Trích Từ TCS-Forum
Lời giới thiệu:
Sâm Thương, nhà văn, biên kịch, một trong các người bạn chí
thân luôn luôn có mặt bên Trịnh Công Sơn trong nhiều năm
tháng sau cùng, đă khởi sự những trang viết về cuộc đời
người nhạc sĩ. Nhân dịp năm thứ ba TCS qua đời, Sâm Thương
đă ưu ái dành cho TCS-forum được hân hạnh đưa lên mạng phần
thứ nhất: từ thuở ấu thơ cho đến năm TCS mười chín tuổi.
Mai Ninh
Thời Thanh Xuân của Trịnh Công Sơn
Bài của Sâm Thương
Một tháng sau hiệp ước Munich (1), Nhật bắt đầu cuộc Nam
tiến bằng việc chiếm đóng Quảng Châu, cô lập Hồng Kông khỏi
đại lục Trung Quốc. Ngày 10.2.1939, bước đầu Nhật tiến
chiếm các cứ điểm chiến lược ở biển Đông đảo Hải Nam gần bờ
biển Đông Dương thuộc Pháp và quần đảo Sinam, Trường Sa.
Mùa Xuân năm 1939, Đức quốc xă kéo quân đến biên giới Tiệp
Khắc, và ngày 13.3 năm đó, xâm nhập vào thủ đô Prague của
Tiệp Khắc. Một tháng sau, ngày 7.4, quân đội Ư đánh chiếm
lănh thổ Albanie trong vùng Balcan. Các quốc gia Tây Âu yếu
thế, không có phương án đối phó, đành phải quay về một số
nước nhược tiểu ở miền đông để thiết lập một “pḥng tuyến
cuối cùng để bảo vệ ḥa b́nh”. Ngày 13.4.1939, hai
chính phủ Anh, Pháp kư với chính phủ Ba Lan một hiệp ước
liên minh quân sự. Nhưng ngày 28.4 1939, Đức xóa bỏ Hiệp
ước bất xâm phạm với Ba Lan (2), và tuyên bố băi bỏ luôn cả
Ḥa ước Anh–Đức (3).
Ngày 25.5.1939,
Hitler và Mussolini cùng kư kết một Hiệp ước mang tên Pact
of Steel (4) liên minh hai quốc gia Đức -Ư về mọi phương
diện. Đức quốc xă bắt đầu uy hiếp Ba Lan và lên tiếng đ̣i
lại hải cảng và eo đất Dantzig ở bên trong lănh thổ quốc gia
này. Chiến Tranh Thế Giới thứ hai đă khởi đầu với những đau
thương tang tóc chưa từng có.
Trong khi đó,
Việt Nam đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, một
nước Pháp đang chà đạp các dân tộc thuộc địa và run rẩy
trước sức mạnh của bọn Phát-xít Đức đang lớn dậy. Trịnh
Công Sơn đă có mặt trên “cơi tạm” này trong một bối cảnh
chính trị thế giới và quốc nội như thế đó.
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại Daklak,
cha là Trịnh Xuân Thanh, mẹ là Lê Thị Quỳnh. Thật ra, Daklak
không phải quê quán của anh, cha mẹ anh trước đây đều sinh
sống tại Thừa Thiên- Huế, gốc làng Minh Hương, xă Hương
Vinh, huyện Hương Trà. Thân sinh Trịnh Công Sơn là một người
yêu nước, không chấp nhận chế độ hà khắc và bạo ngược của
thực dân Pháp đối với đồng bào ḿnh, nên đă có những họat
động bí mật chống đối nhà cầm quyền Pháp, ủng hộ những lực
lượng kháng chiến. Nói đúng, ông không đứng trong hàng ngũ
những người Cộng Sản, mà chỉ là một người yêu nước như bao
nhiêu người Việt Nam yêu nước khác thời đó. Do luôn bị mật
thám của Pháp theo dơi và gây không ít khó khăn, năm 1937,
ông đă lặng lẽ đưa vợ vào sinh sống ở Daklak. Ở đây, ông mở
cửa hiệu may mặc Kam Tik trên đường Nguyễn Thái Học (nay là
đường Điện Biên Phủ), cạnh rạp chiếu bóng Buôn Mê Thuột.
Trịnh Công Sơn không phải là đứa con đầu của cặp vợ chồng
trẻ từ Huế vào đây định cư. Sơn có một người anh tên Trịnh
Xuân Dương, sinh trước Sơn ba năm tại Huế, nhưng chưa được
hai tháng tuổi th́ mất. Trịnh Công Sơn nghiễm nhiên trở
thành con trai trưởng trong gia đ́nh họ Trịnh (5). Nhưng
gia đ́nh Sơn cũng không ở Daklak được lâu, bốn năm sau khi
Sơn ra đời th́ gia đ́nh quay trở về Huế, ngụ tại Bến Ngự.
Mùa hè năm 1944, sau khi nước Pháp được giải phóng, De
Gaulle và nước Pháp tự do phải đối mặt với vấn đề xây dựng
một chính sách chung đối với đế chế thuộc địa Pháp trong
thời hậu chiến. Chính sách cơ bản của Pháp là muốn hất cẳng
quân phiệt Nhật, quay trở lại Đông Dương, tập trung vào việc
tạo ra một cơ cấu chính trị, trong đó toàn thể đế chế đều
được đại diện, nhưng thực chất quyền kiểm soát chủ yếu vẫn
nằm trong tay các chính quyền bảo hộ.
Mùa Thu năm
1945, Trịnh Công Sơn lên sáu, tuổi cắp sách đến trường th́
chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu, Nhật đầu hàng Pháp và Cách
Mạng tháng tám bùng nổ. Sơn theo học trường tiểu học Trần
Quốc Toản (Thành Nội, Huế ), nhưng chỉ học ở đây một năm,
rồi chuyển về học trường Nam Giao. Thời gian này gia đ́nh
Sơn ở Bến Ngự. Qua khỏi cầu Bến Ngự là đường Phan Chu
Trinh, đi thẳng là đường Nguyễn Hoàng, nay đổi là đường Phan
Bội Châu. Qua đường rầy xe lửa, đi thẳng lên dốc, hẻm đầu
tiên bên trái có giếng nước là nhà Sơn. Nay là số 43B Phan
Bội Châu, Huế.
Cũng cần nói thêm, cách nhà Sơn không xa, có hai địa điểm
rất quan trọng đối với tuổi thơ của Sơn mà thỉnh thoảng Sơn
vẫn nói tới trong chỗ thân t́nh. Địa điểm thứ nhất: quay trở
lại cầu Bến Ngự, thay v́ đi thẳng đường Nguyễn Hoàng, đến
đường Phan Chu Trinh rẽ trái, khoảng 50 mét là đồn Hiến
binh Pháp. Nơi đây là chỗ tạm giam những người bị t́nh nghi
có tham gia hoạt động chống đối chính quyền bảo hộ. Hằng
đêm, người dân sống quanh khu vực này vẫn thường nghe tiếng
la hét, giẫy giụa của những tù nhân bị tra khảo, hỏi cung.
Đặc biệt, phía trước bờ rào của đồn Hiến binh có một cây
cóc, quanh năm trái xanh trĩu nặng. Không biết có phải v́
những trái cốc xanh chọc thèm hay v́ một lư do tiềm ẩn nào
khác, mà đám trẻ, trong đó có Sơn, mỗi khi đi ngang qua
thường t́m cách lấy đá ném vào, cho đến khi bọn Tây trong
đồn xách súng ra, cả đám mới chịu bỏ chạy.
Địa điểm thứ hai trên đường Nguyễn Hoàng, qua khỏi đường
rầy là một con đường nhỏ dọc theo đường xe lửa. Ngay ngă tư
này, bên trái có một cây bàng cổ thụ, thân cây to lớn, tàng
lá che cả một khoảng trời. Có những buổi sáng sớm, dân
chúng nhốn nháo, tụ tập trước cây bàng đó để chứng kiến
những xác người chết, Tây có ta có, bị chém treo ngành, đầu
quoặt ngược, với hàng chữ bằng máu viết lớn trên ngực áo
hay trên băng vải: “Đây là h́nh phạt dành cho những tên
Việt gian bán nước” hoặc “Tên xâm lăng, cướp nước
phải đền tội”. Những hàng chữ và h́nh ảnh này vẫn luôn
gây sự xôn xao chú ư của dân chúng sống quanh vùng, kể cả
đám học sinh nhỏ tuổi như Sơn hồi đó. Những lần như thế,
trước khi đến trường, Sơn theo chân một vài đứa bạn lén lút
theo dơi cảnh tượng đó, rồi tản đi một ḿnh với những suy
nghĩ có lẽ chưa được định h́nh…
Một thực tế khác, trực tiếp tác động đến suy nghĩ và hành
động của Sơn, bắt anh phải nh́n thẳng vào sự thật lịch sử.
Đó chính là cuộc đời và thân phận nghiệt ngă của thân sinh
anh. Theo như lời Sơn kể th́ từ 1945 đến 1949, năm năm
liền, năm nào thân sinh anh cũng bị bắt giam trong lao Thừa
Phủ, Huế mỗi khi t́nh h́nh có dấu hiệu biến động. “Thời
gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và
năm 1949 tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi, một
năm trước khi cả gia đ́nh cùng kéo nhau vào Sàig̣n” (6).
Nh́n thấy h́nh ảnh cha tiều tụy với thân thể đầy những vết
đ̣n roi hiểm ác khi bước ra khỏi cổng nhà tù, anh đă nghẹn
ngào ôm chặt lấy cha, ḷng đầy đau thương và phẩn hận.
Những ấn tượng đó chẳng bao giờ phai nhạt trong kư ức anh.
No sẽ theo đuổi, bám chặt lấy anh trong cuộc sống cũng như
trong sáng tác của anh sau này.
Sơn và thế hệ của anh vẫn c̣n quá nhỏ để hiểu biết và
trách nhiệm về tất cả những biến động lịch sử đang diễn ra
trước mắt.
Năm 1949, nói
là “cả gia đ́nh kéo nhau vào Sàig̣n “, nhưng thực tế,
để thuận lợi cho việc khuếch trương buôn bán, thân sinh anh
cho mở văn pḥng giao dịch ở Sàig̣n; ông đưa Sơn, Hà vào
trước, những người c̣n lại năm sau mới vào. Ban đầu, Sơn
cùng gia đ́nh ở đường Calmette, Tân Định (nay là Đinh Công
Tráng) một thời gian, rồi chuyển đến đường Dypre (một đường
nhỏ cắt ngang đường Nguyễn Trăi) và cuối cùng dọn đến đường
Parinol (nay là đường Đặng Trần Côn). Vào Sàig̣n, Sơn học
lớp nhất trường Hưng Đạo, Cống Quỳnh (1949-1950). Lên cấp
hai, Sơn chuyển qua chương tŕnh Pháp ở Jean Jacques
Rousseau cho đến khi thi xong Brevet (1950-1954).
Khoảng tháng tám 1954, sau khi hiệp định Genève được kư
kết, cả gia đ́nh Sơn quay về Huế, mở cửa hàng Thanh Tâm ở
đường Hàng Bè (Huỳnh Thúc Kháng), sau đó chuyển về số 79 B
đường Gia Long (nay là Phan Đăng Lưu ) giao dịch và phân
phối phụ tùng xe đạp, xe gắn máy cho các đại lư ở Huế và
các vùng phụ cận.
Trở lại Huế,
Sơn học ở Lycée Francais một năm, năm sau chuyển qua trường
Providence (Thiên Hựu), tốt nghiệp Tú tài 1 (Bac I ) niên
khóa 1955-1956. Trường Providence là một trong ba trường tư
thục lớn thuộc Giáo hội Thiên Chúa giáo. Thời đó, ở Huế
những ai được theo học trường Providence, Pellerin (nam) hay
Jeanne D’Arc (nữ ) đều là những gia đ́nh khá giả. Trong
thời gian này, Sơn đă bắt đầu tiếp cận với những tác phẩm
của Alfred de Musset, Alphonse Daudet , Anatole France,
Saint Exupery v.v …
Dù học trường Pháp, được giáo dục theo chương tŕnh Pháp,
Sơn và thế hệ anh đều cùng chứng kiến đất nước bị chia cắt,
sông Bến Hải làm lằn mức phân ranh Bắc Nam. Một lần nữa,
anh và thế hệ của anh chưa phải là những kẻ chịu trách nhiệm
trực tiếp về t́nh trạng đau thương đó. Bởi anh chưa đủ trí
khôn để t́m hiểu lư do tại sao lớp cha anh ḿnh cầm súng bắn
vào nhau, coi nhau như thù địch.
Sau hiệp định Genève cuộc chém giết tạm ngưng không lâu,
tổng tuyển cử giữa hai miền được ấn định vào năm 1956 bị hủy
bỏ, máu lại tiếp tục đổ, xác đồng bào tiếp tục ngă xuống.
Sơn và thế hệ của anh lớn lên trong khung cảnh tưởng như
thanh b́nh của chế độ Ngô Đ́nh Diệm. Tất cả đều được nuôi
dưỡng, giáo dục tại miền Nam, do chính quyền miền Nam đảm
nhận. Chữ giáo dục ở đây tôi dùng theo nghĩa rộng, bao hàm
cả hệ thống thông tin, tuyên truyền.
Một sự thật không ai có thể phủ nhận được, đó là chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm đă tiếp nhận nửa phần đất bên này trong
tay thực dân Pháp do sự dàn xếp của người Mỹ với một xă hội
mà trong đó những giá trị cũ đă đỗ vỡ, hủy hoại. Bi đát là
miền Nam không t́m thấy một hệ thống lư thuyết nào thay vào
chỗ trống. Thật ra, chính quyền Ngô Đ́nh Diệm cũng đă ư
thức được sự thiếu hụt đó và đă nổ lực bù đắp bằng cách xây
dựng một học thuyết, nhưng thực chất học thuyết đó chỉ là
một sự mô phỏng và vay mượn chủ nghĩa Nhân Vị
(Personnalisme) của Emmanuel Mounier (7) .
Thực tế đă cho thấy chủ nghĩa Nhân Vị của chính quyền Diệm
không đáp ứng được nhu cầu lịch sử dân tộc, không phù hợp
với những biến chuyển chung của nhân loại, bao hàm như một
tư tưởng chủ đạo làm nền tảng để quan niệm và tổ chức xă
hội. Tuy nhiên, dù dụng tâm chủ yếu của chính quyền Ngô
Đ́nh Diệm là muốn rèn luyện cho thế hệ trẻ của ḿnh một tinh
thần chống Cộng, nhưng không thể phủ nhận nền giáo dục đó đă
góp phần tạo được những ư hướng tốt đẹp như đề cao ḷng yêu
nước, tinh thần bất khuất chống xâm lăng và lănh thổ Việt
Nam là một dải đất h́nh chữ S chạy dài từ ải Nam Quan đến
mũi Cà Mau, chứ không phải chỉ nửa nước với h́nh thù kỳ dị
như đă được vẽ trên các bản đồ của các căn cứ quân sự Mỹ,
hay trong sách giáo khoa bậc tiểu học do chính phủ Hoa Kỳ
gửi tặng vào thời kỳ đó.
Dù chỉ đề cao bằng lời nói, những bài học đó cũng có một
tác dụng thật vô cùng quan trọng và lâu bền trong tâm hồn
những thế hệ trẻ ở miền Nam. H́nh ảnh một Nguyễn Huệ, một
Hoàng Hoa Thám, một Phan đ́nh Phùng, Nguyễn Thiện Thuật,
Nguyễn Trung Trực v.v… vẫn là h́nh ảnh chói sáng với gương
anh hùng cứu nước.
Suốt thời kỳ đó, Sơn và những người cùng thế hệ với anh đă
bị che đậy, bị cấm đoán để không biết ǵ về cuộc kháng chiến
chống Pháp lần thứ hai mà trong đó những thế hệ cha anh họ
tham dự. Họ không biết ǵ về miền Bắc xă hội chủ nghĩa,
ngoài những điều mà chính quyền Ngô Đ́nh Diệm muốn họ biết.
Sơn cũng như
nhiều đứa trẻ cùng tuổi khác, đă sống và lớn lên bên sông
Hương, núi Ngự. Hằng ngày, nh́n thấy vết tích trên những
thành quách cổ kính, cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp,
những chuyến đ̣ ngang, những con đường chạy dài thẳng tắp
với hai hàng cây long năo lá xanh, những chùm phượng vỹ đỏ
rực, những tà áo trắng, những chiếc nón lá nghiêng nghiêng
ngày ngày cắp sách đến trường, những cơn mưa rả rích kéo
dài… Bên tai Sơn vẫn nghe tiếng cầu kinh niệm Phật, tiếng
chuông chùa buổi sáng buổi chiều, những câu ḥ nhịp nhàng từ
giữa sông vọng lại càng làm Sơn đắm ch́m trong thế giới mơ
mộng, khát vọng của riêng ḿnh. “Thuở ấy, tôi là một
đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những
bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo
trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và
từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm
cho chính ḿnh hát ” (8).
Ngày 17.6.1955, thân sinh Sơn đă cùng với ông Lộc Lợi và
ông Lê Văn Tông (em trai mẹ Sơn ) mỗi người mỗi xe trên
đường đi Quảng Trị- Huế với kế hoạch mở rộng mạng lưới làm
ăn. Trong khi ông đang điều khiển chiếc vespa trên đường
th́ bị một chiếc xe hàng đụng phải và ông đă mất mấy tiếng
đồng hồ sau khi được chở đến bệnh viện.
Trước nay, tất cả kinh tế gia đ́nh do cha anh đảm đương.
Ông chính là trụ cột của gia đ́nh. Mọi chu cấp cho anh và
các em ăn học, một cuộc sống đầy đủ, có thể nói phong lưu
hơn phần lớn những người cùng trang lứa với anh, nhất là ở
một thành phố nhỏ và trầm lặng như Huế đều do một tay ông
sắp xếp. Ngay từ thời đó, gia đ́nh Sơn là gia đ́nh đầu tiên
có được một chiếc máy hát đĩa, khi thứ máy móc mới này bắt
đầu xuất hiện. Cha mất, đối với Sơn là một biến cố quan
trọng. Chính Sơn đă thú nhận:” Thời thơ ấu tôi luôn luôn
bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hằng đêm tôi thường
thấy cái chết của ba tôi” ( 9).
Trong thời gian chịu tang cha, Sơn quy y ở chùa Phổ Quang,
lấy pháp danh là Nguyên Thọ. Có thể trong nỗi đau mất mát
quá lớn Sơn t́m đến Phật Tổ như một sự nương tựa của tâm
hồn. Thực ra, đối với Phật giáo, Sơn vốn có duyên nợ. Theo
như Sơn cho biết, ngay từ thuở bảy, tám tuổi, Sơn đă có
thói quen một ḿnh mang sách vở vào vườn chùa ngồi học, đọc
sách, suy nghĩ hoặc tập ngồi chép kinh Phật bằng chữ Hán.
Chính tư tưởng Phật giáo đă thấm dần trong máu huyết Sơn,
giúp Sơn tiếp cận và thấu hiểu được cái tâm của ḿnh, cái
tâm của người, điều khó khăn nhất trong những điều khó khăn
nhất của kiếp người.
Hết hè 1956, sau khi tốt nghiệp Tú tài 1 (Bac 1) Sơn một
ḿnh vào Sàig̣n học ban triết (classe Philo) ở Jean Jacques
Rousseau. Từ đây, Sơn có những chuyến đi dài. Sơn không
c̣n ở tuổi mười lăm non trẻ để phải mơ ước làm người lớn.
Sơn có thể thực hiện cái mộng “ lăng du trong người, cứ
lên đường và đi. Đi để có một khoảng cách với quê nhà, với
t́nh yêu, đi để có một cái ǵ để lại phía sau. Đi để có
những lá thư gửi về, để có thêm những nỗi nhớ nhung, những
lời than thở ” (10) .
Sơn có một đặc tính nổi bật, đó là thích “ăn ngon mặc đẹp”.
Có lẽ phát xuất từ quan niệm giáo dục của mẹ Sơn, một phụ nữ
mang đặc trưng Huế quư phái và đảm đang. Đối với bà, bữa
cơm khi được dọn lên bàn, không chỉ ngon, nhiều món mà c̣n
phải đẹp, màu sắc thức ăn phải hài ḥa mỹ thuật. Ngay từ
năm học lớp mười (troisième) áo quần của Sơn lúc nào cũng
thẳng nếp, giày bóng loáng, tóc chải láng mượt. Đi chơi, đi
học và ngay cả khi ở nhà, khi ngồi vào bàn ăn đều rất lịch
sự, tươm tất. Thói quen đó Sơn vẫn giữ cho đến khi mất. Do
đó, những khi ốm đau trên giường bệnh, Sơn không thích ai
đến thăm viếng. Sơn không muốn h́nh ảnh của ḿnh không đẹp
trong mắt người khác, nhất là với phụ nữ. Bởi v́ đối với
Sơn:” Con người đẹp nhất đối với tôi là thiếu nữ, với
những vẻ đẹp theo cách nh́n của tôi “ (11). Và “(…)
Bởi nó ( nhan sắc-ST ) làm cho con người thấy cuộc
đời là đẹp, là đáng tồn tại để ngắm nh́n. Là thật đáng sống
bởi v́ không thể có một lời hứa hẹn thiên đường nào đ̣i hỏi
con người phải yêu thương hơn nơi đây. Quê hương là em. Các
em làm sinh nở cuộc đời. Và từ đó cuộc đời mới biết hát ca”
(12).
Ở tuổi mới lớn, Sơn cũng có những mối t́nh lăng đăng,
sương khói, hoàn toàn không có ǵ cụ thể. Dường như cả thế
hệ của Sơn ở Huế đều như vậy, “yêu một mái tóc , một dáng
h́nh, mỗi ngày chỉ cần nh́n thấy mặt nhau, thấy em qua khung
cửa sổ là cả ngày thấy vui. Có khi đạp xe sau lưng em mà em
không biết ḿnh là ai, vẫn thấy vui như thường “ (13).
Về mặt cơ thể, Sơn có một đặc điểm không mấy người biết.
Khác với chúng ta, Sơn có đến ba trái thận. Không biết sự
khác biệt này có ảnh hưởng ǵ đến tính cách và năng lực của
Sơn? Có lẽ điều này phải nhờ đến những nhà chuyên môn giải
thích.
Có một điều trái ngược với suy nghĩ của nhiều người khi bắt
gặp h́nh hài ốm yếu của Sơn sau này. Thời trai trẻ, Sơn có
một thân h́nh rắn chắc, khoẻ mạnh, thích chơi thể thao. Sơn
không chỉ luyện tập điền kinh, mà c̣n học cả Vô Vi Nam đến
đai nâu.
Trong chuyến về thăm nhà giữa năm học, một lần Sơn dợt
chơi với Hà, em trai kế của Sơn. Hà đă tung một đ̣n vai,
Sơn ngă xuống sàn, cùi chỏ Hà vô t́nh đập vào ngực Sơn làm
vỡ mạch máu phổi. Sơn phải nằm dưỡng bệnh hơn cả năm trời.
Đây chính là nguyên nhân chuyển biến cuộc đời Sơn sang một
hướng khác. Nói như Nguyễn Du:
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Những ngày tháng trên giường bệnh, Sơn ngấu nghiến
đọc Apollinaire, Marcel Pagnol, Jacques Prevert,
Rabindranath Tagore, Marcel Proust v.v… trước khi đọc
Nietzsche, Nikos Kazantzakis, Albert Camus, Jean Paul
Sartre, Heidegger, Merleau Ponti… Sơn đặc biệt yêu thích
những tác phẩm của Albert Camus, truyện Kiều của Nguyễn Du
và triết lư Phật giáo. Sơn đọc đi đọc lại nhiều lần. Sơn
không chỉ tiếp cận với văn học, thi ca mà c̣n mày ṃ, t́m
hiểu dân caViệt Nam, âm nhạc của người da đen: blues, gospel
v.v…
Sơn từng thổ lộ với một vài người bạn thân thiết của anh:
“Khi rời khỏi giừơng bệnh, trong tôi đă có một một niềm
đam mê khác –âm nhạc. Nói như vậy h́nh như không chính xác,
có thể những điều mơ ước, khát khao đó đă ẩn chứa từ trong
phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trổi dậy”
(14).
Trong một bài viết, Trịnh Công Sơn đă khẳng định con đường
anh đă đi trong quá khứ: “Tôi không đến với âm nhạc
như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ ḿnh đă viết những ca khúc
đầu tiên từ những đ̣i hỏi tự nhiên của t́nh cảm thôi thúc
bên trong… Đó là những năm 56-57, thời của những giấc mộng
ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái
thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu
âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái
ham muốn trở thành nhạc sĩ…”
“Dạo ấy ba tôi mất, mẹ tôi ở xa, tôi một ḿnh giữa Sàig̣n
này phải tự quyết định mọi chuyện về đời ḿnh. Cái gánh đời
tuổi tác c̣n quá nhẹ. Có lúc tôi bỏ dở cái tṛ lăng mạn viết
lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc “xướng ca vô loại”. Tôi
trằn trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng
nọ. Nhưng càng cố lăng quên th́ tiếng hát trong tôi càng
vang lên rơ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc
ngủ.”
“ Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu h́nh thành trong tôi
một quan niệm rơ rệt: sống là sống với người khác và muốn có
cảm thông chúng ta phải luôn luôn diễn đạt ḿnh. Trong
những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều
phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn ḿnh có khuynh hướng
nghiêng về phía ca khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn
này, tôi t́m thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở nay tôi có thể
bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của
cuộc sống” (15).
Vào thời điểm này,Trịnh Công Sơn sắp bước qua tuổi mười
chín. Hành trang của anh nặng trĩu trên đôi vai và trong
trái tim cả một tuổi thơ đi qua trong chiến tranh. Trước
mặt anh, không gian mở rộng dần, cuộc chiến tranh tàn khốc
tiếp nối sẽ phủ chụp xuống thân phận của đồng bào anh và của
chính anh. Các vấn đề của cuộc sống, của chiến tranh, của
con người, của thời đại đan chen vào nhau, tác động giao
thoa đă h́nh thành nơi Trịnh Công Sơn một nhân cách đặc biệt
trước khi chính thức nhập cuộc. Anh sẽ sống như thế nào và
làm ǵ để chứng minh sự hiện hữu của ḿnh trước cuộc đời?
SÂM THƯƠNG
Nhân
giỗ lần thứ 3 của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
1.4.2004
_______________________
(1) Hội nghị Munich nhóm họp ngày 29.8.1938 giữa Hitler (Đức)
, Mussolini (Ư), Neville Chamberlain (Anh) và Edouard
Daladier (Pháp ). Hitler cam kết Đức không c̣n tham vọng
xâm chiếm các lănh thổ khác ở châu Âu.
(2) Ngày 2.6.1934, Đức và Ba Lan kư Hiệp Ước bất xâm phạm.
(3) Ngày 3.9.1938 tại Munich, Hitler và Chamberlain (Thủ
Tướng Anh) kư Ḥa ước Anh- Đức xác định nguyện vọng của hai
dân tộc là không bao giờ muốn tiến hành cuộc chiến tranh với
nhau nữa.
(4) Liên minh Đức –Ư tháng 5.1939: Liên minh chặt chẽ về
quân sự và kinh tế sản xuất thời chiến.
(5) Kế tiếp Sơn là hai người em trai: Trịnh Quang Hà
(1941), Trịnh Xuân Tịnh (1944) và năm người em gái gồm Trịnh
Vĩnh Thúy (1947), Trịnh Vĩnh Tâm( 1950), Trịnh Vĩnh Ngân
(1952), Trịnh Hồng Diệu (1953 ) và Trịnh Vĩnh Trinh (1956),
em gái út.
(6) Nhiều tác giả, Trịnh Công Sơn người hát rong qua
nhiều thế hệ, NXB Trẻ 2003 tr.27.
(7) Emmanuel Mounier (1905-1950) nhà triết học
và nhà văn Pháp. Sáng lập tạp chí Esprit, cơ quan ngôn
luận của chủ nghĩa Nhân Vị (Personnalisme), người đă ảnh
hưởng lên Ngô Đ́nh Nhu.
(8,9) Trịnh Công Sơn, Nhạc và Đời, NXB Tổng Hợp
Hậu Giang,1992
(10) Trịnh Công Sơn,Trịnh Công Sơn, Tỏ T́nh với cuộc
sống, Sóng Nhạc, Bộ mới số 1.1999
(11) Trần Hữu Lục, Không nói được trong âm nhạc th́
nói trong hội họa, Tuổi Trẻ số 212 (23.10.1990) .
(12) Trịnh Công Sơn, Hồng nhan, Phụ Nữ TP Hồ Chí
Minh.Xuân 1993
(13) Trịnh Công Sơn, Bạt, Lời của Hoa Hồng,
tập thơ của Trần Hữu Lục, NXB Trẻ,
1998 (14) Tư liệu chưa xuất bản.
(15) Trịnh Công Sơn, Sđd, NXB Tổng Hợp Hậu Giang, 1992
INTRODUCTION:
Sâm Thương, writer, playwright, and one of Trịnh Công Sơn’s
closest friend who was always by Sơn’s side during his very
last years, has begun his memoirs of the composer’s life.
In memory of the third anniversary of Trịnh Công Sơn’s
death, Sâm Thương has exclusively granted TCS-Forum the
privilege to present on line Part One of his memoirs: from
childhood until TCS turned nineteen.
IN SEARCH OF LOST TIMES
Written by Sâm Thương
PART ONE: CHILDHOOD
One month after the Munich treaty (1), Japan began the
Southward march by occupying Guangzhou and isolating
Hongkong from mainland China. On February 12, 1939,
Japanese troops moved into strategic bases east of Hainan
Island near the Indo-China seashore colonized by France, and
on Sinam Island in the Spratly archipelago.
By spring 1939, the German Third Reich moved its troops to
the borders of Czheckoslovakia, and on March 13 of that year
invaded its capital Prague. One month later, April 07, the
Italian army conquered Albany in the Balkans. The weakened
European nations failing to come up with a self-defense
strategy must turn back to a few smaller eastern European
states to establish the “ last belt of defense for peace”.
On April 13, 1939, England and France signed with Poland a
military alliance accord. But by April 28 1939, Germany did
away with both its Treaty of Non-Aggression with Poland (2)
and the Anglo-German Peace Agreement (3).
On May 25,1939, Hitler and Mussolini signed the Pact of
Steel (4) that sealed the absolute alliance between Germany
and Italy. The Third Reich began to threaten Poland and
reclaim the port of Dantzig Strip located deep inside Poland
territory. Second World War was set in motion, engendering
the most horrific destruction that ever existed.
Meanwhile, Vietnam was living under the yoke of colonialist
France, a France that was crushing the indigenous people but
trembling under the raising force of the German fascists.
Trịnh Công Sơn had been present in this “ impermanent world”
under such international and national geopolitical
circumstances.
Trịnh Công Sơn was born in February 28, 1939 in Daklak, to
Trịnh Xuân Thanh, his father, and Lê Thị Quỳnh, his mother.
In reality, Daklak was not his hometown, since previously
both his parents had lived in Thừa Thiên- Huế, as they
originated from Minh Hương village, Hương Vinh hamlet, Hương
Trà district. Trịnh Công Sơn’s father was a patriot who
could not tolerate the harsh and savage regime the French
inflicted on his people. He carried out secret activities
that antagonized the French and supported the Resistance.
In truth, his father did not belong to the communist
movement but was simply a man who loved his country like
many of his fellowmen of the time. Because the French
secret service constantly watched him and caused him
trouble, in 1937 he quietly moved to Daklak with his wife.
Here he opened Kam Tik tailor shop on Nguyễn Thái Học street
(nowadays Điện Biên Phủ street), next to the Buôn Mê Thuật
movie theatre.
Trịnh Công Sơn was not the eldest child of this young couple
who moved from Huế to establish a new life here. Sơn had a
brother, Trịnh Xuân Dương, who was born 3 years before him
in Huế but who died at two-month-old. Trịnh Công Sơn
obviously became the eldest son in the Trịnh’s family (5).
However, Sơn’s family did not stay long in Daklak. When he
turned four, his family moved back to Huế and set residency
in Bến Ngự.
Summer 1944: after France’s liberation, De Gaulle and a free
France were faced with the task of building a post war
policy towards its colonies. France had wanted to get rid
of the Japanese military rule, returned to Indochina, and
set up a political system in which all monarchies would be
represented, but in substance the controlling power would
still reside in the hands of the French protectorate.
Autumn 1945: as Trịnh Công Sơn turned six ready to start
school, he witnessed the At Dậu famine, then the Japanese
surrendered to the Allied and the August Revolution broke
out. Sơn attended Trần Quốc Toản Elementary school ( Thành
Nội, Huế ) for a year before transferring to Nam Giao
school. During this time, his family lived at Bến Ngự.
Passed Bến Ngự bridge, straight ahead on Phan Chu Trinh
street one reached Nguyễn Hoàng street, or Phan Bội Châu
nowadays. Then passed the railroad track, straight uphill
on the first alley on the left, sat a house with a water
well: Sơn’s house. Nowadays it carries the address 43B Phan
Bội Châu, Huế.
Of interest were two spots not too far from Sơn’s house that
played important roles in Sơn’s childhood, and of which he
often recalled to his close friends. The first spot: back on
Bến Ngự bridge, rather than going straight on Nguyễn Hoàng
street, if one turned left on Phan Chu Trinh for about 55
yards, one would find a French garrison. Anyone suspected
of carrying out anti-colonialist activities must pass
through this garrison. Every night, the neighborhood would
hear the screaming and agonies of the detainees being
tortured. In particular, in front of the garrison stood a
golden apple tree that bore green fruits all year round.
Was it because of the green fruits that teased or was it
because of some subconscious reasons that the children,
including Sơn, would invariably throw rocks at the tree each
time they passed by? They would not run away until the
French came out gun in hands.
The second spot on Nguyễn Hoàng street was a small alley
running parallel to the railroad tracks as one passed it.
On the left of this corner stood an ancient tropical almond
tree with a huge trunk and thick foliage that concealed a
patch of sky. Many early mornings, agitated locals would
gather around this tree to witness sights of slashed
corpses, French and Vietnamese alike, hung from the tree,
heads fallen backwards, with words written in blood across
their chests on their chemises or on banners: “ Punishment
reserved for Viet traitors” or “ The invader must pay for
his crime”. Those words and sights would always attract the
troubled attention of the locals as well as of the little
pupils like young Sơn. In such a time, before getting to
school, Sơn would follow his friends to sneak a view at
those scenes, then quietly left on his own carrying thoughts
that probably were still undefined…
Another reality that directly affected Sơn’s thinking and
action, forcing him to face history’s verity was his
father’s life and acute fate. According to Sơn, from 1945
until 1949, every year for 5 consecutive years, his father
was imprisoned at the Thừa Phủ jailhouse, Huế, every time
sign of social unrest surfaced. “ During this time, in
Huế, my mother and I took turn visiting him, and in 1949 I
got permission to join my father in the Thừa Phủ jail, one
year before the whole family moved to Saigon” (6).
When he saw his emaciated father walked out of the
jailhouse, his body ridden with gashes, in tears he would
embrace his father, his heart filled with pain and hatred.
Those images never faded in his memory. They would pursue
him, would hang on to his life and later his composition.
Sơn and his generation were still too young to understand
and bear responsibilities for the historic reality that
unfolded in front of their eyes.
In 1949, although it was said that “ the whole family
moved to Saigon”, in reality as his father opened an
office in Saigon to expand his business, he took only Sơn
and Hà with him, while the others would join them the
following year. For a while at the beginning, Sơn and his
family lived on Calmette, Tân Định (nowadays Đinh Công Tráng
street), then moved to Dypre (a small street that cut Nguyễn
Trải street), and finally relocated to Parinol street
(nowadays Đặng Trần Côn street). In Saigon, Sơn attended
sixth grade at Hưng Đạo School on Cống Quỳnh ( 1949-1950 ).
Then he transferred to the French high school education
system at Jean Jacques Rousseau until he passed the Brevet (
1950-1954 )
By august 1954, after the signing of the Geneva Accord,
Sơn’s entire family returned to Huế and inaugurated Thanh
Tâm shop on Hàng Bè street ( nowadays Huỳnh Thúc Kháng),
later moved to 79 B Gia Long street (nowadays Phan Đăng
Lưu), that distributed bikes accessories to the dealers in
Huế and the vicinities.
After his return to Huế, Sơn attended Lycée Francais for a
year, then he moved on to Providence School ( Thiên Hựu),
and graduated with the Baccalaureate I (BacI) in 1955-1956.
Providence School belonged to the three biggest private
schools managed by the Catholic Church. At the time, only
well to do families in Huế could send their children to
either Providence, Pellerin (boy’s schools) or Jeanne D’Arc
(girl’s school). During this time, Sơn were exposed to work
by Alfred de Musset, Alphonse Daudet, Anatole France, Saint-
Exupéry etc…
Though he enrolled in the French program and was educated
under the French system, Sơn and his generation witnessed
his country being divided North and South at the Bến Hải
river demarcation line. Once more, he and his generation
did not yet bear the responsibilities of this wrenching
situation. He was not mature enough to seek the reasons
that led his forefathers to fire at each other and consider
each other’s enemies.
Following the Geneva accord, bloodshed stopped for a while,
national general election set for 1956 was cancelled,
bloodshed resumed, the people continued to fall. Sơn and
his generation grew up under the seemingly peaceful regime
of Ngô Đinh Diệm. They were raised and educated in the
South, by the southern regime. Herein, I used the term
education in its broader sense that includes communication
and propaganda.
The truth could not be denied: through the American
arrangements, Ngô Đinh Diệm’s regime had inherited half of
the territory compromised by the French domination and
harboring a society in which old values had collapsed and
degenerated. It was tragic that the South could not come up
with any doctrine to fill the void that was left. In fact,
Ngô Đ́nh Diệm’s regime did realize the problem, and had
attempted to build a dogma, but that dogma was really only
an imitation borrowed from the Personnalism theory of
Emmanuel Mounier (7).
Reality had showed that Diêm’s Personnalism did not meet the
historic needs of the people, nor did it fit with humanity’s
evolution as an all-encompassing directive serving as the
foundation for conceptual and social organization. Yet,
although Ngô Đ́nh Diệm’s regime truly intended to forge a
younger generation of anti-Communists, one could not denied
that their education system had cultivated laudable thoughts
such as patriotism, the indomitable will to fight
aggressors, and the realization that Vietnam is one single
S-shaped land running from Nam Quan pass to Cà Mau cape, but
not the oddly shaped half nation as drawn on the American
military maps or in textbooks distributed by the U.S.A at
the time.
Though those lessons were hailed only in words, they
nevertheless strongly impacted on the young generation’s
mind in the South. Images of a Nguyễn Huệ, a Hoàng Hoa Thám,
a Phan Đ́nh Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực
etc. always shone as the paragon of the hero saving the
nation.
For that whole period, Sơn and his generation had been
blinded and forbidden to learn anything about the second
resistance war against the French in which his elder’s
generation had participated. They knew nothing of the
socialist North, except for what Ngô Đ́nh Diệm’s regime
wanted them to know.
Sơn, like other youths of his age, grew up by the Perfume
River and the Ngự Mountain. Everyday, he watched the
temporal imprints on ancient palaces, the Tràng Tiền bridge
with its six arches and twelve spans, the boats streaming
back and fro, the long roads lined on both sided with green
camphor tree and flaming clusters, the white áo dài,
the tilted conical hats bedecking the way to school, the
lingering rain…Still melodious by his ears, the Buddhist
chanting, the temple bell resonating at dawn and by dusk,
the rhythmic lullabies echoing from the river, all that had
plunged him into his own dreamy world filled with longings.
“ At the time, I was a little boy who loves to sing. At
ten, I knew the solfege, I copied my favorite songs and
bound them into books, and I played the mandolin and flute.
At twelve, I got my very first guitar, and since then , I
have been using the guitar as a common instrument to
accompany myself ” (8).
In June 17, 1955, Sơn’s father along with MM. Lộc Lợi and Lê
Văn Tông (his mother’s younger brother) rode their
motorbikes from Huế to Quảng Trị, on their way to expand
their businesses. As his father was manipulating the
vespa, a truck hit him and he died a few hours after he
was transported to the hospital.
Before, his father shouldered all the family’s needs. He
was indeed the pillar of the family. All provisions for Sơn
and his siblings, a comfortable life, if not affluent
compared to his peers especially in a small and quiet town
like Huế, all were the fruits of his father’s labor. Even
at that time, Sơn’s family was among the first to own a
phonograph when this machinery initially appeared on the
market. The death of his father dealt a hard blow to Sơn.
He himself had confessed: “In my childhood, I was
obsessed with death. Many nights in my sleep I would dream
of my father’s death” (9).
While in mourning, Sơn completed his Buddhist initiation
rites at Phổ Quang Temple, and was baptized Nguyên Thọ.
Probably because of the immense loss he experienced, Sơn
took his spiritual refuge in Gautama Buddha. In truth, Sơn
had had a predestined karma with Buddhism. Sơn confided
that since he was
seven or eight, he started the habit of going alone in the
temple’s garden with his
books to study, read, think or copy the Buddhist mantra in
Hán. Certainly the Buddhist thoughts had imbued Sơn, helped
him connect with and understand his own being as well as the
being of others which is the most of the most difficult task
of one’s lifetime.
By the end of summer 1956, after graduating with a
Baccalaureate I, Sơn alone was sent to Saigon to attend
Philosophy class at Jean Jacques Rousseau School. From then
on, Sơn had had many long journeys. Sơn was no longer at
the tender age of fifteen dreaming of being adult. Sơn
could thus fulfill his innate dream to “wander around, to
just take off and move on. To move on to make room with
home, with love, to move on to leave something behind. To
move on to have letters to send home, to harvest more fond
remembrance and grief ” (10).
Characteristic to Sơn was his liking of “fine food and nice
clothing”. This feature must have originated from the
schooling of his mother who was a typical Huế woman,
aristocratic and dependable. With her, a meal served on the
table would not only taste good and include many dishes, but
also would show artistry with the colors of the ingredients
blending in. Since ninth grade (French third grade), Sơn’s
clothing was always neatly pressed, his shoes well polished,
his hair combed sleek. Whether he went out, or was at school
or even stayed at home, every time he sat at the table, his
etiquette was always gracious and elegant. He kept this way
until his death. That was why Sơn did not like to receive
visits on his sick bed. Sơn did not wish to project an
unpleasant image of him in the eyes of others, especially
of women. Because in his opinion: “The most beautiful
creature, to me, is woman, with exquisite features seen from
my own perspective”(11). And “(…) because it
(beauty-ST) inspires people to perceive life as
beautiful, as an existence worth contemplating. This is
worth living because there could not be promise of a
paradise to love more than this world. Home is she. Because
of her, life flourishes. And since then, life learns to
sing”(12).
In his adolescence, Sơn had his share of fluttering misty
love, but nothing was concrete. Sơn’s whole generation
seemed to grow up like that: “to love a flowing
hair, a silhouette, each day suffice to see her face, to see
her through the window and that makes my day. At time to
pedal behind her without her knowing who I am, and that is
happiness” (13).
Regarding his physiology, Sơn had a peculiarity that not
many people knew about. Unlike us, Sơn harbored three
kidneys. Did this dissimilarity affect his characteristics
and capabilities in any way? Only experts on this matter
would be able to expound on it.
There was a contradiction with what people tended to think
when they met the frail Sơn of late. In his youth, Sơn was
a strong healthy lad who loved sports. Not only did he
practice track and field but he also took up Vô Vi Nam
martial arts up to the brown belt.
In a trip home from school break, one day Sơn was practicing
with Hà, his next youngest brother. Hà thrusted his
shoulder forwards throwing Sơn to the floor, and
accidentally Hà’s elbow hit Sơn’s chest breaking the lung
artery. That lent Sơn in bed for over a year to recover.
This incident had altered the course of Sơn’s life. As
Nguyễn Du said:
Bắt phong trần phải phong trần
Ill-fated thou shall bear ills
Cho thanh cao mới được phần thanh cao Bestowed with
grace thou shall live with grace
Bedridden for days and months on end, Son voraciously read
Appollinaire, Marcel Pagnol, Jaques Prevert, Rabindranath
Tagore, Marcel Proust etc…before he took up Nietzche, Nikos
Kazantzakis, Albert Camus, Jean Paul Sartre, Heidegger,
Merleau Ponti…Son particularly liked the work by Albert
Camus, Kieu Epic by Nguyen Du and the Buddhist philosophy,
all of which he read over and over again. Not only did Son
caught up with literature and poetry, he also explored
Vietnamese folksongs and African-American music: blues,
gospel etc…
Son had more than once confided to his few close friends: “When
I recovered, there was a new passion in me - music. Putting
it this way is not quite accurate though: rather those
desires, aspirations have been buried in my subconscious,
and only then did it awaken and erupt” (14).
In one of his writing, Trinh Cong Son had asserted the path
he had traveled: “I did not come to music by vocational
choice. I remember I wrote my first compositions out of
natural wants from urging feelings inside…That was in
‘56-‘57, the age of chaotic dreams, of passing naive
illusions. At that so green an age like young early fruits,
I really loved music but I absolutely did not yearn to
become a musician…”
“ At the time, my father died, my mother was far away,
alone in Saigon I had to make all decision for myself. The
burden of life was still so light. There were times when I
altogether dropped this game of romantic composing because
of my stupid obsession with being the “outcast musician”. I
was sleepless nights after nights, restless for days and
months. The more I wanted to forget the more distinct my
music surged, overwhelming me even when I sit, when I walk,
when I sleep.” “In later years, slowly in me a clear concept
starts to form: to live is to live with other,
and to appreciate each other, we need to constantly express
ourselves. Amongst the various means of expression, oral,
written and others, my soul is inclined towards using lyric
music. In this modest domain of the arts, I find freedom
and I think herein I can share with others the joy and
sorrow of life.” (15).
At the moment, Trinh Cong Son was about to turn nineteen.
He bore heavy loads on his shoulders, and his heart had
spent its whole adolescence in war. Ahead of him, the world
gradually unfolded, and the next vicious war was about to
befall his people and himself. The dilemma of life, war,
being, and of the era had intertwined and in unison had
forged in Trinh Cong Son a distinctive attitude before he
formally engages in existence. How would he live and what
would he do to prove his own existence in the face of life?
SAM THUONG
To commemorate the third death anniversary of composer Trinh
Cong Son
April 01, 2004
Translated by Vân Mai
(1)
The Munich Conference took place on August 29, 1938 between
Hitler (Germany), Mussolini (Italy), Neville Chamberlain
(England) and Edouard Daladier (France). Hitler warranted
that Germany no longer intended to invade other European
nations.
(2)
On June 2, 1934, Germany and Poland signed the Treaty of
Non-Aggression.
(3)
On September 3,1938 in Munich, Hitler and Chamberlain
(England Prime Minister) signed the Anglo-German Agreement,
endorsing the mutual desire of the two people never to war
each other again.
(4)
German-Italian Alliance, May 1939: an alliance about
military and economic wartime production.
(5)
After Sôn, there are two brothers: Tṛnh Quang Haø (1941),
Tṛnh Xuaân Ṭnh (1944); followed by five sisters: Tṛnh
Vónh Thuy (1947), Tṛnh Vónh Tâaâm (1950), Tṛnh Vónh Ngaân
(1952), Tṛnh Hoàng Dieäu (1953), and Tṛnh Vónh Trinh
(1956), the youngest sister.
(6)
Many Authors, Tṛnh Công Son, the troubadour throughout
many generations, Published by Trẻ 2003, p. 27.
(7)
Emmanuel Mounier (1905-1950), French philosopher and writer.
Founder of Esprit Journal, the mouthpiece of Personnalism
Theory, who influenced Ngoâ D́nh Nhu.
(8,9) Tṛnh Cong Son, Music and Life,
Published by Tổng Hợp Hậu Giang, 1992
(10) Trịnh Công Sơn, Trịnh Công Sơn, Courting Life
with Love , Sóng Nhạc, New Edition
1, 1999
(11) Trần Hữu Lục, If I cannot say it in music then I say
it in painting, Tuổi Trẻ number 212 (October 23,
1990)
(12)
Trịnh Công Sơn, Woman’s Beauty, Phụ Nữ TP Hồ Chí
Minh, Spring 1993
(13)
Trịnh Công Sơn, Introduction,Word of the Rose, poetry
book of Trần Hữu Lục, Published by Trẻ, 1998
(14)
Unpublished private documents
(15)
Trịnh Công Sơn, Sđd, Published by Tổng Hợp Hậu Giang,
1992
|