WWW CHUYỂN LUÂN

 
  Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm mới Bính Tuất  Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

 Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
  Online số cũ
  Các số báo cũ
  Weblogs
   
 

Nối Kết:

 

  

Thư pháp

 
 
 

 

  

Thư pháp

 
 
 

  

  

  

 
 
 

Thầy NHẤT HẠNH

(Nguồn trích từ trang nhà Phù sa: Phusa.net)

Bài giảng của Thiền sư Nhất Hạnh tại Học Viện Quốc Gia Chính Trị HCM, Hà Nội ngày 17 tháng 3 năm 2005

Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác đạo Phật.

II. Pháp thoại

Thiền sư Thích Nhất Hạnh :  Kính mời quư Thầy quư Sư Cô Làng Mai lên tụng bài Tán Quan Âm và niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm trước khi buổi nói chuyện bắt đầu.

 

Quán Thế Âm và Quán Tự Tại:

 

Thưa quư vị, khi chúng ta có được  khả năng nh́n cho thật sâu và nghe cho thật kỹ th́ chúng ta sẽ có được một cái thấy thông suốt, gọi là tuệ giác, có công năng làm phát sinh t́nh thương lớn. Tuệ giác với t́nh thương sẽ làm cho chúng ta có được tự do lớn. Đó là ư nghĩa của Avalokitesvara.

Avalokiteshvara có nghĩa là người quan sát rất là sâu sắc. Avalokita là quán hay là lắng nghe một cách sâu sắc. Isvara tức là con người tự do. Quán Thế Âm đôi khi c̣n được dịch ra là Quán tự tại, nhờ quán chiếu, nhờ lắng nghe và đạt đến tự do lớn nên làm chủ được ḿnh và hoàn cảnh ḿnh. V́ thế Quán Thế Âm cũng là Quán Tự Tại. Chúng tôi mời quư vị tham dự buổi tọa đàm này với phương pháp lắng nghe.

Khi có mặt trong giây phút hiện tại và biết buông thư th́ năng lượng của Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ đi vào trong cơ thể chúng ta. Nếu trong cơ thể chúng ta có sự đau nhức, có sự căng thẳng th́ năng lượng này sẽ làm tiêu tán cái căng thẳng và đau nhức đó. Nếu chúng ta biết cách có mặt thật sự trong giây phút hiện tại, đừng bị những suy tư về quá khứ lôi kéo, đừng bị những suy tính về tương lai lôi kéo, nếu chúng ta có những nỗi khổ niềm đau ở trong ḷng th́ chúng ta cũng có thể mở trái tim ra, năng lượng Bồ Tát sẽ đi vào, sẽ ôm ấp, sẽ chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau đó. Nếu chúng ta có một người thân đang bệnh ở nhà và muốn chuyền cái năng lượng này về th́ chúng ta chỉ cần nghĩ đến người đó, h́nh dung người đó hoặc gọi tên người đó một cách im lặng th́ năng lượng này của đại chúng sẽ cùng với năng lượng của chúng ta cùng chuyển về rất mau chóng cho người kia.

Avalokiteshvara là t́nh thương, là sự hiểu biết, yếu tố này, năng lượng này, có mặt không phải ngoài ta mà trong từng tế bào của cơ thể ta, khi chúng ta thật sự có mặt th́ chúng ta khơi dậy và đáp ứng lại được năng lượng đó bằng năng lượng  của chính chúng ta.

Tăng thân Làng Mai cùng xướng tụng :

           Đầu cành dương liễu vương cam lộ,
           Một giọt mười phương rưới cũng đầy
           Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết,
           Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây

           Nam Mô Bồ Tát Thanh Lương Địa
           Nam Mô Bồ Tát Thanh Lương Địa
           Nam Mô Bồ Tát Thanh Lương Địa

           Trí tuệ bừng lên đóa biện tài
           Đứng yên trên sóng sạch trần ai
           Cam lộ chữa lành cơn khổ bệnh,
           Hào quang quét sạch buổi nguy tai
           Liểu biếc phất bày muôn thế giới,
           Sen hồng nở hé vạn lâu đài
           Cúi đầu ca ngợi dâng hương, thỉnh
           Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay.

           Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm
           Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm
           Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm.

                                                    (chuông).
 

Con mắt vô tướng :

 

Ai trong chúng ta cũng có con mắt vô tướng, quư vị ở đây cũng đều có con mắt đó. Nếu chúng ta sử dụng được con mắt vô tướng th́ chúng ta có thể thấy được những cái mà người khác không thấy. Vô tướng là animitta. Khi nh́n một đám mây th́ nhờ tướng trạng của đám mây mà chúng ta nhận diện ra được sự có mặt của đám mây và như vậy nhận thức của chúng ta, tri giác chúng ta căn cứ vào h́nh tướng của đám mây. Khi đám mây đă trở thành mưa rồi th́ h́nh tướng của đám mây không c̣n nữa.  Lúc đó, chúng ta phải sử dụng con mắt vô tướng mới nhận diện ra được sự có mặt của đám mây ở trong cơn mưa. Đám mây không thể nào chết, đám mây chỉ có thể trở thành mưa, thành tuyết hoặc thành nước đá, đám mây không thể nào từ có trở thành không được. Chết trong tư duy của chúng ta có nghĩa là từ có mà trở thành không, mà một đám mây không bao giờ có thể từ có mà trở thành không được. Đạo Phật  hay nói đến tính vô sinh và bất diệt của mọi sự vật. Đám mây là vô sinh v́ nó không thể từ không mà trở thành có, trước khi nó là một đám mây th́ nó đă là một cái ǵ khác, như nước ao, nước hồ, nước sông nước biển, và cũng là sức nóng của mặt trời. Khi những điều kiện ấy đến với nhau th́ có sự biểu hiện của đám mây. V́ vậy cho nên chúng ta có thể thấy được bằng con mắt vô tướng chúng ta cái tiền thân của đám mây. Nh́n đám mây và thấy được tiền thân của đám mây là nước sông nước hồ nước ao nước biển và sức nóng của mặt trời. Rồi nếu chúng ta cứ tiếp tục nh́n đám mây bằng con mắt vô tướng ta cũng có thể thấy được hậu thân của đám mây tức là sự tiếp nối của đám mây, qua những h́nh thái khác, như những lọn tuyết, những tảng đá băng, những cơn mưa hay là một ḍng sông. Khi uống trà nếu tôi thật sự có mặt trong giây phút hiện tại th́ tôi có thể  tiếp xúc được với trà một cách sâu sắc và tôi thấy được sự có mặt của đám mây ở trong chén trà. Trà là hậu thân của đám mây. Tôi uống trà, có nghĩa là tôi đang uống mây. Quư vị không cần phải là thi sĩ mới thấy được như vậy. Chúng ta có thể uống trà bằng con mắt vô tướng. Chúng ta thấy rằng chúng ta cũng đang uống mây, tại v́ trà là tiếp nối của mây. Chúng ta có ư niệm về sinh và về diệt. Sinh đối với chúng ta là từ không mà trở thành có. Nếu quan sát thật kỹ th́ chúng ta sẽ thấy rằng không có vật nào từ không có mà có thể trở thành có được. Đám mây cũng vậy, mà trái bắp cũng vậy. Trái bắp không thể từ không mà thành có, trái bắp là sự tiếp nối của hạt bắp và hạt bắp là sự tiếp nối của trái bắp. Nếu chúng ta thấy được đám mây trong cơn mưa, đám mây trong những bông tuyết th́ chúng ta đang nh́n mây bằng cái nh́n vô tướng và đạt được, thấy được, tiếp xúc được với tính vô sinh của vạn vật.

Nhà khoa học Lavoisier của Pháp có nói một câu giống hệt như một câu trong Tâm Kinh Bát Nhă : ’’Không có ǵ sinh ra và không có ǵ diệt’’. Ông ta đă không đứng ở khía cạnh của một nhà tâm linh học hay một nhà tôn giáo học mà nói. Điều đó ông đă khám phá ra từ sự quan sát sự vật mà thôi. Và ông đă đi tới một kết luận giống hệt tuệ giác của Tâm Kinh Bát Nhă : thị chư pháp không tướng bất sinh bất diệt. Nếu chịu luyện tập th́ chúng ta cũng có thể có con mắt vô tướng. Có con mắt vô tướng, chúng ta có thể thấy được tính bất sinh bất diệt của chính chúng ta, của đám mây và của nhiều sự kiện chung quanh ta và nhờ thế, ta sẽ vượt thắng sợ hăi. Sợ hăi cái ǵ? sợ hăi cái chết, sợ hăi hư vô. Ở trong đạo Phật, vô tướng là một cánh cửa giải thoát. Ba cánh cửa giải thoát là tam giải thoát môn và cánh cửa giải thoát thứ nhất là không, cánh cửa thứ hai là vô tướng, cánh cửa thứ ba là vô tác. Ở đây chúng ta nói đến cánh cửa thứ hai là cánh cửa vô tướng. Nếu chúng ta luyện tập th́ chúng ta có thể sử dụng con mắt vô tướng trong đời sống hằng ngày và có thể vượt thoát được mọi sợ hăi, mọi kỳ thị, mọi giận hờn. Khi nh́n vào người con với con mắt vô tướng, ta có thể thấy được người cha, chắc chắn là như vậy, tại v́ người con là tiếp nối của người cha. Cũng như cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây. Khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống đất th́ hạt bắp sẽ nẩy mầm và sẽ trở thành một cây bắp con. Và khi nh́n vào cây bắp con v́ chúng ta không thấy hạt bắp nữa, không c̣n thấy cái tướng của hạt bắp nữa nên chúng ta nói rằng hạt bắp đă chết, và bây giờ chỉ có cây bắp thôi. Nói như thế là chúng ta không có con mắt vô tướng. Nh́n vào cây bắp non với con mắt vô tướng, ta thấy rằng cây bắp non là sự tiếp nối của hạt bắp, hạt bắp vẫn c̣n đó, hạt bắp chưa chết, chưa bao giờ chết, hạt bắp đang được tiếp nối bằng cây bắp. Nh́n vào cây bắp bây giờ ta thấy được hạt bắp, hạt bắp tháng trước. Nh́n vào đứa con ta thấy được người cha tại v́ đứa con là sự tiếp nối của người cha.

Có một hôm tôi đi trên thành phố London, nh́n vào một tiệm sách, tôi thấy có một cuốn sách với nhan đề là ‘’My mother, my self,’’ nghĩa là ‘Mẹ tôi chính là tôi đó’’. Tôi nghĩ rằng người viết cuốn sách này đă có tuệ giác và tôi có cảm tưởng đă biết người ta đă viết ǵ trong đó rồi. Có những người con giận cha, giận mẹ và nghĩ rằng ḿnh không muốn có liên hệ ǵ nữa với ‘’ông đó’’, với ‘’bà ấy’’. Ḿnh không thấy được sự thật, một sự thật rất khoa học là ḿnh chính là cha ḿnh, ḿnh chính là mẹ ḿnh và giận cha tức là ḿnh giận bản thân ḿnh, giận mẹ tức là giận chính bản thân ḿnh.

Mời quư vị nghe chuông và thực tập:

thở vào tâm tính lặng
thở ra miệng mỉm cười,
thở vào tôi biết rằng tôi đang có mặt cho sự sống,
thở ra tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi.

(chuông).

 

Từ con hoặc từ cha mẹ :

 

Ở Tây phương cũng như ở Á đông khi họ có những người đang có khó khăn với con cái ḿnh. Họ muốn từ con, họ nuốn tuyên bố : mày không phải là con của tao, con của tao không thể như mày, tao không công nhận mày là con của tao. Có những đứa con giận bố cũng tuyên bố dại dột như thế : tôi không muốn có liên hệ ǵ hết với  ông ấy nữa. Đấy, khi người ta giận, người ta không có trí tuệ, nên người ta  mới tuyên bố những điều trái với sự thật như thế.

Cha ḿnh đă trao truyền cho ḿnh toàn thể  thân tâm của ông. Đứng về phương diện di truyền học mà nói, cha mẹ đă trao truyền tất cả các di sản di truyền của cha mẹ cho con, trao truyền cả di sản huyết thống cả di sản tâm linh của tổ tiên và ḍng họ. Trong mỗi tế bào của cơ thể ḿnh, có sự có mặt đầy đủ toàn diện của tổ tiên, của cha mẹ. Ḿnh không thể nào lấy tổ tiên và cha mẹ ra khỏi cơ thể của ḿnh, tại v́ mỗi tế bào cơ thể  đều có chứa đựng sự có mặt  của  tất cả các thế hệ của tổ tiên và cha mẹ. Lấy người cha ra khỏi ḿnh, lấy người mẹ ra khỏi, đấy là chuyện không tưởng, tại v́ ḿnh chính là cha ḿnh, ḿnh là sự tiếp nối của cha ḿnh, ḿnh là sự tiếp nối của mẹ ḿnh, ḿnh chính là cha ḿnh, là mẹ ḿnh. V́ vậy cho nên giận cha tức là ḿnh tự giận ḿnh, giận mẹ tức là ḿnh tự giận ḿnh, giận con cũng là tự giận ḿnh tại v́ đứa con là sự tiếp nối rất cụ thể của cha và của mẹ. Chúng ta sẽ bí lối, chúng ta sẽ không có nẻo thoát nếu chúng ta không có tuệ giác ấy. Tuệ giác nào? Con ḿnh chính là sự tiếp nối của ḿnh và con ḿnh đang mang ḿnh đi về tương lai. Muốn được tiếp nối đẹp đẽ, ḿnh phải t́m đủ mọi cách để trao truyền cho con những ǵ đẹp nhất mà ḿnh có thể chế tác được bằng cuộc đời của chính ḿnh. Nếu giữa hai cha con không có được sự truyền thông th́ đó là sự thất bại của người cha trước hết. Người cha đă từng tiếp nhận được những ǵ ưu việt, những ǵ mầu nhiệm của tổ tiên. Nếu người cha không truyền thông được với người con th́ không thể trao truyền cho con cái gia tài tốt đẹp đó qua tư duy, lời nói và hành động của ḿnh. Nếu cha không truyền thông được với con th́ đó là sự thất bại của hai cha con và chính v́ chướng ngại đó mà đứa con không tiếp xúc được với các thế hệ  tổ tiên, và người cha cũng không có thể tiếp xúc được với các thế hệ tương lai. Nhờ đứa con mà người cha được đi về tương lai vô cùng và nhờ người cha mà đứa con tiếp xúc được với tất cả các thế hệ tổ tiên về trước. Hai cha con là hai khâu rất cần nhau, một bên tiếp xúc được với tổ tiên quá khứ là nhờ cha, một bên tiếp xúc được với các thế hệ tương lai là nhờ con, cho nên liên hệ cha con không thể nào để cho thất bại. Cha con phải thiết lập lại truyền thông với nhau. Khi nh́n vào bản thân th́ người con thấy được cha ḿnh, mẹ ḿnh và tổ tiên ḿnh và thấy rằng ḿnh là sự tiếp nối của cha mẹ, của tổ tiên. Khi nh́n vào người con, người cha cũng thấy rằng đứa con là sự tiếp nối của ḿnh và đứa con đang mang ḿnh đi về tương lai. Có thể người cha đă không có cơ hội học hỏi và tu tập cho nên người cha đă không có cái khả năng nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau của ḿnh. Ông đă trở thành ra nạn nhân của đau khổ chính ông ta và có thể của các thế hệ đi trước nữa. Khi  đau khổ như vậy, ông làm vung văi những khổ đau ấy lên những đứa con của ḿnh và đó là t́nh trạng của nhiều gia đ́nh. Trong những gia đ́nh ấy, chồng không truyền thông được với vợ, vợ chồng làm khổ nhau và tạo ra những vết thương trong trái tim của người con. Không có niềm tin về hạnh phúc gia đ́nh, đứa con đi t́m sự lăng quên bên ngoài và do đó sa vào hầm hố của ma tuư, của sắc dục, của tội ác, của băng đảng. Tuệ giác đạo Phật có thể giúp cho ta thấy được sự thật đó, tái lập được truyền thông và đem lại hạnh phúc giữa ḿnh và cha mẹ ḿnh hay con cái ḿnh.

Bậc cha mẹ, khi giận con, thường hay có khuynh hướng muốn từ khước con : mày không phải là con của tao, con của tao không thể nào như thế này được, con của tao nó không thể có những yếu kém như thế. Nhưng nếu  nh́n cho kỹ ḿnh sẽ thấy rằng tổ tiên ḿnh tuy có những bậc đức hạnh rất cao, tài năng rất xuất chúng, nhưng cũng có những vị yếu kém. Nếu chúng ta có Lư Thường Kiệt th́ chúng ta cũng có Trần Ích Tắc và như thế, khi biết nh́n bằng con mắt của tuệ giác th́ ta vẫn có thể chấp nhận được, và chúng ta thấy tội nghiệp cho những người cha hoặc mẹ c̣n yếu kém. Những người đó đă không có cơ hội  được hiểu và thương và tiếp nhận những phương pháp thực tập để có thể chuyển hóa những yếu kém của ḿnh. Khi nh́n các con chúng ta thấy có những đứa con mà chúng ta rất bằng ḷng, nhưng mà cũng có một  hoặc hai đứa con mà chúng ta không bằng ḷng. Nếu trong tổ tiên chúng ta có những người yếu kém và chính trong chúng ta cũng có yếu kém th́ chúng ta là ai mà không chấp nhận yếu kém của con cháu chúng ta? Chúng ta phải làm đủ mọi cách có thể, để giúp cho những đứa con yếu kém đó có cơ hội nhận diện và chuyển hóa được những yếu kém đó. Và nhờ thế nên những giận hờn những buồn tủi trong ta sẽ tan biến và sẽ được thay thế bằng t́nh thương. Đối với những đứa con giỏi chúng ta không cần phải để nhiều th́ giờ và năng lực, c̣n đối với những đứa con c̣n yếu kém th́ với nhận thức đó với t́nh thương đó chúng ta sẽ có thể để th́ giờ và năng lượng ra mà giúp đỡ.

 

Phần Tuệ giác trong đạo Phật  và những phương pháp thực tập thực tiễn :

 

Đạo Phật có phần tôn giáo, có nói đến hy vọng, có nói đến niềm tin, đến sự cầu nguyện nhưng đạo Phật c̣n là những nguồn tuệ giác lớn, có những phương pháp tu tập rất cụ thể để giúp ḿnh tháo gỡ những khó khăn, những bức xúc, chuyển hoá được những khổ đau, thiết lập lại truyền thông với những người khác và đem lại hạnh phúc cho ḿnh và mọi người. Đạo Phật cung cấp cho chúng ta những giáo lư và những phương pháp thực tập, giúp chúng ta nhận diện được khổ đau, thấy được gốc rễ của những khổ đau ấy và thấy được con đường để có thể chuyển hoá những khổ đau ấy. Những phương pháp như thực tập hơi thở có ư thức, thực tập bước chân có ư thức, có mục đích chế tác năng lượng chánh niệm. Và với năng lượng chánh niệm đó ta nhận diện được những nỗi khổ niềm đau đang dâng lên, với năng lượng đó ḿnh có thể ôm ấp được những nỗi khổ niềm đau kia để làm cho chúng êm dịu lại, với năng lượng đó ḿnh có khả năng nh́n sâu vào để thấy được những nguồn gốc gần xa của những nỗi khổ niềm đau của ḿnh, với năng lượng đó ḿnh có thể chiếu rọi ánh sáng của tuệ giác vào và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau kia, ḥa giải và giúp đỡ được những người thân yếu kém trong gia đ́nh và ngoài xă hội. Trong đạo Phật chúng tôi nói đến tính chất hữu cơ (tức là có thể chuyển hóa được) của phiền năo, của t́nh thương và tuệ giác. Trong chúng ta có giận, buồn, lo, nhưng trong chúng ta, cũng có sự yêu thương và sự hiểu biết. Con người chúng ta như là một vườn hoa ; hoa để lâu ngày th́ thành rác ; nhưng nếu chúng ta biết phương pháp ủ rác th́ chúng ta có thể nuôi hoa được và v́ vậy cho nên hoa và rác đều có tính chất hữu cơ, hoa có thể biến thành rác và rác có thể biến thành hoa trở lại. Ở trong chúng ta có những nỗi khổ, niềm đau, buồn phiền, tuyệt vọng, ganh tị, kỳ thị, tất cả những cái đó đều là những phần rác ở trong ta, nhưng ở trong ta cũng có phần hoa gồm có hiểu biết, tha thứ, yêu thương, bao dung và hy sinh. Cả hai phần đều có tính chất hữu cơ nghĩa là có thể đổi thay.

Trong đạo Bụt, có nguyên tắc phiền năo tức bồ đề : phiền năo tức là những đau khổ và chướng ngại, bồ đề tức là giải thoát, hạnh phúc. Nếu chúng ta có thể biến rác thành phân xanh để nuôi hoa, th́ những phiền năo kia nếu chúng ta biết cách ôm ấp, quán chiếu và chuyển hóa, chúng ta cũng có thể biến thành hiểu biết, chấp nhận và t́nh thương để cho hạnh phúc có thể có mặt được. Cho nên cái nh́n của đạo Phật là cái nh́n bất nhị, có nghĩa là cái này nó nằm trong cái kia, cái này là mặt khác của cái kia. Nh́n sâu vào phiền năo ta khám phá ra bồ đề. Nếu ta có hiểu biết được người kia th́ ta cũng sẽ thương được người kia.

Ví dụ trong ta có một t́nh yêu lớn, và ta nghĩ rằng t́nh yêu lớn ấy sẽ nuôi ḿnh suốt đời, nhưng nếu ta không biết nuôi dưỡng cái thấy vô thường, không biết cách tu tập, không có thức ăn thích hợp cho t́nh yêu ấy th́ t́nh yêu ấy sẽ chết và có thể sẽ biến thành hận thù. Phật nói rằng không có cái ǵ có thể sống c̣n được nếu không có thức ăn. Đau khổ cũng không thể kéo dài được nếu không có thức ăn. Hạnh phúc cũng vậy, nếu chúng ta không có thức ăn để nuôi hạnh phúc, hạnh phúc sẽ chết. T́nh yêu nào rồi cũng sẽ chết nếu  không được nuôi dưỡng mỗi ngày bằng thực phẩm thích hợp với nó. Nếu cặp vợ chồng mới cưới kia không biết chế tác thực phẩm thích hợp cho t́nh yêu th́ trong nửa năm hay một năm, t́nh yêu đó sẽ biến thành cải vă và hận thù. Hoa sẽ biến thành rác và v́ vậy chúng ta phải học phương pháp nuôi t́nh thương, nuôi trí tuệ và sử dụng những khổ đau, những phiền năo, những cái khó khăn để biến ra những chất liệu nuôi dưỡng được trí tuệ, nuôi dưỡng được t́nh thương. Biết được tính cách hữu cơ của khổ đau và hạnh phúc rồi th́ chúng ta không sợ hăi, không có kỳ thị khổ đau nữa, và chúng ta biết rằng khổ đau có thể là chất liệu để làm ra hạnh phúc.

Khi một người cha không có hạnh phúc, người cha đă làm khổ đau cho chính ḿnh, gây khổ đau cho chính ḿnh, gây khổ đau cho người mẹ và cố nhiên sẽ gây khổ đau cho người con. Nếu người con may mắn hơn, có cơ hội quán chiếu, nh́n thật sâu, lắng nghe để hiểu những điều cha đă nói hay chưa nói ra được, th́ người con mới khám phá rằng cha ḿnh là nạn nhân của cái khổ đau của chính ông ta. Có thể trong thời thơ ấu ông ta đă chưa bao giờ có cơ hội được chăm sóc và  thương yêu, có thể trong thời thơ ấu ông ta đă bị nhiều vết thương và khi lớn lên ông ta đă không có người giúp, không có một bậc thầy, không có được một người bạn chỉ cho ông ta cách nhận diện, chuyển hóa những khổ đau đó cho nên lớn lên ông ta đă trao truyền tất cả những khổ đau của ông ta cho đứa con. Những cái đau khổ của người cha hiện giờ, nó đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của người con, chúng ta giận cha và chúng ta nói : tại v́ cha đă nói như thế, đă làm như thế, đă tư duy như thế, đă hành sử như thế và chúng ta cương quyết rằng khi mà chúng ta lớn lên chúng ta sẽ không nói như thế, chúng ta sẽ không làm như thế, chúng ta sẽ không tư duy như thế. Nhưng khi lớn lên, nếu ta không quán chiếu và tu tập, th́ chúng ta sẽ hành sử giống y như cha đă từng làm, có thể là hơi biến dạng một chút nhưng cũng là cái cách độc tài đó, tại v́ chúng ta là sự tiếp nối của cha chúng ta. V́ vậy cho nên một nếp sống tâm linh đạo đức rất là quan trọng. Trong bộ ba quân - sư - phụ : phụ là người cha, người cha đă sinh ra h́nh hài của ḿnh, sư là ông thầy là người sinh ra cái nếp sống tinh thần, nếp sống đạo đức, nếp sống văn minh của ḿnh và cả cha cả thầy đều đă trao truyền cho chúng ta rất nhiều. Mỗi người trong chúng ta có hai gia đ́nh : một gia đ́nh huyết thống và một gia đ́nh tâm linh và chúng ta tiếp nhận được sự trao truyền của hai gia đ́nh đó. Nếu không có sự trao truyền của gia đ́nh tâm linh th́ làm sao chúng ta có được những phương tiện để nhận diện được niềm đau nỗi khổ trong ta ? Chúng ta không biết những phương pháp để quản lư được những niềm đau nỗi khổ đó để mà chuyển hóa nó và để trở thành một người tự do. Chúng ta phải có khả năng tự do, khả năng thoát khỏi những nỗi khổ niềm đau, thoát khỏi những tập khí tiêu cực của ḿnh để chúng ta sẽ không trao truyền nguyên khối những khổ đau đó cho con chúng ta. Nếu để luân hồi măi những tập khí xấu đó cho con cháu th́ rất là tội nghiệp. Và v́ vậy cho nên một chiều hướng tâm linh và đạo đức rất quan trọng trong mỗi đời người.

 

Đời sống tâm linh rất cần thiết cho con người :

 

Quư vị có nhớ hồi vua Trần Thái Tông 20 tuổi, đă bắt đầu có rất nhiều khổ đau rồi ; hoàng hậu Lư Chiêu Thắng mới 19 tuổi thôi mà đă bị chê rằng là già quá tại v́ chưa có con, thái sư Trần Thủ Độ rất là nóng để cho Lư Chiêu Hoàng có con, để đảm bảo sự tiếp nối của nhà Trần, cho nên đă bắt buộc vua Trần Thái Tông phải bỏ hoàng hậu Chiêu Hoàng để cưới người chị là Thuận Thiên công chúa đă được gă cho người anh là Trần Liễu. Bắt buộc phải bỏ người yêu để cưới vợ của anh ḿnh đă có mang, Thái Tông rất là đau khổ, Thái Tông bỏ ngôi vua, đi lên núi Yên Tử để được xuất gia -tất cả quư vị đều nghe câu chuyện ấy rồi mà-  mới có 20 tuổi thôi mà đă phải gánh chịu những khổ đau như vậy. Và Trần Liễu cũng đă rất khổ đau nên đă tổ chức hải quân để chống lại triều đ́nh và gia đ́nh nhà Trần đó có thể bị xung đột rất lớn với nhau. Nhưng mà nhờ  lên núi Yên Tử, Trần Thái Tông đă được gặp quốc sư tên là Viên Chứng và Viên Chứng thiền sư dạy Thái Tông là ḿnh vừa có thể vừa làm nhà chính trị  mà vừa có thể tu tập được. Nhờ lời dạy đó, Trần Thái tông trở về làm vua nhưng đă t́m cách giữ được chiều hướng tâm linh trong đời sống của ḿnh. Trần Thái Tông đă ngồi thiền, đă bái sám, đă tu học từ năm 20 tuổi trong khi không bao giờ sao lăng việc triều đ́nh và nhờ vậy có khả năng vượt thắng được những khổ đau, những khó khăn của một nhà chính trị và trở thành một ông vua lớn, ông vua đầu của nhà Trần. Và cũng chính nhờ sự tu tập đó nhà vua đă cảm hóa được ba đứa con của người anh An Sinh Vương Trần Liễu : Tuệ Trung thượng sĩ là một nhà đạo học thâm uyên, một nhà thiền học, một vị thiền sư cư sĩ trước đó đă giúp triều đ́nh đánh thắng quân nguyên, Trần Hưng Đạo là em ruột của Tuệ Trung thượng sĩ có công rất lớn trong việc chiến thắng quân Nguyên và hoàng hậu Nguyên Thánh Thiên Cảm là người em gái của Tuệ Trung thượng sĩ đă trở thành hoàng hậu của vua Trần Thánh Tông. Như vậy nhờ tu học, nhờ đời sống tâm linh mà vua Trần Thái Tông đă có thể chuyển hoá được tất cả đại gia đ́nh và tạo nên đoàn kết lớn cho gia đ́nh nhà Trần để họ thành công như một triều đại lớn trong lịch sử Việt Nam. V́ thế ta thấy rơ, nếu không có sự can thiệp của chiều hướng tâm linh, của chiều hướng đạo đức th́ vua Trần Thái Tông đă không thành công được như một nhà chính trị lớn. Cho nên nếu chúng ta tiếp nhận trọn vẹn cái hay của cha mẹ, và đồng thời cái nếp sống tâm linh đạo đức của một bậc thầy, của một vị đàn anh, một bậc huynh trưởng mà ta kính phục, th́ chúng ta sẽ có hai gia đ́nh : một gia đ́nh huyết thống và một gia đ́nh tâm linh.

 

Con người và hoàn cảnh chung quanh :

 

Chúng ta đă tiếp nhận những gia tài di truyền của cả hai gia đ́nh tâm linh và huyết thống. Trong đạo Phật chúng ta nghe nói đến những chùm từ : những hạt giống ở trong tàng thức. Người ta cũng nói đến tâm thức : tâm thức có nhiều tầng lớp khác nhau, nhưng nói đơn giản th́ trong tâm thức có hai phần : phần dưới là phần căn bản gọi là tàng thức hoặc A-Lại-Da-Thức, nó cất chứa tất cả những hạt giống mà chúng ta tiếp thu được từ các thế hệ trước,  và phần trên gọi là ư thức. Hạt giống, tiếng phạn gọi là bija -chủng tử- chúng ta có thể nói nó tương đương với những cái gien mà chúng ta được tiếp nhận từ các thế hệ trước. Nếu những hạt giống đó có hoàn cảnh thuận tiện th́ nó có cơ hội phát hiện. Ví dụ như chúng ta có hạt giống của tài năng, như là tài năng của một thi sĩ, nhưng mà nếu chúng ta bị đặt vào một hoàn cảnh không thuận lợi th́ hạt giống thi sĩ trong ta không có cơ duyên phát hiện được, trái lại nếu chúng ta được đặt trong hoàn cảnh thuận lợi th́ hạt giống của nghệ thuật, của thi ca sẽ được phát hiện và ta có thể trở thành một thi sĩ lớn. Cái đầu gọi tiên thiên -có chủng tử, cái thứ hai gọi là hậu thiên- hoàn cảnh, và tây phương bây giờ họ dùng chữ nature là thiên nhiên, nurtur là hoàn cảnh. Thường th́ chúng ta có những hạt giống tốt được tổ tiên trao truyền mà chúng ta cũng có những hạt giống xấu cũng của tổ tiên trao truyền lại, chúng ta có hạt giống của Lư Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo,  nhưng mà chúng ta cũng có hạt giống của Trần Ích Tắc. Nếu chúng ta ở vào trong môi trường xấu th́ hạt giống của Trần Ích Tắc sẽ được tưới tẩm và chúng ta sẽ trở thành người bất trung, c̣n nếu chúng ta được đặt vào trong một hoàn cảnh thuận tiện th́ hạt giống của Trần hưng Đạo sẽ được tưới tẩm, sẽ trở thành một bậc trung thần, một vị tướng giỏi, v́ vậy cho nên hoàn cảnh là rất quan trọng.

Vậy th́ theo tuệ giác này, nếu chúng ta muốn những hạt giống đẹp đẽ nhất, quư giá nhất của tổ tiên mà chúng ta đang có trong từng tế bào có cơ duyên để phát hiện th́ chúng ta phải cho chúng ta một hoàn cảnh tốt, phải cho các con chúng ta một hoàn cảnh tốt. Đó là một kết luận rất là khoa học, nếu con chúng ta nó đi theo băng đảng, nó đi vào mê hồn trận của ma túy, của sắc dục là tại v́ hoàn cảnh đă tưới tẩm những hạt giống tiêu cực ở trong tế bào cơ thể của chúng nó, v́ vậy cho nên vấn đề hoàn cảnh, vấn đề môi trường sinh hoạt rất là quan trọng. Trong một gia đ́nh, nếu mà cha biết lắng nghe mẹ, mẹ biết làm hạnh phúc cho cha và cha biết chăm sóc mẹ th́ em bé lớn lên sẽ học được rất nhiều. Những hạt giống của thương yêu sẽ được tưới tẩm và cha mẹ bây giờ không nói ḿnh là giáo sư dạy về t́nh thương nhưng mà đích thực là giáo sư dạy về t́nh thương. Nhưng mà nếu trong một gia đ́nh cha làm khổ mẹ, mẹ làm khổ cha và cha mẹ làm con khổ, th́ những đứa trẻ lớn lên sẽ không có niềm tin vào hạnh phúc gia đ́nh nữa và không tin vào tổ tiên. Và v́ vậy cho nên làm thế nào mà thiết lập lại truyền thông giữa cha với mẹ, làm thế nào để cha mẹ có thể có hạnh phúc với nhau th́ đó là một công tác căn bản để xây dựng cho Xă Hội.

Chúng tôi đă từng nói chuyện với nhiều nhóm người trẻ và người trẻ họ đồng ư với nhau rằng gia tài quư giá nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu chính là hạnh phúc của cha và của mẹ. Cha mẹ biết thương nhau, biết làm hạnh phúc cho nhau đó là gia tài lớn nhất mà ḿnh có thể tiếp thu được và tiếng nói đó chúng ta nghe rất rơ từ người trẻ.

 

Mẹ chưa bao giờ chết :

 

Quư vị có nhớ hồi chúng ta c̣n bé 3 tuổi, 5 tuổi, thỉnh thoảng chúng ta bị sốt, chúng ta thấy khô cổ, chúng ta thấy chán đời, nhưng khi mẹ đi vào trong pḥng ta và để lên trán ta bàn tay của bà, th́ chúng ta cảm thấy rất là êm dịu như là bàn tay của một bà tiên. Khi lớn lên mẹ mất rồi chúng ta có thể có những cơn sốt rất là nặng và chúng ta khao khát rằng làm thế nào để có được bàn tay của mẹ ngày xưa để lên trán th́ hạnh phúc biết bao nhiêu mà kể. Trong tuệ giác của đạo Phật th́ bàn tay này của mẹ vẫn c̣n, tại v́ bàn tay của chúng ta là sự tiếp nối của bàn tay mẹ, trong bàn tay ta từng tế bào của ta đều chứa đựng tất cả con người mẹ,  và cố nhiên bàn tay này tuy gọi là bàn tay của ḿnh mà cũng là sự tiếp nối của bàn tay mẹ, cũng là bàn tay mẹ.  Và nếu chúng ta có tuệ giác đó chúng ta đưa bàn tay lên, chúng ta có ư thức rằng bàn tay này cũng là bàn tay mẹ, chúng ta đặt bàn tay lên trán và chúng ta thấy rơ ràng là bàn tay mẹ vẫn c̣n, mẹ không bao giờ mất là tại v́ chúng ta c̣n đó. Triết gia Descartes từng nói một câu : Tôi tư duy, như vậy chứng tỏ là tôi đang có mặt. Đứng về phương diện này tôi thấy rằng câu của tôi nó hợp lư hơn : Mẹ ơi, con biết rằng bởi v́ con đang có mặt ở đây cho nên mẹ cũng c̣n đang có mặt. Mẹ thật sự đang c̣n đó, tại v́ con đang c̣n đây. Đó là một sự thật rất khoa học. Tại v́ ḿnh đang có mặt tức là mẹ đang có mặt tại v́ ḿnh là sự tiếp nối của mẹ ḿnh, là sự tiếp nối của cha ḿnh. Bàn tay này, ban đầu th́ ḿnh tưởng là bàn tay của ḿnh, chỉ là bàn tay của ḿnh, nhưng mà nếu quán chiếu cho sâu sắc th́ đây cũng là bàn tay của mẹ, bàn tay của cha, bàn tay của tổ tiên...

Có một bà mẹ không biết đọc, không biết viết, thế mà hôm nghe tin con sắp đi thật xa để gầy dựng sự nghiệp, tự nhiên bà có cái thấy rất thâm sâu và nói với cậu con như thế này : Này con, khi mà con sang bên nớ đó, mỗi khi mà con nhớ mạ, th́ con đưa cái bàn tay của con lên để mà nh́n, th́ con sẽ đỡ nhớ mạ. Người con đó, sau này đă trở thành một họa sĩ nổi tiếng ở bên Mỹ và chính anh ta đă kể lại câu chuyện cho tôi nghe. Cái đêm hôm anh ta sắp rời nhà, dưới ánh sáng ngọn đèn dầu lạc mù mờ, hai mẹ con khóc, rồi bà mẹ đă nói như vậy. Bà mẹ quê này chưa bao giờ được học triết học, chưa bao giờ được học khoa học nhưng đă có tuệ giác của tổ tiên ở trong bà, bà biết rằng con ḿnh là sự tiếp nối của ḿnh và biết rằng mỗi tế bào của con ḿnh đều chứa đựng ḿnh ở trong đó.

Trong 40 năm giảng dạy đạo Phật ở Tây phương chúng tôi đă có cơ hội khai trí cho những người trẻ, người trí thức ở Tây phương được điều đó. Tôi cho họ biết là khi mà ḿnh giận cha giận mẹ tức là ḿnh không thấy được sự thật ḿnh là sự tiếp nối của cha của mẹ. Nếu ḿnh quán chiếu cho thật sâu sắc th́ ḿnh thấy rằng sở dĩ cha làm như vậy, mẹ làm như vậy là tại v́ cha và mẹ đă không có cơ hội gặp được thầy, gặp được bạn để có thể tiếp thu được những giáo lư, những phương pháp để có thể chuyển hoá được những nỗi khổ niềm đau của ḿnh và do đó nên đă làm vung văi những nỗi khổ niềm đau đó xung quanh ḿnh. Thấy được như vậy rồi th́ tự nhiên người con sẽ tha thứ được cho bố, tha thứ được cho mẹ và hết ḷng thực tập để có thể chuyển hoá được những nỗi khổ niềm đau ở trong ḷng và sau đó sẽ trở về giúp cho bố, giúp cho mẹ. Chúng tôi đă giúp cho hàng ngàn, hàng chục ngàn thanh niên Âu Châu và Mỹ Châu làm được chuyện đó.

Chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau trong họ, những nỗi khổ niềm đau mà đă được cha mẹ trao truyền và sau đó ḥa giải được với cha với mẹ ở bên trong ḷng ḿnh trước khi trở về ḥa giải được với cha với mẹ ở ngoài, chuyện đó là chuyện có thể làm được v́ những phương pháp thực tập rất là cụ thể. Bậc cha mẹ, khi giận con, cũng hay có khuynh hướng muốn từ con : mày không phải là con của tao, con của tao nó không thể nào như thế được, con của tao nó không có những yếu kém như thế. Nhưng nếu  nh́n cho kỹ th́ ḿnh thấy rằng tổ tiên ḿnh tuy rằng có những bậc đức hạnh rất là cao, tài năng rất là xuất chúng, nhưng cũng có những tổ tiên yếu kém. Nếu chúng ta có Lư Thường Kiệt th́ chúng ta cũng có Trần Ích Tắc và như thế, khi mà chúng ta biết nh́n bằng con mắt của hiểu, của tuệ giác th́ ta vẫn có thể chấp nhận được, chúng ta thấy tội nghiệp cho những người yếu kém. Những người đó đă không có những cơ hội tiếp thu những giáo lư, những phương pháp thực tập để có thể chuyển hóa những yếu kém của ḿnh. Khi chúng ta nh́n các con của chúng ta, có những đứa con mà chúng ta rất bằng ḷng, nhưng mà cũng có một hoặc hai đứa con mà chúng ta không bằng ḷng. Nếu như thế th́ chúng ta nên nghĩ rằng tổ tiên chúng ta cũng có những người yếu kém và chính trong chúng ta cũng có yếu kém th́ chúng ta là ai mà không chấp nhận yếu kém của con cháu chúng ta?  Chúng ta phải làm đủ mọi cách có thể, để giúp cho con, để những đứa con yếu kém đó có cơ hội nhận diện và chuyển hóa được những yếu kém đó. Và nhờ thế nên những giận hờn những buồn tủi trong ta sẽ tan biến, sẽ được thay thế bằng t́nh thương. Đối với những đứa con giỏi chúng ta không cần phải để nhiều th́ giờ và năng lực, c̣n đối với những đứa con c̣n yếu kém th́ với nhận thức đó với t́nh thương đó chúng ta sẽ để th́ giờ ra, để hết năng lượng ra mà giúp con.

 

Lắng nghe và ái ngữ :

 

Trong đạo Phật có hai pháp môn rất là mầu nhiệm là pháp môn lắng nghe và pháp môn ái ngữ. Khi con muốn tập đến với cha bằng phương pháp lắng nghe th́ người con sẽ nói như thế này: Bố ơi! Con biết là trong những năm qua, bố đă có rất nhiều khó khăn, bố có nhiều bức xúc, có nhiều khổ đau, con đă không giúp được bố mà con lại làm cho t́nh trạng trở nên tệ hơn. Con xin bố thương con mà đừng buồn. Bây giờ con rất mong được bố nói cho con nghe tất cả những khó khăn, những bức xúc, những tuyệt vọng của bố để con có thể hiểu. Và một khi con hiểu rồi th́ con sẽ không dại dột nói và làm những điều gây đau khổ cho bố. Bố ơi! Bố giúp con đi, con đâu muốn làn cho bố khổ, nhưng tại v́ con dại dột, con không biết được những nỗi khổ niềm đau và những khó khăn của bố. V́ thế con đă làm cho t́nh trạng đó tệ hơn, bố tha lỗi cho con nhé và bố giúp con đi. Nói được như vậy gọi là nói bằng lời ái ngữ và khi mà ḿnh mở được trái tim của người bố, bố mới bắt đầu chịu nói cho ḿnh nghe những khó khăn, những khổ đau, bức xúc của bố. Nhưng trong khi bố nói, ḿnh phải thực tập phương pháp thứ hai là đế thính, tức là lắng nghe. Đó là hạnh của Bồ tát Quan Thế Âm. Bồ tát Quan Thế Âm là một người biết lắng nghe. Khi người kia sử dụng ngôn từ có tính cách lên án buộc tội, chua chát và đầy những tri giác sai lầm mà ḿnh vẫn có khả năng lắng nghe th́ ḿnh mới là một vị Bồ tát, tại v́ ḿnh lắng nghe với một mục đích duy nhất là cho người kia một cơ hội để người kia có thể nói ra được tất cả những nỗi khổ niềm đau của họ cho nó vơi đi và đó chính là hạnh, sự thực tập của Bồ tát Quan Thế Âm. Lắng nghe dù người kia nói bằng giọng trách móc, chua chát đầy dẫy những lời buộc tội. Ḿnh vẫn lắng nghe, tại v́ ḿnh lắng nghe bằng tâm từ bi, lắng nghe với một mục đích duy nhất là để cho người kia có một cơ hội nói ra tất cả những niềm đau nỗi khổ cho nhẹ bớt. Đó gọi là bi thính, nghe bằng ḷng từ bi, nghe để giúp cho người kia bớt khổ. Và nếu trong thời gian lắng nghe một giờ hoặc một giờ rưỡi mà  ḿnh nuôi dưỡng được từ bi trong ḷng, ngồi đó nghe mà luôn tự nhắc rằng lắng nghe không phải là để lư luận, cải vả lại, phê b́nh hay là đánh giá, mà lắng nghe chỉ với một mục đích duy nhất là cho người kia có một cơ hội để người kia có thể nói ra được. Có thể từ trước đến nay chưa có ai có khả năng ngồi nghe người đó, hoặc thiên hạ chỉ nghe lơ là cho qua việc và v́ vậy cho nên người đó chưa bao giờ có cơ hội được thật ḷng chia sẻ để làm vơi nhẹ những khổ đau trong ḷng ḿnh. Hai phương pháp lắng nghe và ái ngữ là hai phương pháp rất quan trọng : ái ngữ là khi ḿnh nói ḿnh sử dụng ngôn từ như thế nào để ḿnh có thể nói hết được những điều trong trái tim ḿnh nhưng nói mà người kia có thể nghe được, có thể chấp nhận được và lắng nghe là nghe với tâm từ bi. Trong những khóa tu mà chúng tôi tổ chức cho những người Tây phương tại các thiền viện tây phương của chúng tôi ở Âu Châu hay Mỹ Châu, tất cả mọi người đều phải học tập, học nắm cho vững những phương pháp đó. Nhờ thế chúng tôi đă giúp cho vô số những cặp cha con, những cặp vợ chồng ḥa giải được với nhau bằng những phương pháp thực tập rất cụ thể. Trước hết là luyện tập để chế tác năng lượng của niệm và của định để có thể nhận diện, ôm ấp những nỗi khổ niềm đau của ḿnh, để rồi tập nh́n sâu vào những nỗi khổ đó và khám phá những gốc rễ xa gần của những nỗi khổ niềm đau kia và t́m cách chuyển hóa nó. Khi làm được cho ḿnh rồi, ḿnh có thể trở về để giúp người kia, người kia có thể là chồng ḿnh, vợ của ḿnh hay là cha của ḿnh hay là con của ḿnh với phương pháp gọi là thực tập lắng nghe và ái ngữ. Có lắng nghe ḿnh mới thiết lập lại được truyền thông và nếu truyền thông được thiết lập rồi th́ hiểuthương có thể thiết lập lại được.

Chúng tôi mong rằng trong tương lai, chúng ta có thể đưa vào nền giáo dục con em chúng ta những  phương pháp thực tập rất là cụ thể đó, tại v́ theo kinh nghiệm của chúng tôi th́ thiết lập lại được truyền thông, đem lại hạnh phúc cho gia đ́nh là những chuyện chúng ta có thể làm được, nó không phải thuộc về phạm vi của tín ngưỡng, của sự cầu nguyện, nó thuộc về phạm vi của tuệ giác của sự thực tập rất là khoa học. Những phương pháp như vậy quá cần thiết cho hạnh phúc con người nhưng chưa có trường học nào trên thế giới dạy điều đó.

 Đọc tiếp phần III

Một số bài Pháp thoại và tác phẩm của Thầy Nhất Hạnh

F Sự kết hợp kỳ diệu giữa thờ cúng tổ tiên của người Việt với tuệ giác đạo Phật.

   phần I:   giới thiệu

   phần II:  pháp thoại

   phần III:  trao đổi

F Vai tṛ của Phật giáo trong xă hội đương đại.

   phần I: pháp thoại

     pháp thoại (tiếp theo) 

   phần II:  trao đổi

F Tôn giáo và sự lành mạnh hoá xă hội.


Pháp thoại bằng audio

F   Pháp thoại trong năm 2006: Bài giảng ghi âm MP3  

F   Pháp thoại trong chuyến đi Việt năm 2007: Bài giảng ghi âm MP3  


Pháp thoại bằng video

F  An lạc trong từng bước chân,

         Sự tỉnh thức,

         An lạc trong phút giây hiện tại,

         Thiền hành.  ►►


BÀI VIẾT

» Ǵn giữ cho nhau (bài giảng ở toà Bạch ốc 12/2000)

» Nạn xưa trút sạch

» Tu phước và Tu huệ

» Ba câu trả lời mầu nhiệm

» Thắp sáng hiện hữu

» Bông Hồng cài áo
» Để thiết lập đối thoại
» Ôm cơn giận vào ḷng
» Kẻ thù ta
» Đối phó với cơn băo cảm xúc
» Để thiết lập đối thoại
» Làm lại thâm t́nh
» Hiến tặng cho nhau những điều tốt đẹp
» Vấn đề nhân vị trong đạo Phật
» Giấc mơ của chúng ta
» Tôi sẽ nói ǵ với Bin Laden (trả lời phỏng vấn)

» Resting in River, English version

» Question and Answer

» Interbeing

» Love letter

 Từ điển Làng Mai


SÁCH

» Tuổi trẻ t́nh yêu lư tưởng
»

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Design by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE