|
Nhân
“Ngày tàn của Phật giáo”, góp ư thêm về chuyện Cư sĩ
nước ta
Nguyễn Kha
Bài điểm sách “Kế
hoạch về ngày tàn của Phật giáo” (Planning the demise of
Buddhism) của tác giả Allen Carr được phổ biến trên
LankaWeb.com, và sau đó được Việt dịch lại trên một số trang
Web Phật giáo trong tháng Bảy vừa qua, đă làm cho một số
Phật tử … giật ḿnh ngạc nhiên. Ngạc nhiên v́ nội dung của
bài điểm sách nầy nhằm cảnh báo về một kế hoạch tinh xảo và
hiệu quả của các nhóm Tin Lành tây phương, đặc biệt là tổ
chức Asia Harvest (Mùa gặt Á châu)
có trụ sở tại Mỹ, đang t́m cách “cải đạo” Phật tử ở các nước
Á châu mà Việt Nam, với hơn 10 triệu Phật tử và gần 50 triệu
người chịu ảnh hưởng văn hóa Phật giáo, là một trong 7 quốc
gia đối tượng bị nằm trong tầm nhắm của họ.
Sau đó, ông Trần Chung Ngọc ở
nước ngoài đă có
bài phân tích hiện tượng “cải đạo” nầy. Đặc biệt, lại có
ông Minh Ngọc ở trong nước
phản hồi bài viết nầy của Allen Carr bằng một cách tiếp
cận rất khoa học là “xét người
th́ cũng nên ngẫm lại ta”
để mô tả những ““hạn
chế và yếu kém” của
Phật giáo Việt Nam hiện nay, khiến chúng ta trở thành
đối tượng “cải đạo” hấp dẫn của các nhóm Tin Lành.
Ông liệt kê bốn lănh vực bất cập:
-
Hoằng pháp: Không thu
hút giới trẻ, chùa chiền thưa thớt xuống cấp, tu sĩ quá ít,
Phật sự tẻ nhạt đ́u hiu.
-
Tác phong tu sĩ: Trên tay ph́
phèo điếu thuốc, quá thân mật với nữ Phật tử, phát ngôn linh
tinh, xuyên tạc chính trị.
-
H́nh ảnh ngôi chùa: Nhà chùa
là cơ sở kinh doanh, nơi buôn thần bán thánh mê tín dị đoan.
-
Gia đ́nh Phật tử: Quá yếu về
số lượng và chất lượng. Cả miền Bắc không có nỗi một đơn vị.
Rơ
ràng là ông c̣n có thể kể thêm nhiều lănh vực nữa. Cũng rơ
ràng là bất kỳ một Phật tử nào cũng có thể nối tiếp ông để
kể ra hàng trăm chứng cớ khác, hàng chục lănh vực khác về
t́nh trạng yếu kém của Phật giáo Việt Nam hiện nay. Ngoài ra,
có lẽ v́ khuôn khổ giới hạn của bài viết nên không thấy ông
đề cập đến điều
quan trọng nhất là nguyên nhân
nào khiến xảy ra t́nh
trạng nầy, dù cả nôi dung và văn phong đều bộc lộ một cách
khẩn thiết mối quan tâm to lớn của tác giả. Nhưng
điều tôi đồng cảm nhất, do đó chia sẻ hoàn toàn, với tác giả
là ông không viết v́ muốn tranh đua dành dựt tín đồ với
thiên hạ (đạo Phật làm ǵ có truyền thống đó !) mà v́, nh́n
vào bức tranh nhếch nhác của Giáo hội hiện nay, ông đă v́
chính Giáo hội đó mà lo âu cho tiền đồ của Phật giáo Việt
Nam.
Thật ra, đi t́m nguyên nhân
của t́nh trạng “hạn chế và yếu
kém, … tẻ nhạt và đ́u hiu”
hiện nay của Phật giáo Việt Nam là một chuyện vừa dễ
vừa khó. Dễ v́ có quá nhiều nguyên nhân nh́n đâu cũng thấy,
và khó cũng v́ có…quá nhiều nguyên nhân không biết phải bắt
đầu từ đâu ! Cho bài viết ngắn nầy, người viết xin chọn một
nguyên nhân mà ai cũng đồng ư, ai cũng thấy rơ, và đă được
nêu lên nhiều lần: Đó là sự vắng mặt khó hiểu của
một tập thể Cư sĩ trong ḷng giáo hội.
Trước hết, theo số liệu của
Giáo hội và chính phủ, hiện nay nước ta có khoảng 17.000
ngôi chùa, tự viện, tịnh thất, niệm Phật đường, cơ sở Phật
giáo (như Viện nghiên cứu, Câu lạc bộ, Cơ quan truyền thông,
tổ chức từ thiện, …). Cứ cho là mỗi đơn vị như thế trung
b́nh có 10 nam nữ cư sĩ, những Phật tử thuộc mọi thành phần
và đẳng cấp xă hội, sống chết với đạo, không gọi cũng đến,
không bảo cũng làm. Như vậy, chúng ta có một lực lượng
hộ pháp khoảng 170.000 cư sĩ. Gấp 3 lần số Tăng Ni,
và bằng 1/60 số lượng Phật tử cả nước (nghĩa là cứ 60 Phật
tử th́ có một cư sĩ, một tỷ lệ có thể tạm chấp nhận được về
mặt thống kê cho trường hợp nước ta
).
Nhưng 17 vạn cư sĩ đó không
phải là một “tập thể”. Họ hiện diện trong cuộc sống của Phật
giáo Việt Nam như một trong “tứ chúng” truyền thống,
mang tính cọng sinh đặc thù của Phật giáo hơn là một thành
phần có tính vận động và được đoàn ngũ hóa (chặt hay lỏng)
trong cơ cấu Giáo hội, dù Giáo hội có hẳn một ban bệ nhân
danh họ. Tuyệt đại đa số đến chùa làm Phật sự, nhiệt t́nh
hoạt động trong các công tác nghi lễ hay từ thiện xă hội,
tham gia hội thảo và viết những công tŕnh nghiên cứu, … là
v́ ngôi chùa đó, v́ đạo hạnh cá nhân vị Tăng Ni trú tŕ đó,
v́ bản chất sinh hoạt đó chứ không phải là kết quả của một
chánh sách nhân dụng quy mô của Giáo hội. Tại v́ không có
giáo hội th́ họ cũng xả thân làm Phật sự thôi.
Cho rơ hơn và công bằng hơn,
v́ Giáo hội không phải là một Tăng đoàn theo nghĩa nguyên
thủy thời Đức Phật nên sự tham dự của Cư sĩ trong Giáo hội
thời nay không bị ràng buộc bởi những giới hạn theo Phật chế
ngày xưa, do đó hiện nay không phải không có thành phần cư
sĩ trong cơ cấu hành chánh cũng như trong hoạt động chính
thức của Giáo hội.. Nhưng tuyệt đại thiểu số nầy
có đủ tính đại
diện tương xứng với số lượng và phẩm chất của 17 vạn cư
sĩ toàn quốc không, có được tham gia vào quy tŕnh
quyết định chính sách và triển khai kế hoạch không, tiếng
nói có trọng lượng trong những vấn đề to lớn liên hệ đến
sinh mệnh của Phật giáo Việt Nam không. Hay chỉ được quyền
“y giáo phụng hành” trong các sinh hoạt cờ quạt xênh xang
nặng tính h́nh thức.
Chúng ta thử xét ba lư do
thường được nhắc đến để “biện hộ” cho t́nh trạng khiếm diện
nầy của tập thể Cư sĩ:
Thứ nhất, Truyền
thống Phật giáo Việt Nam là như thế - Lịch sử Phật giáo
Việt Nam có một số giai đoạn lịch sử là như thế thật, nhưng
truyền thống Phật giáo Việt Nam th́ không, nội dung giáo lư
của Đức Phật và chư Tổ lại càng không. Xa xưa, xin hỏi cụ
Tuệ Trung Thượng Sĩ. Gần hơn, xin hỏi cụ Lê Đ́nh Thám hay cụ
Thiều Chửu trong phong trào chấn hưng Phật giáo vào những
năm 30 của thế kỷ trước. Gần hơn nữa, xin hỏi những Cư sĩ
tóc đă muối tiêu của cả một thế hệ 1963-1966 tại miền Nam
th́ rơ. Vă lại, ngay cả có một truyền thống như thế chăng
nữa, th́ trong ba tạng kinh điển, có điều nào cấm chúng ta
từ bỏ một truyền thống đă lỗi thời, phi chánh pháp và gây
nhiều bất cập không?
Thứ nh́, Nhà nước
không muốn sự hiện diện của một tập hợp quần chúng đông đảo
và có tính tổ chức như thế - Điều nầy chỉ đúng một nửa.
Cấu trúc chính trị và vận hành xă hội của nước ta thật sự là
chưa phù hợp cho sự h́nh thành một tập hợp Cư sĩ quy mô như
thế, và v́ vậy mà chúng ta đă bị động ḥa nhập vào cuộc sống
như nó đang là. Nhưng “chưa” bây giờ không có nghĩa là
“không” trong tương lai. Những đột phá và khai mở về mặt
chính sách, kể cả chính sách tôn giáo nói chung và đối với
Phật giáo nói riêng của chính phủ, trong tiến tŕnh phát
triển đất nước để hội nhập vào cộng đồng thế giới trong thập
niên vừa qua, đă cho thấy giới lănh đạo Việt Nam đang chủ
động cỡi lên một xu thế chính trị - kinh tế sẽ làm thay đổi
cấu trúc xă hội nước ta, trong đó một xă hội dân sự
chắc chắn sẽ thành h́nh, tạo tiền đề cho sự ra đời của các
tổ chức dân sự. “Đồng hành với dân tộc”, trong trường
hợp nầy, có nghĩa là ngay từ bây giờ Phật giáo Việt Nam đă
phải chuẩn bị để chững chạc hiện diện trong xă hội dân sự đó,
mà bước đầu là thai nghén một tập hợp cư sĩ đúng nghĩa, từng
bước triển khai và kiện toàn nó theo với và cùng với tiến độ
tăng trưởng của xă hội dân sự đang từng ngày hiển thị trong
xă hội hôm nay.
Thứ ba, Bản thân những Cư
sĩ Việt Nam không muốn h́nh thành một “tập thể” cho chính
ḿnh - Điều nầy cũng chỉ đúng một nửa ! V́ những điều
kiện chủ quan và khách quan ngoài tầm với của Cư sĩ, sau
quá nhiều năm sống như một bóng mờ trong sinh hoạt nhà chùa,
sau quá nhiều năm khép nép núp sau những bộ tăng bào, thật
khó cho người Cư sĩ, và cả cấp lănh đạo Giáo hội, thoát ra
khỏi một ư thức, một tập quán thật lạ lùng: Giáo hội như
một cái ghế một chân, và chỉ một chân là đủ rồi ! Làm
sao người Cư sĩ có thể khẳng định chính ḿnh và đứng lên
“đ̣i” một vị trí (nghĩa là một bổn phận, một trách nhiệm,
một chương tŕnh hành động) khi mà ở miền Bắc, hơn nữa thế
kỷ; và ở miền Nam, hơn 30 năm, lao đao lận đận trôi bồng
bềnh làm thân phận “ông phổng đá”. Tâm lư, và do đó ư thức,
tự xóa ḿnh để tự thủ tiêu đó rất dễ hiểu và dễ thông cảm.
Giáo hội không muốn, hoàn cảnh không cho, gặp thời thế,
thế thời phải thế. Nhưng đó mới chỉ mới là một nửa, nửa
kia như đốm lửa hồng âm ỉ nhưng nóng hổi dưới đám tro. Nửa
kia là ư thức trách nhiệm, là lương tâm làm người con Phật,
là chức năng hộ pháp phên dậu của Giáo hội, là vai tṛ “đại
sứ” của Đức Phật ngoài cổng chùa và trong cuộc đời … th́ vẫn
c̣n đó, huân tập từ những ngày đầu tiên bước đến cổng chùa.
Đó chính là “nửa” đă làm cho tập thể Cư sĩ dai dẳng tồn tại
để làm đoá sen hồng ch́m dưới vũng bùn đợi ngày hồi sinh.
Đến đây, một vấn đề phải được
đặt ra là tại sao Giáo hội nói riêng, Phật giáo Việt Nam nói
chung, lại cần có một tập thể Cư sĩ quy mô ? Chúng ta có thể
liệt kê rất nhiều lư do, nhưng ở đây tôi lại chỉ xin đề cập
đến vài lư do trong lănh vực sử dụng nhân lực (human
resource) của khoa quản lư mà thôi:
Thứ nhất là tổng hợp hiệu quả
nguồn nhân lực.
Thời đại biến thiên với tốc độ vũ bảo, xă hội thay đổi từng
ngày trong một thế giới đầy biến động. Không một cá nhân
Thầy nào, hay thậm chí cả một đoàn thể Tăng già thanh tịnh
nào, lại đủ tri thức và đủ năng lực để một ḿnh quản lư được
mọi lănh vực sinh hoạt của một tổ chức phức tạp như
Giáo hội trong một đất nước cũng phức tạp không kém như Việt
Nam. Có tổng hợp và huy động được toàn lực tứ chúng may ra
mới theo kịp thời đại và đồng hành cùng (chứ không phải lẽo
đẽo theo sau) dân tộc. Cứ nh́n các giáo hội Công giáo và Tin
Lành
,
cứ nh́n một công ty đa quốc gia, cứ nh́n một bộ trong chính
phủ th́ sẽ thấy tính tổng hợp trong chính sách nhân dụng của
họ là đa nguồn và đa năng như thế nào. Tại các nước Tây
phương, nhất là tại Mỹ, một trong những lư do chính khiến
Phật giáo khởi sắc là nhờ họ có những “giáo hội” nhẹ nhàng
đơn giản, các Thầy chỉ đóng vai tṛ biểu tượng đạo hạnh và
hướng đạo tâm linh, c̣n hoạch định, triển khai và điều hành
tất cả các kế hoạch tu học và hoằng dương hầu hết đều do tập
thể cư sĩ đảm nhiệm. Trong khi đó th́ sinh hoạt của Giáo hội
ta, v́ trong cơ cấu hầu như chỉ có quư Thầy mà thôi, th́ đơn
điệu, nghèo nàn, lạc hậu và tŕ trệ chỉ v́ giai tầng lănh
đạo được thiết kế để nắm hết mọi khâu quản lư. Trừ ra, nói
như một Thầy lănh đạo trong Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần
thứ VI về vấn đề tu chỉnh hiến chương rằng “tất cả đều
tốt rồi, cần ǵ phải thay đổi”, th́ không c̣n ǵ phải
bàn thêm nữa !
Thứ nh́ là phân bố hợp lư
nguồn nhân lực. Quư
Thầy được đào tạo và sau đó chỉ hành hoạt như một “chuyên
gia” về các vấn đề tâm linh. Tu và hành Phật pháp. Quư Thầy
không phải là chuyên gia quản lư, nhất là quản lư
những lănh vực “ô trọc”, vừa phức tạp vừa nhiều cạm bẫy của
tam độc và bát phong của đời thường. Trong các lănh vực nầy
(hành chánh, tài chánh, nhân dụng, văn học nghệ thuật,
thương măi, y tế công cọng, công nghệ, ngân hàng, kinh doanh,
truyền thông, quan hệ quốc tế, ngoại ngữ, tin học, giáo dục,
…) quư Thầy làm sao “giỏi” bằng các Cư sĩ được huấn luyện
bài bản và nhiều kinh nghiệm hành nghề được. Vả lại, ngay cả
quư Thầy có giỏi hơn chăng nữa, th́ đó cũng là những lănh
vực chỉ làm cản trở con đường tu học của quư Thầy mà thôi.
Phật có dạy mỗi Tăng sĩ một ngày phải dành ra 30% thời gian
để lo vấn đề quản lư chuyện đời không ? Như vậy c̣n thời giờ
đâu mà tu, vốn là mục đích tối thượng khi quư Thầy xuất gia.
Có 17 vạn chuyên gia giỏi tay nghề mà quư Thầy không dùng
lại bỏ đường tu để lăn xả vào đấy th́ cũng lạ thật ! Có vẽ
như các Thầy phải chọn một trong hai con đường: hoặc làm
nhà tu hành hoặc làm nhà quản lư, không thể vẹn
toàn cả hai được.
Thứ ba là tŕnh hiện h́nh ảnh
nguồn nhân lực như một khẳng định của Chánh pháp.
Trong khoa học quản lư, đặc biệt trong lănh vực … tiếp thị,
ai cũng biết một trong nhiều yếu tố để thuyết phục khách
hàng là chất lượng của sản phẩm. Mà “sản phẩm” tŕnh hiện
tiêu biểu của Phật pháp để làm tốt đạo đẹp đời chính là tứ
chúng Phật tử. Họ là biểu hiện sinh động nhất để biết đâu là
chánh pháp đâu là tà giáo. Trong tứ chúng, quư Thầy là một
trong tam bảo, quần chúng chỉ đứng xa ước mơ không với tới
được, như chiếc xe Rolls Royce 2 triệu Mỹ kim biệt lệ. Cũng
trong tứ chúng, đông đảo đa phần trong 10 triệu quư Phật tử
là người sơ cơ mới nhập đạo, đứng giữa hai ngưỡng cửa văn
hóa mê tín và chánh pháp giải thoát, như chiếc xe Dream chập
chùng di chuyển, chạy nhanh như xe hơi nhưng vẫn phải dăi
nắng dầm mưa. Cả hai “sản phẩm” nầy, trước mắt quần chúng
“khách hàng”, chưa tiêu biểu được tính phổ quát mà lại đặc
thù của Phật giáo. Họ cần nh́n và đánh giá chiếc xe hơi
Toyota Camry, họ cần nh́n và đánh giá tập thể Cư sĩ để làm
một sự chọn lựa tâm linh cho bản thân họ, gia đ́nh họ, dân
tộc họ. Tập thể Cư sĩ là một tập thể rất đạo nhưng cũng
rất đời, tương đối hoàn chỉnh trên cả hai mặt đạo lẫn
đời. Nh́n họ tu tại gia hành tại chợ, ta biết
được nội dung và hiệu quả của giáo pháp mà họ tu, ta biết
được hướng đi và sức mạnh của giáo hội mà họ theo.
Trong phần trên, người viết đă
cố gắng tŕnh bày ba luận điểm để giải hoặc t́nh trạng khiếm
diện của tập thể Cư sĩ Việt Nam, cũng như nêu lên ba lư do
để biện giải cho sự cần thiết của tập thể nầy trong ḷng
Giáo hội. Để kết thúc, người viết chỉ có một ước mơ. Rằng 4
năm nữa, vào cuối năm 2012, tại đại hội Đại biểu Toàn quốc
lần thứ VII, tập thể Cư sĩ sẽ có mặt ít nhất là 30%
trong cơ cấu Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ lănh đạo trung
ương đến lănh đạo cơ sở. Có mặt một cách có thực chất, có
quyền lực, có trách nhiệm để cùng với quư Thầy Cô chung sức
phát triển một cách đúng hướng và bền vững lâu đài Phật giáo
Việt Nam.
Nếu được như vậy, lúc đó, Phật
tử và Giáo hội sẽ có thể mỉm cười an lạc trước hàng trăm “Kế
hoạch cho Ngày tàn của Phật giáo” đến từ bất kỳ nguồn
thế quyền hay giáo quyền nào. Nhưng đó là chuyện phụ, chuyện
chính là sự hiện diện của một tập thể Cư sĩ trong ḷng Giáo
hội sẽ không những khẳng định được Phật giáo đồng hành với
dân tộc, mà c̣n chứng tỏ lănh đạo Phật giáo có viễn kiến,
đi trước cả dân tộc trong lănh vực thiết kế và quản lư
thành công được một mô thức nhân dụng đa nguồn.
Nguyễn Kha
8/2008
Asia Harvest [
http://www.asiaharvest.org/ ] là một hội thánh
Tin Lành liên phái, hoạt động tại nhiều nước Á châu
với mục đích truyền đạo đến các sắc dân thiểu số.
Hội thánh nầy hợp tác với cấp lănh đạo Tin Lành địa
phương, giúp họ gia tăng lượng tín đồ trong các sắc
dân “lạc lối”. Địa bàn hoạt động của Asia Harvest
bao gồm các nước Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Myanmar,
Nepal, Bhutan và Bắc Ấn. Hiện nay, có vào khoảng
1,000 cộng đồng dân tộc thiểu số là đối tượng truyền
đạo và cải đạo trong 7 quốc gia nầy. Asia Harvest
có trụ sở trung ương tại thành phố Bradenton, tiểu
bang Florida, Mỹ, và văn pḥng đại diện tại 6 nước
Úc, New
Zealand, Anh, Đức, Singapore và Malaysia. Tại Việt
Nam, trong năm 2008, Asia Harvest đang tiến
hành công tác dịch và in đại trà bản Kinh Thánh bằng
tiếng Hmong để phân phát cho công đồng nầy trong quá
tŕnh truyền đạo.
|