|
Tṛ chuyện với nhà ngoại giao "ít nói dối"
(VietNamNet) -
Trong năm 2006 vừa rồi, cùng với một số nhân vật nổi tiếng, bà Tôn
Nữ Thị Ninh xuất hiện nhiều trên truyền thông trong chùm sự kiện
liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO. Đă có những cách nh́n nhận
đánh giá khác nhau về vai tṛ của bà, cũng như của những người này,
trong ḍng thời sự của cuộc vận động.
Nhưng, tựu trung, bà vẫn được coi là một nhà ngoại giao, và trước
hết là một phụ nữ, thông minh, sắc sảo, và, đặc biệt, rất có chính
kiến, cũng như dám công khai bộc lộ chính kiến của ḿnh. Cũng với
một cách nh́n thẳng vào vấn đề như vậy, bà đă nói với VietNamNet về
quan niệm làm ngoại giao, và quan niệm về phụ nữ, trong thời đại hội
nhập.
|
 |
|
Bà Tôn Nữ Thị Ninh đang trao đổi với một đại biểu nước
ngoài trong một cuộc hội thảo. |
Tôi
không hợp kiểu phát ngôn bài vở sẵn
Cựu
Đại sứ Mỹ tại VN "Pete" Douglas Peterson có nói rằng rất ấn tượng
với lần Bà lên phát biểu trên truyền h́nh ở New York hồi cuối năm
2004. Bà có thể kể lại đôi chút về kỷ niệm đó không?
Tôi
không nhớ đâu. Cứ ở đâu tôi quảng bá được cho Việt Nam th́ tôi nhận
lời tất. Có nhiều người ngại. Tôi từng nói rằng thời chiến tranh
ḿnh dũng cảm tiến công như thế, sao bây giờ thời b́nh ḿnh lại
pḥng ngự thế.
Tôi
không hợp với kiểu phát ngôn của Bộ Ngoại giao, tức là bài vở sẵn
hết rồi, chắc nịch từng câu chữ, không được thêm nửa lời. Anh theo
dơi th́ thấy người phát ngôn Nhà Trắng cũng chỉ phát biểu những câu
cộc lốc đă chuẩn bị trước, c̣n ai hỏi thêm nói: “Tôi chỉ có quyền
nói đến thế.” Rồi quay phắt lưng đi.
Ư bà
là...
Ư
tôi là nếu cho công tác thông tin đối ngoại của ḿnh chỉ bó gọn vào
người phát ngôn BNG, và nay có thêm người phát ngôn của Thủ tướng,
là đủ, th́ hoàn toàn là ngộ nhận. Đó chỉ là một trong nhiều binh
chủng cùng tham gia một mặt trận. Tôi nghĩ tôi thuộc "lực lượng
triển khai linh hoạt", như người ta thường gọi.
Và
như vậy, có thể coi việc Bà chuyển sang Quốc hội là một sự may mắn
với Bà?
Cũng
có một vài bạn bè cứ tiếc rằng giá mà tôi cứ tiếp tục trụ trong
ngành ngoại giao. Về đây, tôi vẫn làm công tác đối ngoại, nhưng cái
thú vị ở đây là nhiệm vụ đàm phán kư kết thoả thuận ǵ ǵ đó th́ hầu
như không c̣n nữa.
Cái
mà tôi cho là ḿnh được phát triển nhiều hơn là công tác thông tin
đối ngoại. Trên thực tế, khi nước ngoài họ được giới thiệu rằng
trước mặt họ là một nhà ngoại giao th́ họ không chờ đợi ǵ nhiều từ
sự đổi mới, hay một bộ mặt mới. C̣n quốc hội qua lăng kính của họ là
một định chế khá mới mẻ, và thú vị.
Khi
th́ bà đi với tư cách là một nghị sĩ, Phó Ban Đối ngoại Quốc hội,
khi th́ với tư cách một học giả. Bà đánh giá ḿnh hiện giờ là một
nhà ngoại giao chuyên nghiệp, hay là một nhà ngoại giao nhân dân?
Nhà
nước bao gồm chính phủ và quốc hội, cho nên đối ngoại của quốc hội
là một binh chủng, nhỏ thôi, bên cạnh cái binh chủng lớn là ngoại
giao của chính phủ. Ngoại giao chính phủ nó rất g̣ ép, c̣n ngoại
giao nhân dân th́ thoải mái hơn nhiều. Ngoại giao quốc hội có cái ǵ
đó nằm giữa hai cái đó.
Tôi
đă từng nói với một thành viên trong Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ,
rằng "các ông cứ trách việc VN phản đối việc Mỹ vào Iraq. Ông mới
nghe chính phủ thôi, chứ ông có muốn nghe cử tri của tôi nói ǵ
không về hành vi của Mỹ không?"
"Tháng
3 Mỹ đánh, th́ tháng 4 tôi đi tiếp xúc cử tri, và có một cựu chiến
binh đă thắc mắc rằng Chính phủ VN phản đối không đủ mạnh", tôi trả
lời luôn.
Như
vậy, làm đối ngoại quốc hội dễ nói hơn, v́ có thể truyền đạt lại ư
kiến cử tri, nhân danh cử tri, nên đỡ g̣ ép, hay phải cân nhắc quá
mức. Nói tóm lại, đối ngoại quốc hội làm cho đối ngoại của VN nhiều
màu sắc, uyển chuyển hơn.
Hơn
nữa, chúng tôi cũng dễ kết hợp hơn với ngoại giao nhân dân, tức là
Liên hiệp các tổ chức hữu nghị, hay các đoàn thể quần chúng khác.
Từ
khi về phụ trách Quốc hội Bắc Mỹ, tôi tự đặt cho ḿnh một câu hỏi:
Về đây tôi sẽ là cái ǵ? Quốc hội cần làm ǵ để đổi mới, và tôi có
thể tham gia như thế nào?
Trong công cuộc Đổi Mới của VN, người ngoài thường đánh giá nhiều ở
quá tŕnh dân chủ hoá, và quốc hội có thể là minh chứng cho điều đó
một cách thuyết phục và sinh động nhất. Nhưng thực chất ḿnh phải
làm hay th́ mới nói hay được, chứ ḿnh làm dở th́ nói hay cũng khó,
chỉ nguỵ biện thôi.
Ai
cũng công nhận rằng những người làm thông tin trên thế giới này cũng
sử dụng một phần nguỵ biện, nhưng nguỵ biện có nghệ thuật. Tôi đă
từng nói với sinh viên Học viện Quan hệ Quốc tế rằng một nhà ngoại
giao giỏi, cũng như là một nhà truyền thông giỏi, phải ít nói dối,
càng ít càng tốt.
Quan
điểm ngoại giao "truyền thống" đă lỗi thời
Điều
đó khác hẳn với định nghĩa rất "classic" về nhà ngoại giao, tức là
“nhà ngoại giao là người trung thực, được cử ra nước ngoài nói dối,
v́ lợi ích quốc gia”?
Nhà
ngoại giao, theo quan điểm của tôi, phải cố gắng trung thực tối đa,
như mọi con người lành mạnh và tốt đẹp. Nhưng sự khác nhau giữa nhà
ngoại giao và những người làm công việc khác như thống kê, hay bán
hàng, là nhà ngoại giao phải thể hiện sự trung thực của ḿnh một
cách toàn diện, sâu sắc, chứ không phải trung thực một cách hồn
nhiên. Hay như cánh truyền thông các anh hay nói: Một nửa sự thật
không phải là sự thật.
Sự
trung thực một cách sâu sắc đó đ̣i hỏi phải có kinh nghiệm, phương
pháp, nghệ thuật và một phần năng khiếu bẩm sinh nữa. Như vậy, sự ư
thức đó trở thành phản xạ, rất tự nhiên.
Lần
đó Bà tự nói, hay sinh viên họ chủ động hỏi Bà?
Họ
hỏi chứ. Câu hỏi như sau: “Trong đời làm ngoại giao của bà, đă bao
giờ bà nói dối chưa?” Tôi trả lời: "Đương nhiên. Nhà ngoại giao cũng
là con người, mà đă là con người, liệu có ai trên thế gian này dám
vỗ ngực bảo ḿnh chưa từng nói dối không?"
Tuy
vậy, tôi vẫn cho nói dối là hạ sách. Tôi tránh ở mức tối đa, mà thay
vào đó bằng việc nói ít, nếu không thể nói hết sự thật. C̣n nếu hoàn
toàn không thể nói sự thật th́ tôi làm thinh hoặc tránh. Lúc đó,
phải có nghệ thuật lách.
Bà
có nhớ trường hợp nào người ta dồn bà, khiến bà không thể "lách"
được?
Người ta thắc mắc là tại sao VN chưa quan hệ với Vatican, một nhà
nước có quan hệ với hơn 100 nước trên thế giới. Tôi trả lời rằng các
thứ trưởng, bộ trưởng của Vatican hàng năm vẫn đến VN, và các giám
mục của VN vẫn đi dự hội nghị của Vatican ở Rome đấy thôi. "Thế c̣n
TQ thậm chí không có bất cứ quan hệ ǵ với Vatican th́ sao?", tôi
hỏi lại họ, trong sự so sánh.
Tôi
thường chọn cách đi vào lịch sử, nói về bối cảnh xă hội, hay nhân tố
văn hoá để lư giải một vấn đề mà tôi không thừa nhận là hay, hoặc
không hay, đúng hoặc không đúng. Chủ yếu là giúp cho người ta hiểu
hoàn cảnh của nó để bớt bức xúc đi, hoặc để người ta hiểu rằng cách
làm của VN cũng có cơ sở riêng của ḿnh.
Hay,
chẳng hạn, họ hỏi về vấn đề Vatican phong giám mục phải được sự chấp
thuận của Chính phủ VN, và gần đây khá hơn là sự thoả thuận với
Chính phủ. Họ bảo đó là chuyện nội bộ của Nhà thờ, chứ dính dáng ǵ
đến nhà nước.
Tôi
nói rằng quan hệ giữa nhà nước và tín ngưỡng là quan hệ giữa nhà
nước và một tổ chức xă hội, bởi nhà thờ cũng là một lực lượng xă hội
có tổ chức. Mối quan hệ này phải được xác lập trên một số qui tắc rơ
ràng theo luật lệ và luật pháp của từng nước.
Rồi
tôi lấy luôn ví dụ ở Bỉ, địa bàn tôi làm việc. Hoá ra mấy ông linh
mục ăn lương của nhà nước, c̣n VN th́ linh mục th́ không. Đă chấp
nhận thực tế của Bỉ, tại sao lại không chấp nhận thực tế ở VN, bởi
nước nào cũng có quá tŕnh lịch sử riêng?
Thậm
chí có những nước quan hệ giữa nhà nước và tôn giáo đầy đẫm máu, như
châu Âu chiến tranh cả trăm năm về tôn giáo. Ối giời ơi, thiếu ǵ
những vụ đẫm máu, như Thập tự chinh chẳng hạn.
Phản
ứng của họ ra sao?
Ḿnh
cũng đừng ảo tưởng đến mức là mọi câu trả lời của ḿnh với chất vấn
của họ là thuyết phục được họ ngay đâu. Nhưng chí ít ḿnh cũng cũng
tranh thủ thiện cảm của họ về sự cởi mở, thái độ thẳng thắn, không
né tránh của người VN.
Tất
nhiên, VN ta cũng có những cái không thể cởi mở như phương Tây. Cách
đây mười mấy năm tôi cũng bị bạn bè Mỹ hỏi về vấn đề đồng tính luyến
ái. “Cu Ba th́ kinh lắm, trong luật cấm đoán rất chặt, c̣n VN thế
nào nhỉ?”, họ hỏi.
Tôi
nói rằng việc này chưa phổ biến để trở thành một vấn đề mà cả xă hội
phải bận tâm, bức xúc. C̣n nếu rằng ai đó mà bảo VN đưa vấn đề này
ra bàn để đưa vào trong luật, th́ tôi e rằng VN cũng hơi giống Cu Ba.
Người ta cười rất thú vị, mặc dù người hỏi là người chủ trương theo
kiểu phương Tây.
Tôi
hiểu vai tṛ của tôi là giúp cho họ có một cách nh́n khách quan hơn,
đỡ định kiến hơn, sát với thực tế VN hơn, và dần dần có thiện cảm
hơn với VN. Chứ tôi kém về số học lắm, không nhớ nổi các con số
thống kê, hay tài giỏi như đồng chí Vơ Hồng Phúc (Bộ trưởng KHĐT)
nhớ từng con số cụ thể. Nhưng luôn cố gắng nắm được ư lớn của vấn đề.
Nhiều đàn ông trên 55 có hơn ǵ phụ nữ đâu
Trong cuộc vận động để phụ nữ tham gia lănh đạo, VN đă có không ít
thứ, bộ trưởng, thậm chí cao hơn, là nữ. Trong khi đó ngành ngoại
giao lại không có. Có những ư kiến cho rằng phụ nữ VN rất có năng
khiếu về ngoại giao. Một minh chứng rơ nhất là trước năm 1976 ta đă
có một Bộ trưởng Ngoại giao (Chính phủ Lâm thời CHMNVN) lừng lẫy.
Như Bà chẳng hạn, hiểu biết, kinh nghiệm, và uy tín quốc tế đâu có
kém cạnh ǵ ai?
Xin
cám ơn anh. Nhưng đừng hỏi tôi, khó nói cho tôi, mà phải hỏi các cấp
lănh đạo cao hơn chứ. Anh biết rồi đấy, ở một vị trí cao nhất định,
có nhiều nhân tố lắm, chứ đâu phải chỉ làm việc hết ḿnh, làm đúng
chuyên môn, và đóng góp nhiều.
Nhưng tôi rất thoải mái v́ tôi tin rằng ở đâu tôi cũng làm được việc.
Ngày mai nếu người ta bố trí tôi ở vị trí thấp hơn mà tôi thấy làm
việc tốt hơn, chủ động hơn, th́ tôi cũng chấp nhận luôn. C̣n cao hơn
mà tôi thấy không nên th́ tôi cũng không nhận lời.
Đó
là vấn đề của cá nhân bà. Nhưng với tư cách là đại diện cho phụ nữ,
những người đang cố gắng đấu tranh để có được sự đánh giá và đối xử
công bằng hơn so với nam giới trong xă hội, bà nghĩ thế nào. Nếu tự
ḿnh cảm thấy xứng đáng ở một cương vị nào đó bà có dám "lobby",
theo nghĩa tích cực của từ này, để có thể có được vị trí mà, theo bà,
bà sẽ làm tốt hơn người khác không?
Câu
trả lời của tôi là chưa bao giờ tôi lobby cho tôi để có vị trí này
hay vị trí khác. Công việc cứ tới, thấy hợp th́ tôi nhận, không hợp
th́ thôi. Tôi luôn sẵn sàng lobby cho công việc, cho cái chung của
phụ nữ, c̣n tự lobby cho ḿnh th́ chịu.
Chẳng hạn mười mấy năm nay rồi, không phải là vận động đâu mà tôi
đấu tranh hẳn hoi cho việc kéo dài tuổi nghỉ hưu của các nhà khoa
học, nhà quản lư và trí thức nữ. Tôi hiện nay lại có một thuận lợi
nữa là đă qua cái tuổi hưu hành chính rồi, ở Quốc hội người ta không
áp dụng cái tuổi hưu hành chính theo kiểu “máy chém”), nên tôi có
thể phát biểu thoải mái.
Ta
cũng phải hiểu là qui định này được ban hành thời chiến tranh, lúc
đó nữ trí thức, khoa học và quản lư không được nhiều, mà số đông là
chị em lao động chân tay. Tôi nghĩ chị em lao động chân tay vất vả
hơn, sức khoẻ suy giảm nhanh hơn, th́ việc được nghỉ hưu sớm hơn với
tỷ lệ lương hưu như đàn ông là hợp lư.
Tôi
đă đề nghị ở các hội thảo, diễn đàn công thức sau đây: Về mặt pháp
lư, ta hăy làm như thế giới là nam và nữ b́nh đẳng về tuổi hưu, c̣n
ưu ái quan tâm đến phụ nữ là cho phép những chị em v́ lư do sức khoẻ,
hay riêng tư nào đó, muốn nghỉ th́ làm đơn. Cái ưu ái lúc đó sẽ được
thể hiện, mà không xúc phạm chị em trí thức, và cũng không áp đặt
với chị em lao động chân tay.
Có ư
kiến phản biện cho rằng như vậy th́ tốn kém. Tôi cho rằng sự tiết
kiệm về lương đấy nhỏ nhặt lắm, theo kiểu “cây kim sợi chỉ”, so với
bao nhiêu cái phung phí khác, trong khi đó người phụ nữ trí thức đó
lại đóng góp được rất nhiều trong 5 năm đỉnh cao về kinh nghiệm và
trí tuệ của ḿnh.
C̣n
nếu nhà nước muốn tiết kiệm, tôi đề nghị một cách tiết kiệm rất hay,
rất b́nh đẳng: Cả nam và nữ nghỉ hưu ở tuổi 58! Tốt chưa? Chứ tại
sao chị em phải hy sinh để tiết kiệm một chút ngân sách cho nhà nước,
đàn ông cũng phải đóng góp vào đó chứ. Tôi thấy nhiều người đàn ông
trên 55 mà năng lực có hơn ǵ phụ nữ đâu.
Xin
cảm ơn bà!
Huỳnh Phan
thực hiện
Nguồn:
http://vietnamnet.vn/chinhtri/2007/02/665925/ |