thể nói là Thiền Sư đă nói về có và không ví dụ như Thiền Sư nói trong con có cha mẹ cái đó nó cũng phù hợp với cái ở bên Marxism gọi là phép biện chứng. Phép biện chứng nói đến sự bất tận không bao giờ có sự bắt đầu, không bao giờ có cái chỗ kết thúc. Nhưng mà đồng thời tôi muốn nói đến cái sức mạnh tâm linh. Trước đây, tôi là một người Marxit, chỉ nói đến duy tâm duy vật một cách rất là thô thiển. Nhưng mà bây giờ tôi nói thế này, tôi là một người Marxit vẫn khẳng định giải quyết cái vấn đề cơ bản là vấn đề duy tâm và duy vật, nhưng đồng thời tôi là một người Marxit thừa nhận có cái thế giới tâm linh. Thế giới tâm linh có cái giá trị cao đẹp của nó và nó hiện diện tự nhiên ở trong từng con người. Đó là những cái mà trước đây những người Marxit theo cái quan điểm thô thiển, đă từng xem thường nó, đă từng có cái thấy lệch lạc về nó. Nhưng mà tôi muốn gợi ư với Thiền Sư như thế này :  nói đến cái tuệ giác, nói đến thế giới bên trong và ṭan thiện, cái thế giới của chúng ta, nói đến vai tṛ của giáo dục nhưng mà đồng thời, theo tôi nghĩ, chủ nghĩa Marx nói đúng khi nói rằng muốn cải tạo cái thế giới th́ phải cải tạo nó bằng cái thực tiển, thay đổi cái ḥan cảnh khách quan là một điều cực kỳ quan trọng và có thể quyết định để thúc đẩy thế giới tiến tới, trong đó kể cả vấn đề tạo ra cái điều kiện tốt nhất để mà ḥan thiện cái thế giới bên trong của chúng ta. Tôi xin cảm nhận và nói ra một số vấn điều và mong về sau này giữa Phật giáo mà theo quan điểm tuệ giác của Thiền Sư và cái quan điểm của chúng tôi có ǵ cùng trao đổi.

 

Thiền sư Nhất Hạnh tiếp lời :

Làm mới truyền thống của ḿnh:

Theo tôi th́  Karl Marx có một đời sống tâm linh rất là sâu sắc, một chiều hướng tâm linh trong cuộc sống rất là sâu, Marx có cái nhu yếu tâm linh thâm sâu. Tôi nghĩ rằng là những người Phật tử là những người nối tiếp Phật Thích Ca và phải tiếp tục khai triển cái tuệ giác của Bụt để tuệ giác đó có thể cung cấp được, thỏa măn được nhu yếu của con người hiện đại. Trong thời đại của đức Thích Ca dầu là ở một thời xa xưa đă làm được công việc đó trong thời gian của đức Thích Ca và những thế hệ Phật tử đi sau đức Thích Ca phải tiếp tục đưa tuệ giác đó khai mở thêm để nó có thể tiếp tục làm thỏa măn những nhu yếu của thời đại, tôi nghĩ rằng bên truyền thống của Mac xit cũng vậy, quư vị là những người tiếp nối của Marx th́ quư vị phải tiếp tục sự nghiệp của Marx, phải khai mở, phải phát triển không ngừng, điều đó là điều dĩ nhiên nếu không truyền thống đó nó sẽ bị ứ đọng nó sẽ chết. Điều này nó đúng với tất cả các truyền thống chứ không phải đối với đạo Phật hoặc là truyền thống Marxit mà thôi.

 

Tâm và vật là hai hay là một?  

Điều tôi muốn nói là bây giờ trong ngành khoa học thần kinh năo, họ t́m ra những hoạt động bé nhất đối với năo bộ, nó có tính cách khách quan mà sao lại thỉnh thoảng nó lại trở thành ra cái ư thức chủ quan ! Câu hỏi căn bản mà bây giờ họ đặt ra là làm sao mà những hoạt động vi tính vốn là một hiện thể khách quan của năo bộ mà trở thành ra ư thức chủ quan được ? tại sao một cái từ khách quan mà trở thành ra chủ quan ? Tại sao vật lại trở thành  tâm ? Tôi thấy cái kẹt của những nhà khoa học là ở cái quan điểm lưỡng nguyên của họ về tâm và về vật. Và có rất nhiều người trong chúng ta cũng bị kẹt vào cái quan điểm lưỡng nguyên giữa tâm và vật. Trong khi đó, khoa y học nó có từ  psycho-somatic để chỉ chung tâm vật có khi gọi là thân tâm, psycho là tâm soma là thân. Psycho-soma là thân tâm, c̣n trong đạo Phật th́ có danh từ nama-rupa, Nama là tâm, rupa là thân và nó được đi đôi với nhau. Có khi ḿnh thấy cái thực tại nó hiện ra như là một thực tại vật chất nhưng cũng có khi cũng là cái thực tại đó mà  nó hiện ra với đặc tính của tinh thần. Trong giới khoa học nguyên tử bây giờ th́ đơn vị nhỏ nhất của vật chất  gọi là chất điểm (particle). Khi các nhà khoa học vật lư nghiên cứu th́ có khi chất điểm lại hiện ra dưới một h́nh thái của một đợt sóng (một  wave) nhưng cũng có khi khác, cái đợt sóng đó lại hiện ra với h́nh thái của một hạt (một particle). Cũng cái đó mà có khi nó biểu hiện như hạt, có khi nó biểu hiện như sóng. Thế th́ kết luận như thế nào đây ? Nó là hạt hay là nó sóng ? V́ thế các nhà khoa học bây giờ phải đồng ư đặt ra một tên gọi nó là sóng hạt (wav-icle), họ phải làm như vậy v́ trước đó họ kẹt vào quan niệm lưỡng nguyên là cái hạt và cái sóng là hai cái khác nhau. Cho nên người ta đă vượt được quan điểm  lưỡng nguyên đó và người ta chấp nhận hạt và sóng là một. Th́ cái quan niệm tâm và vật cũng vậy, ḿnh có thể bắt đầu nghĩ rằng tâm là một cái không phải là vật, vật là một cái nó khác nó ở ngoài tâm nhưng mà trong lĩnh vực y khoa người ta thấy rằng những cái ǵ nó xẩy ra cho tâm th́ nó ảnh hưởng tới thân và những cái ǵ nó xẩy ra cho thân nó ảnh hưởng đến tâm cho nên danh từ psychosomatic cho chúng ta thấy rằng nói là tâm chưa chắc nó là tâm, nói là thân nhưng chưa chắc nó là thân. Thực tại con người chúng ta cũng thế. Ta nên tập nh́n thân tâm như hai mặt của một thực tại con người ḿnh. Trong đạo Phật hay nói đến Danh- Sắc.  Danh tức là Nama, Sắc tức là Rupa. Nama là tinh thần, Rupa là vật chất. Hai cái đó ḿnh tưởng  là hai cái riêng biệt kỳ thực nó là một  và như vậy ḿnh siêu việt được quan niệm lưỡng nguyên về vật chất và tinh thần, về tâm và về vật về thân và về tâm. Trước hết ḿnh nói rằng nếu tôi thấy được cái hoa hồng này là tại v́ tôi lấy cái tâm để thấy cái hoa hồng. Cái hoa hồng là đối tượng cái thấy của tôi. Quan điểm đó hoàn toàn đúng. Tại v́ khi ḿnh nói tới  thấy cái hoa hồng tức là h́nh ảnh một đóa hoa nó hiện trong đầu ḿnh. H́nh ảnh đó c̣n được gọi là tri giác của ḿnh về đoá hoa - tiếng Pháp gọi là perception -  Thấy bao giờ cũng phải là thấy một cái ǵ không có thể nào có chủ thể thấy tồn tại độc lập ra đối tượng thấy được. Thấy phải thấy cái hoa hay cái cây, hay cái nhà. Chứ không có cái thấy tồn tại riêng một ḿnh nó. Ư thức bao giờ cũng là thức về một cái ǵ, thấy tức là phải thấy cái ǵ hay là tri giác là phải luôn luôn tri giác về một cái ǵ. Khi mà có một cái thấy, cái tri giác về bông hồng - th́ tôi nói rằng là đối tượng của tri giác là cái bông hồng - nó đối lại với cái chủ thể của tri giác - tức là cái thấy của tôi.  Hai cái đó (chủ thể và đối tượng) nó không có thể tồn tại độc lập được -  chủ thể tri giác và đối tượng tri giác - nó phải có cùng một lần -  cái sujet (subject) và cái objet (object) - nó phải phát sinh cùng một lúc. V́ vậy cho nên bông hồng trước hết là cái đối tượng của tri giác mà đối tượng tri giác là một phần của tri giác và v́ vậy cho nên khi ta nói đến cái tri giác, ta có thể hỏi : tri giác đó là tâm hay là vật ? Nhờ nh́n kỹ như thế nên chúng ta có thể vượt thẳng được quan điểm lưỡng nguyên. Chúng ta sẽ tiết kiệm được không biết bao nhiêu là nước bọt, chúng ta tiết kiệm không biết bao nhiêu là giấy mực khi chúng ta vượt thắng được cái quan điểm lưỡng nguyên - giữa thân và tâm - giữa tâm và vật. Và điều nầy rất là hứng thú v́ đạo Phật tŕnh bày tinh thần bất nhị, tinh thần vượt thắng lưỡng nguyên này rất rơ.  Xin mời các nhà Marxism xin mời những nhà Y Học khám phá - và chúng tôi thấy rằng trên con đường y học, trên con đường y khoa người ta đă khám phá ra điều đó. Và ngay cả con đường vật lư nguyên tử, người ta cũng đă bắt đầu khám phá ra cái đó. Cái mà ta gọi là nguyên tử đó, điện tử đó, nó không phải là vật mà nó cũng không phải là tâm. Có khi nó biểu hiện với đặc tính của tâm, có khi nó là biểu hiện với đặc tính của vật, rất là mầu nhiệm, rất là hay, rất là hứng thú. Như giáo sư đă nói, cuộc đối thoại đó đă bắt đầu rồi, rất là vui. Nếu chúng ta bắt đầu được hôm nay, tại sao ngày mai chúng ta không tiếp tục. Nó rất là hứng thú ! Xin cám ơn quư vị.

 4/. Đáp từ hẹn lại ngày mai của Giáo sư Trưởng ban tổ chức : 

Cám ơn Thiền sư và tất cả quư vị trong tăng thân Làng Mai. Xin cám ơn tất cả quư vị đại biểu. Như đă tuyên bố chương tŕnh từ trước, ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục tại đây và quư vị sẽ đặt ra nhiều câu hỏi hứng thú hấp dẫn hơn, để Thiền sư trao đổi xin cám ơn. 

Một số bài Pháp thoại và tác phẩm của Thầy Nhất Hạnh

F Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác đạo Phật.

   phần I:   giới thiệu

   phần II:  pháp thoại

   phần III:  trao đổi

F Vai tṛ của Phật giáo trong xă hội đương đại.

   phần I: pháp thoại

     pháp thoại (tiếp theo) 

   phần II:  trao đổi

F Tôn giáo và sự lành mạnh hoá xă hội.


Pháp thoại bằng audio

F   Pháp thoại trong năm 2006: Bài giảng ghi âm MP3  

F   Pháp thoại trong chuyến đi Việt năm 2007: Bài giảng ghi âm MP3  


Pháp thoại bằng video

F  An lạc trong từng bước chân,

         Sự tỉnh thức,

         An lạc trong phút giây hiện tại,

         Thiền hành.  ►►


BÀI VIẾT

» Ǵn giữ cho nhau (bài giảng ở toà Bạch ốc 12/2000)

» Nạn xưa trút sạch

» Tu phước và Tu huệ

» Ba câu trả lời mầu nhiệm

» Thắp sáng hiện hữu

» Bông Hồng cài áo
» Để thiết lập đối thoại
» Ôm cơn giận vào ḷng
» Kẻ thù ta
» Đối phó với cơn băo cảm xúc
» Để thiết lập đối thoại
» Làm lại thâm t́nh
» Hiến tặng cho nhau những điều tốt đẹp
» Vấn đề nhân vị trong đạo Phật
» Giấc mơ của chúng ta
» Tôi sẽ nói ǵ với Bin Laden (trả lời phỏng vấn)

» Resting in River, English version

» Question and Answer

» Interbeing

» Love letter

 Từ điển Làng Mai


SÁCH

» Tuổi trẻ t́nh yêu lư tưởng
»

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Design by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE