Măn Giác Thiền sư khác
với cố Hoà thượng Thích Măn Giác, vừa viên tịch. Để tránh sự nhầm
lẫn về sau có thể xảy ra, chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc tóm
lược tiểu sử của Thiền sư Măn Giác, trích từ bộ từ điển trực tuyến
Wikipedia.
Chuyển Luân
Măn Giác Thiền sư
Măn Giác (滿覺),
1052-1096,
là một
Thiền sư Việt Nam thuộc đời
thứ 8 của ḍng Thiền
Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền sư
Quảng Trí và truyền tâm ấn
lại cho đệ tử là
Bản Tịnh.
Gia thế và cơ duyên
Đại sư Măn Giác tên tục là Nguyễn Trường, thân
phụ là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Thiếu thời, Lư
Nhân Tông thường mời con em các danh gia vào hầu hai bên, Nguyễn
Tường nhờ nghe nhiều, nhớ kỹ học thông cả Nho, Thích nên được dự
tuyển. Sau những lúc việc quan, Nguyễn Tường thường chú tâm vào
Thiền học. Đến khi vua lên ngôi, v́ rất mến chuộng nên vua
Lư Nhân Tông ban cho Nguyễn
Trường hiệu Hoài Tín.
Sau đó, Hoài Tín dâng biểu xin xuất gia, học với
Thiền sư
Quảng Trí và vân du khắp
nơi. Sư là bậc lĩnh tụ pháp môn trong một thời, được vua
Lư Nhân Tông cùng
hoàng hậu hết sức kính nể và
dựng chùa Giáo Nguyên thỉnh Sư làm trụ tŕ.
Năm
1096, cuối
tháng 11, Sư gọi chúng đọc bài kệ, sau này được biết dưới tên
Cáo tật thị chúng:
|
Kệ rằng:
春去百花落
春到百花開
事逐眼前過
老從頭上來
莫謂春殘花落盡
庭前昨夜一枝梅 |
Dịch:
Xuân khứ
bách hoa lạc
Xuân đáo
bách hoa khai
Sự trục
nhăn tiền quá
Lăo ṭng
đầu thượng lai
Mạc vị
xuân tàn hoa lạc tận
Đ́nh
tiền tạc dạ nhất chi mai. |
Thích Thanh
Từ dịch thơ:
Xuân đi
trăm hoa rụng
Xuân đến
trăm hoa cười
Trước mắt
việc đi măi
Trên đầu,
già đến rồi
Chớ bảo
xuân tàn hoa rụng hết
Đêm qua –
sân trước – một cành mai. |
Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 45 tuổi.
Sau lễ hoả táng,
xá lợi được thờ tại chùa
Sùng Nghiêm, vua
thuỵ hiệu là Măn Giác.
Bàn về Cáo tật thị
chúng
Cáo tật thị chúng
(Có bệnh bảo mọi người) trở thành một tác phẩm thi kệ nổi tiếng thời
kỳ văn học Lư-Trần, một tuyên ngôn triết học ẩn ngữ dưới h́nh
thức nghệ thuật văn chương. Bài thơ mượn cảnh thị t́nh, lấy t́nh
"trực chỉ chân tâm" nhằm khai phóng nhân sinh.
Dùng tư duy trực giác để h́nh thành nên một biểu
tượng, bài thơ bắt đầu từ chỗ miêu tả một thực tại, một h́nh ảnh đơn
giản, sinh động: Khai, lạc của mai hoa (đào hoa, xuân hoa...)
là cái nhăn tiền tự nhiên nhi nhiên:
Xuân khứ bách hoa lạc / Xuân đáo bách
hoa khai
Không có mới cũng chẳng có cũ, không có đi cũng
chẳng có về; đáo hay khứ thực ra chỉ là một thực tại bị chia cắt
thành những khái niệm mà chỉ cần khởi tâm trí tuệ th́ bỗng dưng được
con mắt sáng mà nh́n, mà nghe, mà cảm nhận cái thi vị của cuộc đời
sau những tột cùng vô biên của sự phân chia, tách bạch.
Tự nhiên, có con mắt thứ nhất mở ra phía sau
trước nh́n vào chốn sinh linh mà lời rằng: đừng bảo, đừng nói, đừng
ngộ nhận, chớ lời, chớ chắc, chớ đoan... và c̣n con mắt thứ hai dành
cho kẻ Xuân Thu biết vui thú du xuân bốn mùa sẽ có được:
Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai
Cùng với muôn vàn con mắt không phô diễn.
Một cành mai trước sân cũng khiến cho sự liên
tưởng (của người đọc) đến tâm thế của kẻ như đứng một ḿnh giữa trời
đất mà rơi lệ trong Đăng U Châu đài ca (登幽州臺歌)
của
Trần Tử Ngang (陳子昂):
|
前不見古人
後不見來者
念天地之悠悠
獨愴然而涕下 |
Tiền bất
kiến cổ nhân
Hậu bất
kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du
Độc thương nhiên nhi thế hạ
|
Người trước chẳng thấy đâu
Người sau càng mờ mịt
Ngẫm trời đất vô cùng
Riêng ḷng đau (mà) lệ chảy |
th́ bỗng dưng thấy con đường trung đạo cho thi
thiền quả thật thênh thang vạn dặm:
Khứ (lạc, quá) ------------ nhất chi
mai ------------đáo (khai, lai)
Đạo bản vô nhan sắc,
nhưng ta (và người) th́ có thể thấy được (nhất chi mai) kia là vật
của đất trời, rỗng rang độc lập, hồn nhiên, như hữu sựu mà như vô
sự. Biết đâu lâu nay người sợ hăi là sợ cái có có không không đối
đăi, th́ đây là vật chứng, là hiển nhiên của sinh diệt mà cũng là
bất diệt. Cái giả hợp tất chịu đổi thay: c̣n trẻ răng trắng má hồng,
lúc tuổi già răng long tóc bạc. Nhưng trong chỗ diệt diệt sinh sinh
ấy có một thứ nhẩn nha ra ngoài sinh tử, và một lúc nào nhận diện
được nhành mai trước sân th́ tức là đang sống, đang vui đùa với ông
Phật vĩnh cửu của chính ḿnh. T́m kiếm Phật ở bên ngoài th́ cũng
giống như cá chép tranh nhau nhảy ở Vũ Môn, muôn đời làm sao hóa
rồng được?!
Chân tánh là vô tánh. Tử-sanh chẳng nói.
V́ "không hoa, mặc bướm để ḷng chi"?
Tài liệu tham khảo
- Thích Thanh Từ: Thiền
sư Việt Nam, TP HCM 1995.
- Nguyễn Huệ Chi (chủ biên):
Thơ văn Lư-Trần, tập II, quyển thượng, Hà Nội 1988.
- Nguyễn Lang: Việt Nam
Phật giáo sử luận I-III, Hà Nội 1992.
Nguồn trích “http://vi.wikipedia.org/wiki/M%C3%A3n_Gi%C3%A1c” |