|
Khoa học
và thương trường:
Mâu thuẫn, quyền lực và liêm chính
Nguyễn Văn Tuấn
Để tiếp thị một thuốc mới, công ti dược phải chứng minh thuốc có
hiệu quả trong việc điều trị bệnh qua những nghiên cứu lâm sàng với
hàng trăm triệu đô-la. Những nghiên cứu lâm sàng phải được thực
hiện ở các trung tâm y tế và bệnh viện, dưới sự quản lí của giới
khoa học và y khoa. Bù lại, ngân sách nghiên cứu phải được công ti
dược tài trợ. Trong môi trường thiếu tài trợ từ chính phủ, giới
khoa học và y khoa cũng cần đến sự hỗ trợ tài chính của các công ti
thuốc để trang trải và nâng cao cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa
học. Do đó, mối liên hệ giữa giới khoa học và các công ti dược, nói
theo ngôn ngữ hợp đồng, là “đôi bên cùng có lợi”. Tuy nhiên, mối
liên hệ này có khi trở nên mất cân đối khi các công ti dược lợi dụng
khả năng tài chính của ḿnh để gây áp lực cho giới khoa học, và đó
chính là đầu mối của rất nhiều mâu thuẫn làm tốn biết bao giấy mực
của báo chí trên thế giới.
Procter & Gamble (P&G) là một trong những công ti dược hàng đầu thế
giới có tổng hành dinh đặt ở Cincinnati (bang Ohio, Mĩ). Một trong
những sản phẩm quan trọng của công ti là thuốc pḥng chống loăng
xương có tên là Risedronate (tên ngoài thương trường là Actonel®).
Nhiều nghiên cứu lâm sàng cho thấy Risedronate có hiệu quả giảm nguy
cơ găy xương ở những phụ nữ với chứng loăng xương sau thời ḱ măn
kinh, nhưng cơ chế ảnh hưởng của thuốc vẫn c̣n là một vấn đề trong
ṿng tranh căi.
Một
“đại gia” khác trong kĩ nghệ dược phẩm là Merck, một công ti có lịch
sử cả trăm năm, và có tổng hành dinh đặt ở New Jersey (bang
Connecticut, Mĩ). Một trong những dược phẩm hàng đầu của Merck là
thuốc pḥng chống loăng xương có tên là Alendronate (tên ngoài
thương trường là Fosamax®). Cũng giống như trường
hợp của Risedronate, Alendroante là một thuốc đă được chứng minh có
hiệu quả giảm nguy cơ găy xương ở những phụ nữ với chứng loăng xương
sau thời ḱ măn kinh, và cũng như Risedronate, cơ chế ảnh hưởng của
Alendronate vẫn chưa được làm sáng tỏ.
Loăng xương không phải là một bệnh mới, nhưng nhờ sự “ưu ái” của
giới truyền thông và “giúp đỡ” của các đại gia trong ngành dược,
loăng xương trở nên một bệnh được nhiều người biết đến. Loăng xương
là một bệnh khá phổ biến ở các phụ nữ sau thời ḱ măn kinh, nhất là
ở các nước Tây phương. Theo nhiều ước tính, có đến gần 1 phần 5 phụ
nữ sau măn kinh và 10% đàn ông trên 50 tuổi bị chứng loăng xương.
Tuổi thọ của người dân trên thế giới càng ngày càng gia tăng, và do
đó, số phụ nữ sau thời ḱ măn kinh cũng như số đàn ông cao tuổi càng
ngày càng tăng nhanh chóng trong dân số, và đó là một thị trường rất
lớn (nhiều tỉ đô-la) cho các công ti dược trên thế giới.
V́
cả hai thuốc Alendronate và Risedronate đều sử dụng cho việc điều
trị loăng xương, cho nên hai đại gia P&G và Merck trở nên hai “đối
thủ” cạnh tranh quyết liệt trong thị trường loăng xương. Cả hai
công ti tiêu ra khá nhiều tiền để làm nghiên cứu nhằm một mặt t́m
hiểu cơ chế ảnh hưởng của thuốc, mặt khác nhằm “chứng minh” thuốc
của công ti ḿnh có hiệu quả cao hơn thuốc của công ti kia.
Trong nghiên cứu loăng xương có 3 tiêu chí để đánh giá hiệu quả của
một thuốc: tỉ lệ găy xương, mật độ chất khoáng trong xương, và quá
tŕnh chuyển hóa xương. Trong ba tiêu chí này, tỉ lệ găy xương là
quan trọng nhất, có ư nghĩa nhất, c̣n hai tiêu chí kia thường được
xem là ảnh hưởng phụ. Một số nghiên cứu lâm sàng cho thấy nếu lấy
tỉ lệ găy xương làm tiêu chí th́ hai thuốc này có hiệu quả tương
đương nhau. Tuy nhiên, nếu lấy tỉ lệ tăng mật độ chất khoáng trong
xương làm tiêu chí th́ Risedronate có hiệu quả thấp hơn so với thuốc
Alendronate của Merck, và các chuyên gia thị trường của Merck dựa
vào sự thật này để “tuyên truyền” rằng thuốc của họ có hiệu quả cao
hơn Risedronate.
P&G
đâu thể khoanh tay để Merck “tấn công” như thế! Họ quyết định
nghiên cứu các chỉ số sinh hóa về chuyển hóa xương để “chứng minh”
rằng Risedronate có ảnh hưởng tốt hơn so với Alendronate. Tưởng cần
nhắc lại rằng xương là một tế bào năng động, với hai nhóm tế bào tạo
xương và hủy xương “cạnh tranh” nhau từng giây phút trong cơ thể
chúng ta. Trong độ tuổi dậy th́ và trưởng thành các tế bào tạo
xương hoạt động mạnh hơn các tế bào hủy xương, cho nên xương tăng
trưởng nhanh. Nhưng đến thời ḱ sau măn kinh, v́ sự suy giảm của
hormone nữ, các tế bào hủy xương trở nên hoạt động mạnh hơn tế bào
tạo xương, và do đó dẫn đến t́nh trạng mất chất khoáng trong xương.
Do đó các thuật điều trị chống loăng xương thường nhắm vào một trong
hai cơ chế này: hoặc là tăng khả năng tạo xương, hoặc là chống hủy
xương. Cả hai thuốc Risedronate và Alendronate được thiết kế với
chức năng chống lại các tế bào hủy xương (c̣n gọi là anti-resorptive
therapies). Do đó, một trong những chiến lược nghiên cứu để giải
thích hiệu quả của hai thuốc này là phân tích quá tŕnh chuyển hóa
xương.
Để
làm nghiên cứu đó, năm 2002, P&G kí hợp đồng với giáo sư Richard
Eastell và cộng sự của ông thuộc Đại học Sheffield (Anh) để nghiên
cứu về cơ chế ảnh hưởng của thuốc Risedronate. Giáo sư Eastell đứng
đầu một nhóm nghiên cứu loăng xương có uy tín cao trên thế giới, và
cũng là khoa trưởng phụ trách nghiên cứu khoa học của trường Đại học
Sheffield. Giáo sư Eastell được thế giới biết đến như là một chuyên
gia về chu tŕnh chuyển hóa xương (bone remodelling). Thực ra,
người thực sự tiến hành các nghiên cứu về chuyển hóa xương là Tiến
sĩ Aubrey Blumsohn (giáo sư Eastell chỉ là người đứng tên chủ
tŕ). Tiến sĩ Blumsohn cũng là một chuyên gia có
tiếng trong nghiên cứu loăng xương.
Trong thời gian 2002 đến 2003, Tiến sĩ Blumsohn phân tích hàng ngàn
mẫu máu từ bệnh nhân loăng xương. Đối với Tiến sĩ Blumsohn và giáo
sư Eastell, họ cần phải công bố công tŕnh nghiên cứu đó dưới dạng
các bài báo khoa học. Việc công bố kết quả không chỉ do áp lực từ
Đại học Sheffield mà c̣n do áp lực từ đồng nghiệp trong ngành loăng
xương. Nhưng để có bài báo khoa học, họ cần phải phân tích số liệu
để biết kết quả ra sao.
Tuy
nhiên, theo hợp đồng, cả Blumsohn và Eastell chỉ cung cấp số liệu
cho P&G mà không được phép phân tích các số liệu đó! P&G dành quyền
phân tích số liệu v́ họ lí giải rằng họ có một nhóm chuyên gia có
kinh nghiệm cao về thống kê học và có thể đảm nhận việc này. (Trong
thực tế, các công ti dược thường có hàng trăm chuyên gia về thống kê,
chuyên thiết kế thí nghiệm và phân tích số liệu cho hàng ngàn nghiên
cứu của công ti). Các chuyên gia thống kê của P&G tiến hành phân
tích số liệu, và ban giám đốc P&G mướn một chuyên gia khác viết bài
báo khoa học dựa vào kết quả phân tích đó. Trong giới khoa học,
những người này c̣n có tên là ghost author – tác giả ma.
P&G
gửi bài báo khoa học đó cho giáo sư Eastell và đề nghị Eastell đứng
tên tác giả (c̣n các tác giả ma th́ hoàn toàn … vắng mặt). Nói tóm
lại, P&G vừa phân tích, vừa soạn thảo bài báo (với những b́nh luận
tất nhiên là có lợi cho P&G), nhưng họ không ra mặt, mà chỉ để cho
Eastell đứng tên! Điều đáng chú ư là họ không đề tên của Tiến sĩ
Blumsohn trong bài báo, dù ông chính là người trực tiếp tiến
hành các phân tích sinh hóa!
Bài
báo được giáo sư Eastell gừi cho Tập san khoa học nổi tiếng,
Journal of Bone and Mineral Research (JBMR), để được b́nh duyệt
và công bố. Cũng như các tập san khoa học khác, JBMR có chính sách
yêu cầu tác giả bài báo phải tuyên bố (bằng chữ) rơ ràng rằng “Chúng
tôi, các tác giả, tuyên bố rằng chúng tôi đă xem qua số liệu và số
liệu do chúng tôi quản lí.” Giáo sư Eastell kí tên vào bảng tuyên
bố đó, dù như đề cập trên, ông không hề phân tích số liệu và cũng
chẳng có quản lí số liệu!
Bài
báo qua b́nh duyệt được chấp nhận cho công bố trên Tập san JBMR vào
năm 2003. Kết quả này cho thấy thuốc Risedronate có hiệu quả ngăn
chận các tế bào hủy xương và mức độ ảnh hưởng tương đương hoặc thậm
chí cao hơn thuốc Alendronate. Kết quả này được P&G sử dụng trong
các chiến dịch tiếp thị thuốc Risedronate khắp thế giới, kể cả Việt
Nam.
Nhưng sau khi bài báo được công bố trên JBMR, có một số chuyên gia
độc lập đặt nghi vấn về luận án của bài báo, đặc biệt là luận án
“ngưỡng ảnh hưởng” (threshold effect) mà tác giả nhấn mạnh trên một
biểu đồ trong bài báo. Trong nhiều hội nghị, Giáo sư Eastell bị
chất vấn về biểu đồ này, và ông rất lúng túng trong trả lời, v́ ông
không phải là người làm phân tích số liệu nên không dám khẳng định
ǵ dứt khoát và cũng không giải thích được một cách thỏa đáng.
Mặt
khác, Tiến sĩ Blumsohn viết thư cho Tập san JBMR tố cáo sự thật rằng
Giáo sư Eastell chưa bao giờ nh́n thấy số liệu, không có phân tích
số liệu. (Nói cách khác, Tiến sĩ Blumsohn tố cáo Giáo sư Eastell
thiếu thành thật với JBMR). Tiến sĩ Blumsohn cũng đặt nghi vấn biểu
đồ về ngưỡng ảnh hưởng là sai, và cho rằng P&G đă phân tích số liệu
thiếu trung thực chỉ nhằm mục đích thương mại, chứ không nhằm mục
đích khoa học hay nói lên sự thật. Tiến sĩ Blumsohn c̣n tố cáo P&G
là đă không cho ông cơ hội phân tích số liệu. P&G cho rằng họ đă
cho Tiến sĩ Blumsohn cơ hội xem xét số liệu trong một chuyến ông
sang công tác ở Cincinnati (tổng hành dinh của P&G). P&G cho rằng
họ đă phân tích số liệu đúng phương pháp.
Trước nghi vấn về số liệu và nghi ngờ của đồng nghiệp, Tập san JBMR
mở cuộc điều tra, và yêu cầu Tiến sĩ Blumsohn cung cấp thêm bằng
chứng. Nhưng thay v́ hợp tác với JBMR để giải quyết vấn đề, Tiến sĩ
Tiến sĩ Blumsohn tố cáo sự việc với báo chí khắp thế giới rằng Đại
học Sheffield đă để cho đồng tiền của P&G chi phối đến sự độc lập
của trường. Hầu hết các tờ báo lớn trên thế giới như New York
Times, the Guardian, The Independent, The Economist, The Times,
v.v… đều đăng chi tiết tố cáo của Tiến sĩ Blumsohn. Quốc hội Anh
cũng quan tâm đến sự việc v́ vấn đề có thể ảnh hưởng đến sự độc lập
của các trường Đại học danh tiếng mà Anh rất tự hào.
Trước tai tiếng như thế, Giáo sư Eastell từ chức khoa trưởng nghiên
cứu. Đại học Sheffield sa thải Tiến sĩ Blumsohn v́ họ cho rằng ông
đă không làm theo thủ tục của trường khi nêu vấn đề. Nhưng Đại học
Sheffield lại đề nghị trả cho Tiến sĩ Blumsohn một số tiền khá lớn
với điều kiện ông phải ngưng tố cáo với báo chí. Tiến sĩ
Blumsohn chẳng những không đồng ư với đề nghị mà c̣n công bố luôn lá
thư của Đại học Sheffield trên internet, và được giới khoa
bảng thế giới ủng hộ! Cho đến nay, sự việc vẫn chưa đến hồi kết
thúc, nhưng qua đó, nhiều câu hỏi đặt ra về đạo đức khoa học và mâu
thuẫn giữa giới khoa học và các công ti dược.
Trong nghiên cứu khoa học, Ủy ban tổng
biên tập các tập san y học (International Committee of Medical
Journal Editors – ICMJE) đề ra 3 tiêu chuẩn cho một tác giả bài báo
khoa học. Theo định nghĩa của ICMJE, một thành viên nghiên cứu có
tư cách đứng tên tác giả phải hội đủ tất cả 3 tiêu chuẩn sau
đây: Một là đă có đóng góp quan trọng trong việc h́nh thành ư tưởng
và phương pháp nghiên cứu, hay thu thập dữ kiện, hay phân tích và
diễn dịch dữ kiện; Hai là đă soạn thảo bài báo hay kiểm tra nội
dung tri thức của bài báo một cách nghiêm túc; và ba là phê chuẩn
bản thảo sau cùng để gửi cho tập san. Việc đứng tên tác giả một bài
báo khoa học mà không có truy cập số liệu hay không có vai tṛ trong
phân tích số liệu được xem là một hành vi thiếu thành thật tri thức
(intellectual dishonesty). Trong trường hợp trên, thậm chí các tác
giả trong bài báo cũng không phải là người soạn thảo bài báo, th́
vấn đề càng nghiêm trọng hơn nữa.
Khoa học hiện đại là một ngành nghề
rộng lớn, có định hướng rơ ràng, với nhiều đầu tư về tài lực. Các
thế lực đằng sau khoa học là chính phủ và các công ti kĩ nghệ lớn.
Hai thế lực này cung cấp tiền bạc cho hầu hết các công tŕnh nghiên
cứu khoa học, và là nguồn nuôi sống cho các nhà khoa học. Trong y
học, một phần lớn nghiên cứu khoa học tập trung vào việc sản xuất và
thử nghiệm những thuốc mới, và phần lớn các nghiên cứu này do các
công ti dược tài trợ. Theo một thống kê mới đây, gần 80% ngân sách
nghiên cứu lâm sàng được tài trợ từ các công ti dược. Với số tiền
khổng lồ này, các công ti dược đă trở thành một thế lực quan trọng
có ảnh hưởng đến định hướng nghiên cứu y học trên thế giới.
Nhưng ngay cả các công tŕnh nghiên
cứu của các nhà khoa học không nằm trong y khoa cũng có thể chịu ảnh
hưởng, bởi v́ định hướng nghiên cứu đă được các công ti dược đề ra.
Một số lớn các nghiên cứu y học được tiến hành trong cơ cấu quyền
lực này. Trong cơ cấu này các tiêu chuẩn khoa học liên tục bị sửa
đổi. Các tiêu chuẩn này không phải được đúc kết từ sách giáo khoa
hay theo chỉ dạy của một nhà khoa học danh tiếng nào, mà là những
thích nghi với môi trường thực tế. Sự thích nghi này có thể ảnh
hưởng đến việc chăm sóc bệnh nhân, bởi v́ nghiên cứu y học nhằm mục
đích tối thượng là đem lại lợi ích sức khỏe cho cộng đồng và nâng
cao chất lượng điều trị cho bệnh nhân.
Trung thực và
liêm chính là những đặc tính số một trong nghiên cứu khoa học, và
công bố bài báo khoa học cũng như giảng dạy là raisons d'être,
là lí do để tồn tại của nhà khoa học. Hơn 20 năm về trước, Al Gore,
lúc đó c̣n là một thượng nghị sĩ (và sau này là phó tổng thống Mĩ)
chủ tŕ một cuộc điều trần về gian lận trong khoa học, nhận xét:
“Nền tảng của nghiên cứu khoa học dựa vào sự tín nhiệm của quần
chúng và liêm chính trong hoạt động khoa học.” Câu phát biểu này có
tính phổ quát, và có thể thích hợp cho bất cứ hoạt động nghiên cứu
khoa học tại bất cứ nước nào, kể cả Việt Nam. Khoa học là một ngành
nghề được xây dựng và tồn tại dựa trên tinh thần chân thực và liêm
chính. V́ thế, khoa học không thể nào dung túng t́nh trạng thiếu
trung thực.
Bài đăng trên Thời báo
Kinh tế Sài G̣n, số tháng 7/2006 |
|