|
Luận bàn về
“phát hiện lịch sử chấn động”
của ông Lê Mạnh Thát
Các bài liên
quan
Nguyễn
Ḥa
1.
Cách đây 8 năm, dư luận đă một lần kinh ngạc khi thấy cuốn
sách Huyền thoại hay sự thật cội nguồn cha Rồng mẹ Tiên
của Vơ Trọng Thái ra mắt tại NXB Văn hóa dân tộc.
Dư luận kinh ngạc v́ từ mấy nghiên cứu hết sức kỳ quái, Vơ
Trọng Thái đă đi tới một số kết luận hết sức kỳ quặc, như
khẳng định kinh đô nước Xích Qủy là ở làng Vân Nội (xă Phú
Lương, Thanh Oai, Hà Tây), xă Phú Lương cũng là nơi có lăng
mộ các Vua Hùng; Hai Bà Trưng vốn thuộc ḍng họ Lê Đĩnh (Thục
Phán) nên Trưng Trắc tên thật là Lê Thị Hồng Hưng, Trưng Nhị
tên thật là Lê Thị Hồng Hà (!)… Những tưởng cùng với thời
gian, các sản phẩm “nghiên cứu” như của Vơ Trọng Thái sẽ
không c̣n đất dung thân trong sinh hoạt học thuật, vậy mà
vừa qua, dư luận lại một lần nữa xôn xao về cuốn Lục độ
thập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta của Lê
Mạnh Thát - một cuốn sách mà tôi rất nghi ngờ về phẩm chất
khoa học. Và điều đáng nói là, dù đă xuất bản từ năm 1972,
gần đây là năm 2006, song Lục độ thập kinh và lịch sử
khởi nguyên của dân tộc ta của Lê Mạnh Thát vẫn không
một tiếng vang trong sinh hoạt khoa học, ấy rồi nó lại được
chú ư sau khi bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát
hiện lịch sử chấn động của Hoàng Hải Vân được đăng tải
trên báo Thanh Niên.
Theo tôi, việc
cuốn sách của Lê Mạnh Thát không có tiếng vang trong sinh
hoạt khoa học chỉ nên giải thích từ giá trị của nó, không
nên cho rằng bạn đọc và giới nghiên cứu không có khả năng
tiếp nhận hay lảng tránh “phát hiện” của ông. Hơn nữa, vấn
đề c̣n là trước khi đồng t́nh hay bác bỏ, mỗi người cần tiếp
nhận trực tiếp từ cuốn sách của Lê Mạnh Thát, chứ không chỉ
tiếp nhận qua bài viết của Hoàng Hải Vân. Bởi dù thế nào th́
“phát hiện” của Lê Mạnh Thát cũng đă đi qua “lăng kính” của
Hoàng Hải Vân với tất cả niềm hứng khởi của tác giả này (?).
Đáng tiếc là hầu như các ư kiến đă công bố để đánh giá “phát
hiện” của Lê Mạnh Thát đều chủ yếu dựa trên bài viết của
Hoàng Hải Vân và theo xét đoán của tôi, ngoài Trương Thái
Du, có lẽ chưa có tác giả nào đă trực tiếp đọc Lục độ
thập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta. Phải
chăng v́ thế, không tính đến một vài ư kiến ca ngợi, dù là ư
kiến phản bác th́ tác giả vẫn phải “gài” vào phát biểu của
ḿnh một số ngôn từ để thể hiện thái độ trân trọng (thận
trọng?) và ư niệm “phát hiện” vẫn được tŕnh bày như là muốn
đảm bảo cho tinh thần khách quan. Bên cạnh đó, đọc các ư
kiến, tôi nhận thấy hầu hết đều bị cuốn theo xu hướng tranh
biện với những dẫn liệu sử học, văn học, Phật học do ông Lê
Mạnh Thát đưa ra mà chưa chú ư tới một điều cực kỳ quan
thiết là khi đánh giá một công tŕnh nghiên cứu phải xem xét
tiền đề khoa học của nó - tức là xem xét điểm xuất phát để
từ đó tác giả tiến hành công tŕnh. Nói cách khác, muốn khảo
sát và đánh giá một công tŕnh nghiên cứu, trước hết phải
bắt đầu từ giả thuyết khoa học chứ không chỉ bắt đầu từ các
kết luận mà nó đưa lại. Bởi, nếu giả thuyết chỉ là ư tưởng
“giả khoa học” th́ dẫn liệu dù phong phú đến đâu, tác giả dù
thông thái, uyên thâm đến mức độ nào th́ kết quả nghiên cứu
của anh ta vẫn chỉ là một (các) hư cấu chủ quan, nếu không
nói là vô nghĩa.
Do không có
trong tay bản in cuốn Lịch sử Phật giáo Việt
Nam
(tập 1) của Lê Mạnh Thát, tôi đành bằng ḷng với việc đọc
cuốn sách này qua bản điện tử của website quangduc.com (1).
Đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh Thát, đối
chiếu với Lục độ thập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân
tộc ta rất dễ nhận ra Lục độ thập kinh và lịch sử
khởi nguyên của dân tộc ta chỉ là “dị bản”, chính xác
hơn chỉ là bản “thu nhỏ” những nội dung tương tự đă được
tŕnh bày trong Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Các ư
tưởng, tài liệu Lê Mạnh Thát sử dụng trong Lục độ thập
kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta đều có mặt
trong Lịch sử Phật giáo Việt
Nam.
T́nh huống ấy làm cho tôi muốn đặt câu hỏi: Dù Lê Mạnh Thát
đă cố gắng tŕnh bày trong hai cuốn sách khác nhau về cùng
một vấn đề nhưng vẫn không được chú ư, và Hoàng Hải Vân đă
“có công lao” làm cho các ư tưởng của Lê Mạnh Thát trở thành
tâm điểm của dư luận trong thời gian gần đây? Về phần ḿnh,
tuy đă đọc Lịch sử Phật giáo Việt Nam của Lê Mạnh
Thát, song để bài viết này tập trung vào vấn đề muốn đề cập,
nên tôi chỉ bàn tới Lục độ thập kinh và lịch sử khởi
nguyên của dân tộc ta, bài báo của Hoàng Hải Vân cùng
một hai ư kiến có liên quan. Hy vọng vào một ngày đẹp trời
nào đó, tôi sẽ trở lại với Lịch sử Phật giáo Việt
Nam
của Lê Mạnh Thát để phân tích kỹ hơn các lập luận ông đă
tŕnh bày.
2.
Dựa trên các tiền đề sách vở do ông “phát hiện”, gồm: truyền
thuyết trăm trứng liên quan tới Lạc Long Quân - Âu Cơ từng
được ghi lại trong Lục độ thập kinh - một bộ kinh
Phật; truyền thuyết về An Dương Vương chỉ là dị bản mô phỏng
trận đánh giữa anh em Pandu và Duryodhana đă được kể lại
trong Mahabharata - một sử thi Ấn Độ, Lê Mạnh Thát đă
triển khai suy luận và truy lùng văn bản vừa để chứng minh,
vừa để đưa ra các kết luận đại loại như: văn bản Lục độ
thập kinh mà Khương Tăng Hội sử dụng để dịch sang tiếng
Hán vốn là bản tiếng Việt chứ không phải một bản tiếng Phạn;
Triệu Đà chưa từng xâm lược Việt Nam nên thời đại của An
Dương Vương chỉ là hư cấu lịch sử; triều đại Hùng Vương kéo
dài tới năm 43 sau công nguyên, triều đại này rất phát
triển, có chữ viết riêng, có luật pháp riêng, và sự nghiệp
của Hai Bà Trưng là vương triều cuối cùng của triều đại Hùng
Vương chứ không phải là một cuộc khởi nghĩa…
Vậy là từ một
hai chi tiết, Lê Mạnh Thát đă phóng đại chúng lên làm mẫu
nghiên cứu theo kiểu “chọn giầy”, rồi chứng minh theo lối
“gọt chân”, cái ǵ phù hợp với suy đoán th́ ông OK, cái ǵ
không phù hợp với suy đoán th́ ông gạt phắt ra ngoài hoặc
chụp cho cái mũ… “không đáng tin cậy”! Theo tôi, đây chính
là điều cần phê phán nhất trong “nghiên cứu” của Lê Mạnh
Thát, bởi từ một chi tiết có vai tṛ dẫn truyện trong Lục
độ thập kinh, ông không chỉ suy đoán, mà c̣n dựa vào đó
để đưa ra một loạt khẳng định với tâm thế rất tự tin. Thiển
nghĩ, hoặc là Lê Mạnh Thát không nắm được các nguyên tắc của
nghiên cứu khoa học, hoặc là ông có điều bất thường về tư
duy, hoặc là mấy ngh́n năm nay Phật giới Việt Nam và Trung
Hoa đă “vô minh” đến mức tin tưởng, chấp nhận, rồi đề cao
một thập kinh Phật mà trong đó “chứa đựng “một lượng bất
b́nh thường” các tư tưởng, quan điểm và đạo lư mang sắc thái
chính trị và lịch sử Việt Nam”(2).
Theo xét đoán
của ông Lê Mạnh Thát: “không phải Khương Tăng Hội đă viết
Lục độ thập kinh, mà do Hội đă dịch nó theo một bản
tiếng Việt” (3) và “Khương Tăng Hội, khi tiến hành phiên
dịch Lục độ thập kinh tiếng Trung Quốc, đă chịu không
những tác động của tiếng mẹ đẻ, mà c̣n chịu tác động trực
tiếp của nguyên bản Lục độ thập kinh tiếng Việt…”
(4), th́ ngược về thời gian và hoàn cảnh lịch sử để truy
nguyên văn bản, sẽ xuất hiện ba khả năng trực tiếp liên quan
tới kết luận của ông mà tôi đồ rằng, dẫu Lê Mạnh Thát có “ba
đầu sáu tay” cũng không thể giải quyết được:
- Một: Nếu bản
Lục độ thập kinh bằng tiếng Việt mà Khương Tăng Hội
sử dụng vốn được dịch từ một bản tiếng Phạn th́ phải chăng
mấy ngh́n năm trước ở bên Ấn Độ xa xôi lại có người tỷ mẩn
ghi chép giúp tổ tiên chúng ta một cuốn lịch sử về nguồn gốc
dân tộc bằng tiếng Phạn, rồi ai đó đă dịch từ bản tiếng Phạn
sang tiếng Việt, và Khương Tăng Hội dựa vào bản tiếng Việt
này để dịch sang tiếng Hán hay sao? V́ sự ḷng ṿng ấy chưa
từng thấy có tiền lệ, nên tôi đặt câu hỏi và xin trả lời
luôn: đây là điều bất khả. Không chỉ về khoảng cách địa lư,
mà cả về các quan hệ kinh tế - văn hóa, liệu cách đây hơn
2000 năm, giữa Việt Nam và Ấn Độ đă có quan hệ văn hóa mật
thiết đến mức một sự kiện quan trọng như trên lại có thể xảy
ra, và liệu Lê Mạnh Thát có thể chứng minh? Nếu không chứng
minh được, “phát hiện” của ông, rốt cục sẽ chỉ là sự vơ đoán
tùy tiện, không thể hiện diện trong nghiên cứu khoa học.
- Hai: Nếu t́nh
huống trên không xảy ra th́ chẳng lẽ khi dịch Lục độ thập
kinh sang tiếng Hán từ một bản tiếng Việt nào đó, Khương
Tăng Hội đă tranh thủ thêm thắt một số ghi chép về lịch sử
dân tộc Việt Nam, để rồi bao nhiêu đời cao tăng, học giả
Việt Nam và Trung Quốc mấy ngh́n năm qua đă không phát hiện
ra? Đây là vấn đề Lê Mạnh Thát cần lư giải, một câu hỏi Lê
Mạnh Thát cần trả lời nếu ông muốn chứng minh “phát hiện”
của ông là chính xác. Xin nói luôn đây cũng là một điều bất
khả, v́ một cuốn kinh sách và lịch sử của một dân tộc có thể
có mối liên hệ nào đó, song không thể đồng nhất, v́ sự ra
đời của kinh sách trước hết, không phải là để viết lịch sử.
- Ba: Như là hệ
quả của vấn đề thứ hai tôi đưa ra ở trên, nếu bản gốc Lục
độ thập kinh do người Việt viết bằng chữ của người Việt
th́ chí ít Lê Mạnh Thát cũng phải minh định được chữ viết
của người Việt vào thời đó ra sao, phải chứng minh được rằng
trước và sau công nguyên Phật giáo Việt Nam đă rất phát
triển, v́ phải đạt tới một tŕnh độ nào đó, các cao tăng
Việt Nam mới có thể viết được kinh sách. Và nếu đó là sự
thật th́ các cao tăng Việt Nam xưa kia xứng đáng phải được
lưu danh vào lịch sử Phật giáo, bởi họ đă viết được một thập
kinh trứ danh đến mức Phật giáo phải đưa vào Đại tạng
thập kinh, vậy mà đến nay tên tuổi của họ vẫn vắng bóng,
chẳng lẽ Phật giới Việt Nam và Trung Quốc đă vội lăng quên
họ? Tôi đặt ra khả năng thứ ba nhằm hài hước hóa vấn đề, nên
không đề nghị Lê Mạnh Thát trả lời. Bởi riêng chuyện gán cho
Lục độ thập kinh có quan hệ với lịch sử Việt Nam
thôi, cũng đă là một điều kỳ dị không nên bắt bẻ.
Tôi tin là các
câu hỏi về nguồn gốc văn bản tôi đặt ra trên đây hoàn toàn
không có mặt trong thao tác nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát
khi euréka ra các “phát hiện lịch sử chấn động”. Và
dưới đây, tôi sẽ chứng minh ông đă sai lầm như thế nào.
3.
Đọc câu chuyện trong Lục độ thập kinh (3 ĐTK 251 tờ
14a26-c18) do Lê Mạnh Thát dẫn lại, dù không phải là người
làm công việc nghiên cứu Phật học, tôi cũng nhận ra đó là
một dẫn dụ về “đốn ngộ” mà cái bọc trăm trứng có vai tṛ
dựng truyện. Ấy là sau khi một trăm người con sinh ra từ một
trăm quả trứng kéo quân về đánh chiếm kinh thành của vua cha
mà họ không biết đó là vua cha, bà mẹ của họ đứng trên cḥi
nói với những đứa con của bà: “Rằng đại nghịch tội đó, gồm
có ba: Không xa bọn tà, chuốc tội đời sau, đấy là tội thứ
nhất. Sinh ra mà không biết cha mẹ, lại đi ngược lại hiếu
hạnh, đấy là tội thứ hai. Ỷ sức mà giết cha mẹ, làm hại Tam
bảo, đấy là tội thứ ba. Giữ ba điều đại nghịch ấy, ác không
lấy ǵ che được. Chúng mày hăy hả miệng th́ chứng cứ hiện
ngay”. Bà mẹ liền lấy vú ḿnh ra, trời khiến nó bắn sữa khắp
cả miệng một trăm đứa con. Cảm thấy sự tinh thành, chúng
uống sữa, ḷng buồn, nên đồng thanh nói: “Đây là cha mẹ ta”.
Nước mắt chảy lan cả hai má, chúng chắp tay đi tới, cúi đầu
hối lỗi…” (5). Giọt sữa của bà mẹ đă đưa các con bà ra khỏi
chốn “vô minh”, giúp họ tỉnh ngộ, nhận ra điều trái với đạo
hiếu không được làm. So sánh chuyện này với truyền thuyết về
Lạc Long Quân - Âu Cơ th́ ngoài cái bọc trăm trứng, giữa
chúng không có bất cứ liên hệ nào. Một bên là minh chứng cho
khả năng “đốn ngộ”, một bên là truyền thuyết về ṇi giống và
quá tŕnh xây dựng cộng đồng, mở mang bờ cơi, tính mục đích
hoàn toàn khác nhau. “Vớ” được sự gần gũi trong chi tiết một
trăm quả trứng nở ra một trăm chàng trai, Lê Mạnh Thát vội
vàng quả quyết: “Và chính đây là chi tiết mà nó giúp ta xác
định thời gian xuất hiện và nguồn gốc khai sinh truyền
thuyết về lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta” (6) th́ ông đă
lộ ra điểm yếu cốt tử mà tôi sẽ chứng minh tiếp ở phần sau.
Ở đây chỉ xin nói rằng, chỉ v́ câu chuyện trong Lục độ
thập kinh và truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ cùng đề
cập tới cái bọc trăm trứng mà đă vội coi cái này chính là
nguyên gốc của cái kia th́ trí tưởng tượng đúng là… “hơi bị
phi phàm”. Cứ xét đoán khơi khơi như Lê Mạnh Thát th́ trên
đời này sẽ có vô khối chuyện khôi hài!
Tương tự như
thế, việc Lê Mạnh Thát t́m ra mối liên hệ giữa
Mahabharata với truyền thuyết An Dương Vương theo tôi
cũng là khảo chứng tư biện, nếu không nói ông đă tùy tiện
xác lập một quan hệ. Tôi lại tự hỏi: liệu Lê Mạnh Thát có
thể chứng minh quan hệ Việt Nam - Ấn Độ đă mật thiết từ đầu
công nguyên hay không? V́ để một tác phẩm thấm đẫm tinh thần
Ấn Độ giáo, được coi là
Đại bách khoa toàn thư
về
văn hóa truyền thống,
về các
truyền thuyết và thể
chế
chính trị -
xă hội của Ấn Độ cổ xưa
như sử thi Mahabharata có thể thấm sâu vào đời sống
tinh thần của người Việt Nam, để người Việt Nam có thể vay
mượn từ đó một câu chuyện rồi xây dựng nên một truyền
thuyết, hẳn là Mahabharata phải được du nhập, được
dịch và được phổ biến ngay từ trước hoặc sau công nguyên.
Cũng là điều lạ lùng, trong Mahabharata có bao nhiêu
câu chuyện, bao nhiêu truyền thuyết mà tại sao người Việt
không vay mượn một cách phổ biến, mà chỉ nhè vào chuyện
Duryodhana để xây dựng truyền thuyết An Dương Vương, liệu Lê
Mạnh Thát có thể giải thích được không. Cũng xin lưu ư,
Mahabharata không chỉ là một sử thi, nó c̣n quan hệ mật
thiết với Ấn Độ giáo, v́ trong đó chứa đựng
Bhagavad Gita (một kinh
văn quan trọng của Ấn Độ giáo), nếu ông cho rằng
Mahabharata đă có mặt trên dưới 2000 năm ở Việt Nam, ông
có thể lư giải tại sao trong văn hóa Việt Nam cả ngh́n năm
nay, yếu tố Ấn Độ giáo lại rất mờ nhạt? Hỏi th́ hỏi vậy, chứ
thật t́nh tôi cũng tin đây là t́nh huống bất khả. Với cái
nh́n phổ quát và thấu đáo, người sáng suốt sẽ không bao giờ
chăm chăm dựa vào một chi tiết giống nhau “An Dương Vương
cưỡi con tê sống vằn vào nước chạy, nước v́ thế rẽ ra” (7)
với chi tiết “Với kiếm chùy trong tay, đấng ấy (Duryodhana -
NH) đă nhanh bỏ chiến trường và đi vào một cái hồ, sau khi
làm cho nước rẽ ra nhờ vào huyễn thuật của ḿnh” (8) để quả
quyết: “Việc Duryodhana có thể làm cho nước rẽ ra để ông đi
vào này đương nhiên ám chỉ một cách khá chắc chắn nguồn gốc
đi vào nước của An Dương Vương” (9). Nhưng biết làm sao
được, khi mà ông Lê Mạnh Thát dường như đă định h́nh phong
cách suy đoán tư biện rồi kết luận khơi khơi trong thực hành
“nghiên cứu”!
Tóm lại,
khi nghiên cứu một vấn đề lịch sử nào đó, bao giờ người ta
cũng cần tới các chứng cứ lịch sử (trong đó, ngoài các văn
bản xác thực đă được truy nguyên đến rốt ráo, c̣n có các
bằng chứng khảo cổ…), v́ thế người nghiên cứu không thể nuôi
dưỡng vấn đề bằng trí tưởng tượng. Mặt khác, thao tác lấy
chi tiết thay cho toàn thể, lấy cá biệt thay cho phổ biến…
là thao tác hết sức nguy hiểm trong nghiên cứu, v́ sẽ đẩy
người ta đến các ngộ nhận làm nhiễu loạn sinh hoạt khoa học,
tạo ra hiện trường giả làm rối trí người đọc. V́ thế
tôi cho rằng, hai tiền đề giúp Lê Mạnh Thát “nghiên cứu”
đích thực là hai giả tiền đề, phi thực tế. Nên
tôi tin các câu hỏi tôi đặt ra ở trên là các câu hỏi Lê Mạnh
Thát không thể trả lời, đó là lư do để tôi kết luận “phát
hiện” của ông chỉ là kết quả của sự vơ đoán.
4.
Sai lầm cơ bản của ông Lê Mạnh Thát khi đưa ra “phát hiện”
của ḿnh, theo tôi có nguồn gốc từ việc ông không cần quan
tâm (hay bất chấp?) một trong các đặc điểm quan trọng của
văn hóa dân gian là tính phổ biến của nhiều mô-tip văn
chương trong văn hóa dân gian của các cộng đồng, cùng như
quá tŕnh “dân gian hóa” một số truyền thuyết vốn được tŕnh
bày trong kinh sách của các tôn giáo. Văn hóa dân gian của
các cộng đồng có thể nảy sinh sớm - muộn khác nhau, các cộng
đồng có thể rất xa nhau về địa lư, chưa bao giờ tiếp xúc,
không có bất kỳ một mối liên hệ nào, th́ trong hoàn cảnh
tương tự của quá tŕnh phát sinh và phát triển nhận thức,
các cộng đồng đă nảy sinh các ư tưởng rất gần gũi nhau để
đáp ứng nhu cầu giải thích về thế giới, xă hội, con người.
Như huyền thoại về quả bầu chẳng hạn, theo thống kê của GS
Đặng Nghiêm Vạn (10), ở Đông Nam Á, trong số 95 dị bản về
hồng thủy, có tới 65 dị bản liên quan tới quả bầu với ư
nghĩa là phương tiện cứu giúp con người khỏi họa diệt chủng.
Sự gần gũi về nhận thức, sự gần gũi khi suy tư về thế giới -
xă hội - con người, sự giao lưu văn hóa trong điều kiện cụ
thể… đă đưa tới sự ra đời các mô-tip văn chương dân gian,
điều đó làm cho việc truy nguyên một “mẫu gốc” là bất khả.
Tỷ như chúng ta thấy mô-tip quan hệ d́ ghẻ - con chồng xuất
hiện trong văn chương dân gian của nhiều cộng đồng khác
nhau, như: Tấm cám của người Việt, Cô bé lọ lem
của người Đức, Cô chị - Cô em (Ư Ưởi - Ư Nọng) của
người Thái, Nàng Chăn Tha của người Lào… (Ngay ở thời
hiện đại, một sự kiện như vậy vẫn có thể xảy ra, như sự
giống nhau đến kỳ lạ giữa tiểu thuyết Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng với tiểu thuyết Đường công danh của Nikôđem
Đizma của Tadeusz Dolega Mostowicz - nhà văn người Ba
Lan). Không nắm được đặc điểm này, Lê Mạnh Thát mới đi làm
cái việc “vơ” câu chuyện trăm trứng về cho người Việt Nam,
dẫu rằng khi khảo sát, chính ông cũng đă thấy mô-tip người
sinh ra từ trứng, người sinh ra từ bọc thịt là khá phổ biến!
Để hợp thức hóa
những suy biện chủ quan của ḿnh trong xử lư tài liệu, ông
Lê Mạnh Thát khẳng định xanh rờn: “chúng ta không c̣n bàn
căi một cách tùy tiện không có cơ sở về nền văn học “dân
gian” chung chung phi thời gian, phi lịch sử” (11). Như vậy
theo Lê Mạnh Thát, mọi sản phẩm văn hóa dân gian đều có thể
“cụ thể hóa”, đều có thể truy nguyên thời gian lịch sử
chăng? Mong sao vào một ngày rảnh rỗi nào đó, Lê Mạnh Thát
sẽ truy nguyên toàn bộ Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
do cụ Nguyễn Đổng Chi sưu tầm, đặng giúp một người đọc ngu
ngơ như tôi nắm bắt được thời gian ra đời của từng truyện
một cách thật cụ thể nhỉ! Rồi nữa, bằng vào marketing
của Hoàng Hải Vân, th́ Lê Mạnh Thát công bố ông đă t́m thấy
trong Đại tạng kinh sáu lá thư trao đổi giữa pháp sư
Đạo Cao và pháp sư Pháp Minh với một “sứ quân” Giao Châu tên
là Lư Miễu. Truy lùng tài liệu từ Trung Quốc, Việt Nam sang
Triều Tiên và Nhật Bản, thậm chí lùng sục trong tàng thư các
nước Anh, Pháp, Liên Xô mà không t́m thấy nhân vật nào có
tên là Đạo Cao, cuối cùng Lê Mạnh Thát kết luận… Đạo Cao là
người Việt Nam. Tương tự như thế với “sứ quân” Lư Miễu, do
không t́m được văn bản nào đề cập tới nhân vật này, rút cục
Lê Mạnh Thát cũng đi tới kết luận… “Lư Miễu chính là một vị
vua của Việt Nam”! Vấn đề này trong Lịch sử Phật giáo
Việt Nam được Lê Mạnh Thát tŕnh bày khá dài ḍng và rối
rắm, để thuận tiện theo dơi, xin được dẫn lại theo Hoàng Hải
Vân, song tôi vẫn muốn dẫn ra một đoạn từ Lịch sử Phật
giáo Việt Nam để bạn đọc được bổ sung thêm tài liệu về
cách thức suy đoán của Lê Mạnh Thát. Chẳng là, để chứng minh
Lư Miễu đích thị là một ông vua của Việt Nam, sau khi đặt ra
hai giả thuyết và tự bác bỏ, Lê Mạnh Thát đưa ra giả thuyết
thứ ba và biện luận: “đấy là giả thiết sự thêm thắt của Tăng
Hựu hay một người có ư thức chính trị Trung Quốc nào đó, và
nó có thể xảy ra như sau. Từ nguyên ủy những lá thư của Đạo
Cao và Pháp minh rất có thể chỉ xưng Lư Miễu như “quân” hay
“quân vương”. Đến khi chúng lọt vào tay những người Trung
Quốc, họ liền thên vào chữ “sứ” trước chữ “quân” và lặt chữ
“vương” đi, đưa đến sự xuất hiện cái anh hiệu “sứ quân”,
trong khi lá thư vẫn tiếp tục nói đến chuyện “cư đại bảo chi
địa” và “thổ ác dư hà” của Lư Miễu. Nói cách thứ ba này là
tương đối thoả măn nhất, bởi v́ nó không cho phép hiểu câu
“cư đại bảo chi địa” và t́nh h́nh chính trị nước ta ở thế kỷ
V một cách dễ dàng, mà c̣n để lộ ra một phần nào thái độ
chính trị và cảm thức chính trị của dân ta trong thế kỷ ấy.
Đấy là tiếp tục gọi lănh tụ của ḿnh là thiên tử, dù ông chỉ
là thứ sử hay thái thú trong các sử sách Trung Quốc, và từ
đó để lộ thêm nguồn gốc Việt Nam của những lá thư” (12). Xét
đoán như thế xong, Lê Mạnh Thát dùng phép loại suy để đi đến
kết luận 6 bức thư qua lại giữa Đạo Cao và Pháp Minh với Lư
Miễu được viết vào “khoảng năm 435”. Rồi từ đó suy đoán
tiếp: vào khoảng năm 435 mà nước Việt Nam vẫn có một ông vua
th́ cũng có nghĩa là không có thời kỳ Bắc thuộc lần thứ
nhất. Ô hay, chẳng nhẽ mọi sự lại đơn giản đến như vậy hay
sao?
5.
Lại nhớ trên Tạp chí Văn học (số 5 năm 2002), PGS TS
Nguyễn Hữu Sơn đă công bố bài viết có nhan đề Mấy vấn đề
đặt ra từ Nghiên cứu về “Thiền uyển tập anh”, bài viết
có nội dung giới thiệu cuốn sách Nghiên cứu về Thiền uyển
Thiền uyển tập anh của Lê Mạnh Thát. Đọc bài này tôi
nhận ra, dù trân trọng nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát về
Thiền uyển tập anh, dù dành cho công tŕnh một số nhận
xét ưu ái, nhưng hẳn là PGS TS Nguyễn Hữu Sơn cũng đặng
chẳng đừng khi phải ṣng phẳng nhận xét về các suy biện chủ
quan mà Lê Mạnh Thát thể hiện trong công tŕnh:
- “Ở đây, theo
chúng tôi, trong t́nh h́nh chưa thể truy t́m được văn bản
nguồn gốc th́ tất cả những lập luận, suy luận, suy diễn,
nói khác đi, nếu không đi nữa, dẫu sao (chữ dùng của
LMT)... trước sau cũng mới chỉ là những đoán định đặt trong
chiều hướng, xu thế, khả năng, đ̣i hỏi cần được t́m hiểu
thêm”.
- “Tuy nhiên,
với trường hợp “truyền bản đời Lê sơ”, trên cơ sở cứ liệu
việc biên soạn lại Việt điện u linh tập và Lĩnh
Nam chích quái,
tác giả đi đến kết luận: “Điều này chứng tỏ Thiền uyển
tập anh lưu truyền khá phổ biến vào đời Lê sơ, tức
khoảng trong những năm 1448 - 1466...” (tr.32), song thực
chất cũng chỉ là kết luận ngoại suy. Nó chỉ chứng tỏ kiến
văn uyên bác và khả năng suy tưởng sâu sắc nơi người viết,
nhưng do điều kiện tư liệu và bản thân tính phức tạp của đối
tượng nghiên cứu qui định nên các kết luận trên vẫn chỉ là
ngoại suy (tất nhiên là ngoại suy của một học giả
tŕnh độ bậc thầy), chứ chưa phải đă đưa lại kết quả học
thuật minh chứng hiển nhiên”.
- “Để đi tới
những kết luận giả định này, người viết đă vận dụng vốn kiến
thức vô cùng sâu rộng, từ đó góp phần khơi mở những định
hướng nghiên cứu mới mẻ (đơn cử như việc đề xuất việc khảo
sát thực địa xă Nguyệt Áng - nơi có tháp Kim Sơn - vốn thuộc
tổng Phù Lưu, huyện An Lăo, phủ Kim Môn, tỉnh Hải Dương cũ).
Có điều, những suy đoán dù thông tuệ chặt chẽ bao nhiêu cũng
đành dừng lại ở mức độ có khả năng, chưa thể là kết
luận cuối cùng”…
Xem ra nhận xét
của Nguyễn Hữu Sơn đối với cung cách làm việc của Lê Mạnh
Thát trong Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh cũng
không khác với nhận xét của tôi về cung cách làm việc của Lê
Mạnh Thát trong Lục độ thập kinh và lịch sử khởi nguyên
của dân tộc ta. Đọc cuốn sách, có thể tiếp cận với vô số
suy đoán kỳ khôi, vô số biện giải kỳ tài. Tỷ như, để hoàn
chỉnh kết luận của ông rằng truyền thuyết An Dương Vương chỉ
là vay mượn từ Mahabharata, từ góc độ ngôn ngữ, Lê
Mạnh Thát giải thích nguồn gốc tên gọi Thục Phán như sau:
“Chữ Pandu này, nếu cứ vào thông lệ phát âm của người nước
ta, có thể phát thành “phan thu”… Cái tên Phán của
con vua Thục chắc chắn đă phải là phiên âm chữ Pandu,
tên người cha của Yudhisthira” (13)! Hay Lê Mạnh Thát coi
Cao Lỗ - tương truyền là người giúp An Dương Vương làm ra
“nỏ thần”, chính là nhân vật Krsna trong sử thi
Mahabharata, và ông diễn giải: “Tiếng Phạn viết nó như
Krsna, mà nếu phát âm, sẽ đọc như Kà rớt sờ na. Chỉ
cần nh́n phát âm ấy, ta tất có thể thấy tên Cao Lỗ đă xuất
phát từ đâu. Nó chắc hẳn là phiên âm hai ngữ phận đầu Krsna
của người nước ta” (14), tức là Kà rớt được đọc thành
Cao Lỗ! Suy đoán theo lối của Lê Mạnh Thát th́ có
khác ǵ bảo rằng tên nhân vật thống lư Pá Tra trong Vợ
chồng A Phủ chính là do Tô Hoài đă vay mượn từ tên gọi
của thành phố Pápa tận bên Hungari; hay Nguyễn Trăi, Nguyễn
Huệ, Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Tuân đến… Nguyễn Ḥa -
kẻ viết bài này, là có cùng một trực hệ!
Từ giả thuyết
đến chứng minh, cuối cùng rút ra kết luận có giá trị về lư
luận và thực tiễn, đó là tiến tŕnh mang tính nguyên tắc đ̣i
hỏi mọi người nghiên cứu phải luôn luôn tuân thủ. Lê Mạnh
Thát cũng đi theo tiến tŕnh này, song đó là một tiến tŕnh
hư vô v́ ông đă đi từ giả thuyết hời hợt đến khảo chứng theo
lối tư biện, chủ quan và kết luận một cách cực đoan. Tuy
nhiên, việc Lê Mạnh Thát huy động một lượng tri thức phong
phú từ nhiều nguồn khác nhau vào công tŕnh đi kèm với những
lời xác quyết như phát ngôn của một học giả có thẩm quyền đă
che lấp điểm yếu cốt tử trong “nghiên cứu” của ông, và làm
cho một số người như bị choáng ngợp khi tiếp xúc với một
lượng tri thức rối rắm nhưng đem lại cảm giác về sự thông
tuệ, uyên bác, công phu!
6.
Với sự phát
triển của tŕnh độ nhận thức khoa học, của khả năng khám
phá, của các phương tiện hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu…
con người đă có được, cho đến nay, nhiều bí ẩn lịch sử đă
được “giải mă”, giúp chúng ta có thêm cái nh́n mới về lịch
sử. Song điều đó lại đặt công việc nghiên cứu trước những
đ̣i hỏi khắt khe hơn, làm cho việc phát hiện ra cái mới
trở thành một thách thức không dễ vượt qua nếu người nghiên
cứu thiếu vắng năng lực khoa học, không có khả năng nắm bắt
và sử dụng các phương pháp nghiên cứu, không có nhăn quan
khoa học sáng suốt, không xuất phát từ các tiền đề khoa học
đúng đắn… Có thể trong Lê Mạnh Thát luôn thường trực một
t́nh yêu dân tộc, nhưng dù t́nh yêu ấy tràn đầy đến thế nào
th́ ông mới chỉ có động cơ nghiên cứu, v́ t́nh yêu dân tộc
không thể thay thế các yêu cầu, các nguyên tắc của hoạt động
nghiên cứu. Đừng v́ Lê Mạnh Thát có t́nh yêu dân tộc mà gán
cho kết quả “nghiên cứu” của ông nhăn hiệu “cái mới”. Trong
sinh hoạt văn hóa - xă hội nói chung, trong nghiên cứu khoa
học nói riêng, để được thừa nhận và khẳng định, cái mới
bao giờ cũng phải là kết quả của sự t́m ṭi, sáng tạo phù
hợp với quy luật phát triển, mang tính tích cực xă hội,-góp
phần làm sáng tỏ, nâng cao nhận thức của con người… Trong
nghiên cứu khoa học, cái mới bao giờ cũng phải là
phát hiện ra một (hoặc nhiều) điều khác với những ǵ cùng
lĩnh vực đă có từ trước, nhưng hiển nhiên, không phải bất kỳ
cái ǵ khác trước cũng đều được coi là “mới”. Mặt khác,
cái mới ít nhiều c̣n mang tính lịch sử, cái mới
của ngày hôm qua có thể là b́nh thường (thậm chí là cái
“cũ”) của ngày hôm nay. Như khi PGS Phan Ngọc đưa ra quan
niệm về sự “khúc xạ” của nhiều giá trị văn hóa nước ngoài
sau khi du nhập vào Việt Nam chẳng hạn. Phát hiện của Phan
Ngọc là cái mới ở thời điểm tác giả đưa ra, c̣n lâu
nay, nó đă trở thành điều b́nh thường trong quan niệm của
nhiều nhà nghiên cứu khi bàn về tiếp biến văn hóa ở Việt
nam. Từ lịch sử vấn đề, tôi không coi “phát hiện” của Lê
Mạnh Thát có ǵ mới mẻ, tôi coi đó chỉ là vệt kéo dài của xu
hướng nghiên cứu lấy “Việt Nam làm trung tâm”, cố gắng quy
nạp nhiều thành tựu văn hóa - văn minh châu Á cổ đại về với
Việt Nam, đưa tới cảm giác dường như Việt Nam đă từng là
“cái nôi” khai sinh của nhiều giá trị văn hóa - văn minh
phương Đông!
Thêm nữa, từ góc
nh́n thức nhận và có tính biện chứng, đối với một công tŕnh
nghiên cứu, không thể chỉ đánh giá từ kết quả mà công tŕnh
có được, hay xem xét trong đó tác giả sử dụng tư liệu ǵ,
quan niệm của tác giả khi xử lư tư liệu ra sao,… bản chất
hơn là phải xem xét điểm xuất phát, xem xét điều ǵ đă tạo
nên tiền đề để tác giả tiến hành công tŕnh. Từ góc nh́n ấy,
tôi xin khẳng định: Nghiên cứu của ông Lê Mạnh Thát chỉ là
một phán đoán chủ quan, ông đi từ giả định đến khẳng định mà
bỏ qua một vấn đề then chốt trong nghiên cứu là chỉ có giả
định đúng mới có thể (xin nhấn mạnh - NH) đi tới kết
luận đúng. Nói cách khác, ông Lê Mạnh Thát mới đưa ra một
giả thuyết, mà giả thuyết ấy như tôi đă chứng minh, vừa sai
lầm về phương pháp vừa hư vô về tiếp cận và xử lư tư liệu,
chúng chưa hội đủ các điều kiện cần thiết để ông phăm phăm
đi tới kết luận cuối cùng. V́ thế theo tôi, “phát hiện” của
Lê Mạnh Thát hoàn toàn không mang ư nghĩa là “cái mới” như
một số tác giả đă lớn tiếng ca ngợi.
7.
Theo lẽ thông thường, lẽ ra cuốn sách Lục độ thập kinh và
lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta cùng các kết luận Lê
Mạnh Thát trong đó cần được khảo chứng cẩn trọng dưới nhăn
quan khoa học th́ thật đáng tiếc, vấn đề lại trở nên ầm ĩ
qua sự tung hô của một nhà báo mà tôi tin là tác giả này c̣n
thiếu năng lực đánh giá một công tŕnh nghiên cứu, cũng như
thiếu năng lực thẩm định các luận điểm của một công tŕnh
nghiên cứu. Bằng việc gán cho Lê Mạnh Thát và Lục độ thập
kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta “những phát
hiện lịch sử chấn động”, qua các câu chữ đă sử dụng (“phát
hiện cực kỳ quan trọng… đưa ra một loạt những kết luận với
các chứng cứ không thể phản bác… chứng cứ đanh thép… khám
phá một sự thật lịch sử thú vị… Với những khám phá của ông,
chúng ta có đủ tài liệu để dựng lại lịch sử vẻ vang của dân
tộc ta từ hai ngàn năm trước…”), Hoàng Hải Vân vừa bỏ qua
thái độ khách quan cần có khi đề cập tới một vấn đề học
thuật, vừa bộc lộ sự vội vàng trong tiếp nhận và xử lư thông
tin, vừa tỏ ra thiếu trách nhiệm trước bạn đọc. Với bài viết
từ tâm thế của một xác tín hồn nhiên như thế, lẽ ra nên cẩn
trọng thẩm định trước khi công bố, bởi đây là đề tài liên
quan tới một số vấn đề hệ trọng, hàng ngh́n năm nay đă in
dấu ấn trong trong niềm tin, trong tâm thức dân tộc, đồng
thời c̣n là nỗi đau đáu của nhiều học giả đương thời. Song,
không rơ do thiếu khả năng thẩm định hay v́ muốn đưa ra
thông tin “giật gân” mà người ta đă tỏ ra thiếu thận trọng?
Đáng tiếc hơn,
trong “dàn đồng ca do Hoàng Hải Vân lĩnh xướng”, lại có một
vài tác giả mượn danh “cái mới” để cổ vũ cho một hướng
nghiên cứu tùy tiện. Tôi thật sự thất vọng khi đọc các ḍng
chữ do một vị tiến sĩ viết: “Dù không thể tránh khỏi sai
sót, những ư kiến của thiền sư Lê Mạnh Thát là cực kỳ ấn
tượng và nhất là, mang tính dự báo cho bước đột phá quan
trọng đối với việc dựng lại những trang sử của dân tộc trong
các thời kỳ không có hoặc thiếu sử liệu… tôi nghĩ đóng
góp to lớn và nhiều ư nghĩa nhất của thiền sư Lê Mạnh
Thát là ở chỗ ông đă bổ nhát cuốc đầu tiên để khai
phá rồi ươm trồng những hạt giống nhận thức mới về lịch sử…
Cái đáng quư và cần được ghi nhận một cách trân trọng là ở
chỗ, thiền sư Lê Mạnh Thát đă buộc tất cả những nhà nghiên
cứu lịch sử nước ta và cả những ai quan tâm đến lịch sử phải
có một thay đổi thật sự trong cách tiếp cận, cách hiểu và
diễn giải lịch sử”. Đọc xong ư kiến này, ấn tượng sâu sắc mà
ông tiến sĩ đem tới cho tôi chỉ là sự sững sờ. V́ tôi đồ
rằng đến thời điểm đưa ra phát ngôn, ông tiến sĩ vẫn chưa
đọc cuốn sách của Lê Mạnh Thát, mà chỉ nói dựa theo bài báo
của Hoàng Hải Vân. Vậy tôi có thể nghi ngờ phát ngôn của một
vị tiến sĩ khả kính và có thể đặt câu hỏi: phải chăng học vị
tiến sĩ ở xứ An Nam ta cũng có năm bảy đường? Tôi c̣n thất
vọng hơn khi thấy một nhà thơ nói rằng: “Với cảm nhận của
bản thân, tôi cho rằng những giả thiết mà thiền sư đặt ra là
rất đáng trân trọng. Trước hết phải ghi nhận là thiền sư đă
có một tinh thần dân tộc, luôn mong muốn làm sáng tỏ lịch sử
nước nhà. Thiền sư đă cất công t́m ṭi, ḍ sâu vào lịch sử,
đọc những tài liệu, những công tŕnh khoa học từ nhiều
nguồn, nhiều quốc gia, nhất là trong các tạng kinh Phật. Đây
là một cơ duyên mà không phải ai cũng có được. Trong bối
cảnh mà nhiều nguồn tài liệu khác đă bị tiêu hủy, th́ việc
phát hiện những vấn đề lịch sử tiềm tàng trong kinh Phật là
điều rất quư”. Với một vấn đề khoa học, người ta không thể
đánh giá bằng sự “cảm nhận” (bởi đó không phải là một bài
thơ!), nên tôi nghĩ nhà thơ cũng khó có thể phân biệt được
sự khác nhau giữa sử liệu với “vấn đề tiềm tàng trong kinh
Phật”, v́ lẽ: sử liệu là sử liệu và luôn luôn cần phải được
thực chứng; c̣n kinh Phật là kinh Phật và trong đó c̣n bao
chứa các tín điều, các huyền thoại để thần thánh hóa các tín
điều. Cho dù sử liệu và kinh Phật có quan hệ mật thiết đến
mức nào th́ vẫn không thể nhầm lẫn, do vậy để bảo đảm cho sự
nghiêm cẩn của ư kiến, lẽ ra trước khi phát biểu “cảm nhận”,
nhà thơ cần tham khảo ư kiến các nhà chuyên môn như GS Phan
Huy Lê, TS Nguyễn Việt mà báo chí đă đăng tải. Cũng xin
thưa, dù nhà thơ đă đọc Lục độ thập kinh và lịch sử khởi
nguyên của dân tộc ta th́ cũng không có nghĩa ông có thể
lĩnh hội nó trong tư cách một công tŕnh khoa học, ấy là
chưa nói có thể ông đă không đọc cuốn sách với tâm thế phản
biện, mà bị thuyết phục bởi những điều mà chưa chắc ông có
khả năng lư giải.
Không bàn tới
các cuốn sách khác của Lê Mạnh Thát, không đánh giá ông đă
có đóng góp như thế nào, từ các phân tích trên đây tôi thiết
nghĩ, ngoài một số tư liệu cho thấy tác giả là người đọc rất
nhiều, cuốn Lục độ thập kinh và lịch sử khởi nguyên của
dân tộc ta của Lê Mạnh Thát rất thiếu vắng giá trị khoa
học. Nếu kết luận của Lê Mạnh Thát là “phát hiện chấn động”
th́ nó chỉ có ư nghĩa duy nhất là làm nhiễu loạn nhận thức
của công chúng về lịch sử, về các vấn đề có liên quan với
nguồn gốc dân tộc. Tôi luôn kính trọng những tác giả có chí
hướng nghiêm túc khi cố gắng đi t́m nguồn gốc của dân tộc,
song tôi không đặt niềm tin vào động cơ khoa học của một tác
giả khi chưa biết ư kiến của ḿnh đúng - sai ra sao đă cao
ngạo mạt sát tiền nhân “nhắm mắt nói càn… khốn nạn hết chỗ
nói!” (Nhận xét này, dù bị nhiều người phê phán nhưng vẫn ưu
ái cho rằng đó không phải là nhận xét của một người say mê
Phật học, đến nay vẫn chưa thấy Lê Mạnh Thát đính chính?
Tương tự như vậy, việc Lê Mạnh Thát có phải là Giáo sư,
Thiền sư hay không xem ra vẫn c̣n rất mù mờ, v́ ngày nay,
chức danh Giáo sư là do Nhà nước quyết định, danh hiệu Thiền
sư cũng phải được Tăng đoàn công nhận, chứ không phải cứ
khoái lên là có thể tặng phứa cho nhau). V́ thế đề nghị các
vị học giả, các nhà nghiên cứu không nên tổ chức hội thảo về
cuốn sách làm ǵ, công việc ấy chỉ làm tốn kém thêm tiền bạc
của nhân dân mà thôi./.
NH - 3.2008
--------------------------------------
1.
http://www.quangduc.com/lichsu/03lspgvn.html
- Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam (từ khởi
nguyên đến thời Lư Nam Đế), do Học viện Phật giáo Việt Nam
tại TP Huế thực hiện, NXB Thuận Hóa - Huế năm
1999, bản này cũng đă được post trên các website khác như
thuvienhoasen.org,
buddhismtoday.com.
2. Dẫn theo
Hoàng Hải Vân - báo Thanh Niên, số ra ngày 26.2.2008.
3. Lê Mạnh Thát
- Lục độ thập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta,
NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh năm 2006, tr.195.
4. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.212.
5. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.20
6. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.72
7. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.94
8. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.127
9. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.129.
10. Đặng Nghiêm
Vạn - Về chuyện quả bầu mẹ ở Việt
Nam,
Tạp chí Văn học, số 3 năm 1972.
11. Dẫn theo
Hoàng Hải Vân, báo Thanh Niên, số ra ngày 3.3.2008.
12.
http://www.quangduc.com/lichsu/03lspgvn8.html
13. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.137.
14. Lê Mạnh Thát,
Sđd, tr.133.
Nguồn:
http://www.viet-studies.info/NguyenHoa/NguyenHoa_BanVeLeManhThat.htm |