|
Vắcxin ngừa viêm gan B: nhiễu thông
tin!
Nguyễn Văn Tuấn
Tuổi Trẻ (17/5/2007) có bài viết “Hàng
trăm ca tử vong sau khi tiêm văcxin viêm gan B ở Mỹ” với nhiều
thông tin không chính xác. Phần lớn bài viết lấy thông tin từ trang
web của ông Joseph Mercola ở bang Illinois (Mĩ), một bác sĩ vật lí
trị liệu (osteopathic doctor) có nhiều ư kiến “phi chính thống” và
nổi tiếng chống đối các chương tŕnh tiêm chủng ngừa. Ngay cả những
“trung tâm” như “Trung tâm thông tin văcxin quốc gia Mỹ” tuy mới
nghe qua có vẻ như là một trung tâm y tế nghiêm chỉnh, nhưng không
được các hội đoàn y khoa chính thống công nhận, v́ thực chất đây là
một nhóm người “lobby” (chuyên tuyên truyền vận động) chống chương
tŕnh tiêm ngừa vắcxin ở Mĩ.
Những ai c̣n nghi ngờ về nhận xét đó của tôi có thể đọc qua một số
bài viết của ông Mercola và của “trung tâm” này sẽ thấy rất nhiều
phát biểu của họ hoàn toàn không dựa trên một cơ sở khoa học nào,
nhưng lại sử dụng tối đa cảm tính hóa vấn đề. Cần nói thêm rằng
trang web của ông Mercola đă bị Bộ Y tế Mĩ (Department of Health and
Human Services) cảnh cáo v́ những thông tin sai lạc [1].
Có quá nhiều thông tin trong bài viết hoặc thiếu cơ sở khoa học hoặc
không đúng với t́nh h́nh thực tế ở Việt Nam. Ở đây, tôi chỉ xin nêu
vắn tắt những điểm chính có thể dễ gây ra ngộ nhận ở những bạn đọc
thiếu thông tin về vấn đề này:
Thứ nhất, phát biểu rằng “Khác với các bệnh truyền nhiễm khác, viêm
gan B không phổ biến ở trẻ em và không dễ lây truyền” có thể đúng ở
Mĩ, nhưng không đúng ở Việt Nam, v́ hiện nay ở nước ta có khoảng 13%
trẻ em mới sinh (9 đến 18 tháng) và 18% trẻ em tuổi từ 4 đến 16 bị
nhiễm viêm gan B [2]. Ngay cả ở độ tuổi vị thành niên và trưởng
thành (trên 25 tuổi), tỉ lệ viêm gan B cũng khoảng 20%. Đó là một tỉ
lệ rất cao. Tổ chức Y tế Thế giới đề nghị tiêm ngừa viêm gan B ở
những vùng có tỉ lệ cao hơn 2%. Chương tŕnh tiêm ngừa viêm gan B đă
được triển khai trên 150 nước trên thế giới, kể cả nước ta, từ hơn
20 năm qua và đă đạt được nhiều thành tựu ngoạn mục [3,4].
Thứ hai, phát biểu rằng “Văcxin viêm gan B đă được Cơ quan thuốc và
thực phẩm Mỹ (FDA) cấp phép mà không có bằng chứng đầy đủ về tính an
toàn dài hạn” là cực ḱ sai lầm. Ngược lại, có rất nhiều bằng chứng
khoa học cho thấy vắcxin ngừa viêm gan B rất hữu hiệu trong việc
ngăn ngừa căn bệnh nguy hiểm này. Xin lấy chương tŕnh tiêm ngừa ở
Đài Loan, được xem là một thành công tiêu biểu, làm ví dụ. Ở Đài
Loan, chương tŕnh tiêm vắcxin ngừa viêm gan B được triển khai toàn
quốc từ năm 1984, và chỉ trong ṿng 10 năm sau khi triển khai chương
tŕnh tiêm chủng, tỉ lệ trẻ em mới sinh với viêm gan B giảm từ 10%
xuống c̣n 1%. Trong cùng thời gian, tỉ lệ ung thư gan ở trẻ em giảm
gần 50% [5,6]. Thành công này cũng được ghi nhận ở các nước Phi câu
và Á châu.
Thứ ba, cho rằng “Chưa tới 5% những người bị nhiễm virus viêm gan B
sẽ mang bệnh măn tính” cũng quá sai. Viêm gan B là một bệnh nguy
hiểm, là nguyên nhân dẫn đến các bệnh măn tính như xơ gan, ung thư
gan và tử vong. Số liệu nghiên cứu cho thấy từ 8 đền 20% những trẻ
em bị viêm gan B sẽ mắc nhiều bệnh măn tính, kể cả ung thư gan khi
trưởng thành [7]. Tuy ung thư gan thường thấy ở bệnh nhân 40 tuổi
trở lên, nhưng ở những vùng có tỉ lệ viêm gan cao như Đông Nam Á,
ung thư gan cũng được phát hiện khá nhiều ở trẻ em vị thành niên.
Nghiên cứu ở Đài Loan cho thấy gần 100% trẻ em ung thư gan là do
viêm gan B [8].
Thứ tư, tôi không thấy bất cứ bằng chứng nào làm cơ sở cho phát biểu
“… trong khoảng 1990-1998 có 25.000 báo cáo cho thấy 439 trường hợp
bị chết, hơn 9.000 tai biến nghiêm trọng”. Như tŕnh bày trong một
bài trước, một nghiên cứu ở Mĩ về sự cố và hiệu ứng của tiêm vắcxin
cho thấy tính từ 1991 đến 1998, có 18 trường hợp trẻ em (8 nam, 9 nữ
và 1 trường hợp không rơ giới) mới sinh chết sau khi tiêm vắcxin
ngừa viêm gan B. Phân tích chi tiết nguyên nhân tử vong cho thấy có
12 trường hợp chết do đột tử (sudden infant death syndrome hay
SIDS), 3 trường hợp do nhiễm trùng, 1 trường hợp do xuất huyết năo,
và 1 trường hợp không rơ nguyên nhân. Trong cùng thời gian, có hơn
86 triệu liều vắcxin được tiêm cho trẻ em. Các tác giả nghiên cứu
kết luận rằng “các số liệu này cho thấy tiêm ngừa viêm gan B không
làm gia tăng nguy cơ tử vong ở trẻ em” [9].
Tuy chương tŕnh tiêm ngừa vắcxin ở nước ta đang gặp khó khăn trước
4 trường hợp tử vong và chưa rơ nguyên nhân, nhưng kinh nghiệm từ
nước ngoài cho thấy chương tŕnh này đem lại lợi ích lớn cho cộng
đồng. Chúng ta có thể làm một vài tính toán đơn giản để thấy lợi ích
này. Mỗi năm, có khoảng 1,5 triệu trẻ em mới sinh, và với tỉ lệ
nhiễm 13%, chúng ta có thể ước tính có đến 202.000 em nhiễm viêm gan
B. Nếu không tiêm vắcxin, số trẻ em này sẽ mắc bệnh khi trường thành,
và khoảng 15% đến 25% sẽ bị chết v́ các bệnh măn tính liên quan đến
gan và ung thư gan. Nhưng tiêm vắcxin lúc mới sinh có thể xóa bỏ
khoảng 90% đến 95% các trường hợp viêm gan B, và do đó, có thể cứu
sống cho hơn 38.000 người.
Quay trở lại vấn đề thông tin, có thể nói rằng cuộc cách mạng thông
tin ngày nay đă đem lại cho bác sĩ và bệnh nhân một cơ hội và cũng
là một lợi ích mà họ chưa bao giờ có được trong vài thập niên trước
đây: đó là sự tiếp cận với thông tin y khoa qua internet. Internet
là một thư viện thông tin vĩ đại, nhưng cũng như các phương tiện
truyền thông khác, có rất nhiều thông tin trên internet chưa bao giờ
qua kiểm chứng, không rơ nguồn gốc, nhưng được truyền đi với một mục
tiêu v́ lợi ích cá nhân. Sàng lọc thông tin có ích từ từ “đống rác”
này đ̣i hỏi vài kĩ năng chuyên môn. Như nói trên, trang web của ông
Mercola mà Tuổi Trẻ trích dẫn đă từng bị Bộ Y tế cảnh cáo hai lần và
Cơ quan quản lí thực phẩm và thuốc của Mĩ (FDA) yêu cầu ông ngưng
tuyên truyền sai.
Trong khoa học, niềm tin và kinh nghiệm cá nhân không thể xem là
khách quan, và không thể làm nền tảng để hành động, nếu những kinh
nghiệm đó chưa qua thử nghiệm khách quan. Do đó, y học trong thế kỉ
21 là “y học thực chứng” (evidence-based medicine). Theo đó, tất cả
các phương pháp điều trị, các chương tŕnh y tế công cộng, và thực
hành y khoa phải nên dựa vào bằng chứng khoa học [10]. Bằng chứng
khoa học khách quan nhất và đáng tin cậy nhất là những báo cáo trong
các tập san khoa học quốc tế của các hội đoàn chuyên khoa, chứ không
phải những phát biểu cá nhân không có cơ sở khoa học. Chúng ta phải
hành xử và phán xét dựa trên cơ sở dữ kiện nghiên cứu, những dữ kiện
được thu thập một cách khách quan, chứ không dựa vào cảm tính hay
theo phong trào hay áp lực.
Chú thích:
Để cung cấp cho bạn đọc quan tâm và
đồng nghiệp y khoa vài thông tin chính, những phát biểu của tôi
trong bài này dựa vào những công tŕnh nghiên cứu khoa học sau đây (số
thứ tự chỉ nguồn tham khảo cho từng phát biểu quan trọng trong bài
viết):
1. Xin xem lá thư cảnh cáo “Warning Letter” ngày 16/2/2005 của Bộ y
tế gửi ông Mercola trong trang web này:
http://www.casewatch.org/fdawarning/prod/2005/mercola.shtml. Đến
năm 2006, Bộ y tế Mĩ lại cảnh cáo ông một lần nữa (xem thư “Warning
Letter đề ngày 21/9/2006 tại
http://www.casewatch.org/fdawarning/prod/2006/mercola2.shtml)
2. Hipgrave DB, et al. Hepatitis B infection in rural Vietnam and
the implications for a national program of infant immunization.
American Journal of Tropical Medicine and Hygiene 2003; 69:288-94.
3. Francois G, et al. Vaccine safety controversies and the future of
vaccination programs. Paediatric Infectious Disease Journal 2005;
11:953-61.
4. Shepard CW, et al. Hepatitis B virus infection: Epidemiology and
vaccination. Epidemiologic Review 2006;28:112-125.
5. Chang MH, et al. Universal hepatitis B vaccination in Taiwan and
the incidence of hepatocellular carcinoma in children. New England
Journal of Medicine 1997; 336:1855-9.
6. Chang MH, et al. Hepatitis B vaccination and hepatocellular
carcinoma rates in boys and girls. JAMA 2000; 284:3040-2.
7. World Health Organization. Hepatitis B.
www.who.int/vaccines-diseases/hepatitis_b.htm.
8. Chang MH, et al. Maternal transmission of heptatitis B virus in
childhood hepatocellular carcinoma. Cancer 1989; 64:2377-80.
9. Niu MT, et al. Neonatal deaths after hepatitis B vaccine.
Archives of Pediatric Adolescent Medicine 1999; 153:1279-82.
10. Về y học thực chứng, xin xem cuốn “Hai mặt sáng tối của y học
hiện đại” của Nguyễn Văn Tuấn, Nhà xuất bản Trẻ in lần thứ 2 năm
2006. |
|