|
CHÂN DUNG “LĂNH TỤ ANH MINH”
LTS – Đính kèm
bài này là một điện thư ngày
21/12/05: “Merry
Christmas & Happy New Year. Đính kèm là một tiểu sử mới nhất, và có
lẽ đầy đủ nhất, về Ngô Đ́nh Diệm sau chuyến làm việc của tôi tại thư
viện TT Nixon [Oct 04] và một số tài liệu ở Việt Nam [05].
Houston bỗng dưng lạnh quá trời. Lại được tin hai người bạn học cũ
mới từ trần. Anh em ḿnh rồi cũng từng người, từng người “vèo trong
lá rụng đầy sân; công danh phù thế có ngần ấy thôi.” Nhưng cũng phải
“tận kỳ lực” thôi. Cứ viết lại và phổ biến những sự thực sử học cho
mọi người biết. Đọc hay không, suy nghĩ ǵ, là việc của thiên hạ,
vượt ngoài tầm tay ḿnh. Chúc các bạn ai vui. Thân qúi. Chính Đạo.”
Đồng
thời với điện thư của Chính Đạo là một điện thư của Phan Nhật Nam
thông báo tiếng sáo của Nguyễn đ́nh Nghĩa cũng vừa ĺa bỏ trần gian
trở về Thiên Thai hạc nội mây ngàn. Bao giờ th́ nước Việt hôm nay
lại sản xuất được một tài hoa Nguyễn Đ́nh Nghĩa thứ hai? Kính mừng
anh linh Nguyễn Đ́nh
Nghĩa
và hai bằng hữu của Chính Đạo đă “trang trắng vỗ tay” chuyển nghiệp
và thành kính phân ưu cùng thân quyến của những người vừa ra đi và
với Chính Đạo cùng Phan Nhật Nam.
BBT
Chuyển Luân thông báo, kết toán số độc giả ghé thăm trang nhà Chuyển
Luân tháng 12/2005, hai bài được bạn đọc chiếu cố nhất là bài Cuộc
Truất Phế Bảo Đại của Chính Đạo và bài Kịp Chuyến Đ̣ của Tâm Đàn.
Cung hỉ!
Trên
hành tŕnh Giải Hoặc chúng tôi đă gặp được một bạn đồng hành quư
báu. Sự thật mất ḷng, có thể có người buồn Chính Đạo. Gió thổi mưa
bay, mặc gió mưa, người bộ hành vẫn tiến bước với sử mệnh ôm ấp. Đọc
điện thư dẫn thượng, hy vọng những người đó hẳn sẽ hiểu Chính Đạo và
sử mệnh mà Chính Đạo ôm ấp. Như hiểu một Kẻ Sĩ tri thiên mệnh.
Đời
là một cuộc chơi, vạn bất đắc dĩ có để lại ǵ th́ đó phải là những
“của tin”. Lịch sử Việt Nam trăm năm qua, và nhất là từ hơn 50 năm
qua, thật có nhiều điều đáng nói. Trong kho tàng sử học Việt Nam
hiện đại, một trong những tiếng nói hiếm hoi, chân thực và can đảm
đó là của Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu.
Sơ Lược Tiểu Sử
JEAN BAPTISTE NGÔ Đ̀NH
DIỆM (1897-1963):
THỜI KỲ CHƯA NẮM QUYỀN,
1897-1954
Chính Đạo
Ngày
25/4/1961, Tướng Edward G.
Lansdale–người
được coi như hiểu biết rất rơ Việt Nam Cộng Ḥa [VNCH]–viết báo cáo
lên Thứ trưởng Quốc pḥng Roswell L. Gilpatric, Chủ tịch Ủy Ban Đặc
Nhiệm Việt Nam (Presidential Task Force on Vietnam), về “No Din
Zee’em” (Ngô Đ́nh Diệm) như sau:
Ông ta
lùn, mập tṛn. . . Nhiều người không chú ư đến cặp mắt đen hay liếc
trộm [snapping] của ông ta mà chỉ chú ư đến cặp gị vừa đủ chạm mặt
đất khi ngồi. Tuy nhiên, ông ta không cảm thấy ngượng ngùng về
chuyện lùn, và có vẻ rất tự nhiên chung quanh những người Mỹ cao
lớn. . . .
Ông ta tỏ vẻ ăn uống ngon
lành (và thường có sở thích ăn ngon). Nụ cười của ông ta có vẻ e dè
và bất thường. . . . Diệm sinh ngày 3/1/1901. . . Năm 25 tuổi
[1926], Diệm đă được cử làm quan đầu tỉnh. Nhưng sau “sáu tháng làm
Thượng thư” Diệm từ chức, trở thành “người hùng thực sự của người
Việt.” Từ đó, anh em Diệm “âm thầm chống cả Pháp lẫn Cộng Sản.” Diệm
là một người độc thân 60 tuổi, “đă cắt bỏ mối t́nh với người yêu đầu
đời để dâng hiến cho tổ quốc.”( 1)
Thực
ra, Lansdale dường không muốn viết rơ, hoặc không biết nhiều về Tổng
thống Diệm cũng như họ Ngô. Hầu hết chi tiết về hộ tịch Diệm hay
thành tích chống Pháp của Diệm và gia đ́nh Ngô Đ́nh Khả, đều thiếu
chính xác.
Tập
tiểu sử Ngô Đ́nh Diệm do cơ quan an ninh Mỹ biên soạn ngày
18/4/1957, nhân dịp Diệm sắp qua thăm Mỹ cũng không đầy đủ, dù có
những nhận xét khá chính xác về con người đang được đánh bóng lên
thành “người của phép lạ”:
Ngô
Đ́nh Diệm là một người lùn, mập, vóc dáng không có ǵ hấp dẫn, trông
có vẻ trẻ hơn tuổi thực. Thường thường ông ta chỉ hành động sau khi
suy nghĩ chậm răi và thận trọng, dù ông ta có khả năng hành động
nhanh, quyết liệt nếu t́nh thế đ̣i hỏi....
Ông ta
là người sống bằng nội tâm [introverted], cô đơn. Dù ông ta ấm áp
khi thấy có người hiểu ḿnh, ông ta thường dè dặt và xấu hổ trước
người lạ, nhất là đàn bà, mà sự hiện diện thường khiến ông ta thiếu
thoải mái. Tuy nhiên, ông ta là người có ư niệm ḿnh được giao phó
một sứ mệnh thiêng liêng. Ông ta nói rằng từ tuổi 14 đă có ư nghĩ
một ngày sẽ lănh đạo dân chúng của ông ta, và với sự định kiến
[singlemindness] cuồng tín, ông ta chuẩn bị để sẵn sàng gánh trách
nhiệm. Trong khi được nể phục v́ quyết tâm này, ông ta bị chỉ trích
v́ ḷng tự tôn [egoism] và sự ràng buộc vô giới hạn với ḷng
trung thành cá nhân trong chính phủ, một khuynh hướng khiến ông ta
mất đi sự hợp tác của những người có khả năng đă v́ lư do nào đó bị
ông ta không ưa. Ông ta có thể vừa cứng đầu vừa tàn ác khi theo đuổi
và thực thi những chính sách mà ông ta đă quyết định, và khi cơn
giận dữ nổi lên ngay cả các phần tử trong gia đ́nh cũng phải sợ hăi.
Một tín đồ Ki-tô Vatican ngoan đạo, ông ta sống độc thân và đời tư
kỷ luật, đạm bạc. Sự lương thiện và phẩm hạnh của ông ta khó chối
căi và ông ta can đảm cao độ, dù cuộc mưu sát mới đây [đầu năm 1957
tại Ban Mê Thuột] khiến ông ta bắt đầu lo lắng đến sự an nguy bản
thân hơn trước đây. (2)
Các
học giả thế giới cũng chẳng bận tâm đến việc tu chỉnh lại tiểu sử
người cầm đầu phe thua cuộc. Khối thông tin về Ngô Đ́nh Diệm trong
thập niên 1950-1960 tiếp tục được lưu truyền–theo kiểu Bernard B.
Fall, một học giả gốc Pháp viết khá nhiều về Việt Nam và chết tại
Việt Nam, như Ngô Đ́nh Khả là “Thượng thư Bộ Lễ” sau khi từ chức đă
cắt mọi liên lạc “với những kẻ xâm lăng đáng ghét,” “ủng hộ Phan Bội
Châu,” và truyền xuống cho các con như Khôi và Diệm một tinh thần
quốc gia nồng nhiệt;” hay lời nhận xét vơ đoán, “Sự kiện Bảo Đại là
người kế thừa của các hoàng đế yếu ớt trong việc chống lại Pháp cũng
có thể gây ra sự khinh thường ông ta trong
Diệm”
[The fact that Bao Dai was the descendant of emperors who had been
weak in their resistance to the French may also account for Diem’s
contempt for him]. Thực ra, từ thời Đồng Khánh (1885-1889), các vua
nhà Nguyễn do Khâm sứ và Toàn quyền Pháp
lập nên, và chỉ c̣n công dụng của “một ṿng hoa,” để hợp thức hóa
chế độ “Bảo hộ”. Quan lại th́ được tuyển từ giới trung gian bản xứ
mà đa số là giáo dân Ki-tô hay cựu bồi bếp, thông ngôn của viên
chức, sĩ quan Pháp. Thành phần “tân trào” này hiểu rất rơ vị thế
“chậu kiểng” của các vua Nguyễn. Ngoài ra, Ngô Đ́nh Khả liên hệ thân
thiết với Thành Thái (1889-1907), và từng nuôi tham vọng biến Thành
Thái thành một vua Ki-tô giáo đầu tiên. Sự khinh thường pḥng Khải
Định (1916-1925) và Bảo Đại (1926-1945) là điều dễ hiểu. Ngoài ra,
Diệm không ưa Bảo Đại v́ đă hai lần kư Dụ đầy Diệm ra Quảng B́nh.
(3)
Đáng
buồn hơn nữa, lịch sử Việt Nam, dưới mắt nhiều học giả thế giới, chỉ
là một thứ câu chuyện thêm thắt vào
[anecdotes] chính
sách và sự can thiệp của các cường quốc như Mỹ, Nga, Trung Hoa,
Pháp, Bri-tên, Nhật, v.. v... Người Việt cũng có lư do riêng để
không muốn thấy có một tiểu sử chính xác về Ngô Đ́nh Diệm, từ chính
trị, tôn giáo, tới ư thức hệ. Nên chẳng ngạc nhiên khi khối văn
chương hiện hữu về họ Ngô hay Đệ nhất Việt Nam Cộng Ḥa tràn ngập
những
lời “cung
văn” hoặc “đào mộ,” bất chấp sự thực.
Bài
viết này nhằm điền vào khoảng trống nói trên. Tư liệu chúng tôi sử
dụng cơ bản là tập tiểu sử chính phủ Diệm do cơ quan an ninh Pháp
thành lập vào tháng 7/1954, hiện vẫn c̣n chưa giải mật. Ngoài ra,
c̣n nhiều tư liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Hoa, cùng các tài
liệu nguyên bản khác.
I. SƠ LƯỢC GIA THẾ:
Ngô Đ́nh Diệm,
ngoài tên “thánh” Jean-Baptiste [Gioan Bao-xi-ta], c̣n có bí danh
Nguyễn Bá Chinh. Theo an ninh Pháp, Diệm sinh ngày 27/7/1897 tại Đại
Phong [Phuong] hay Đại Phong Lộc, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh.(4)
Cha là Ngô Đ́nh
Khả (1856-1914), “mẹ” là Phạm Thị Thân. Khả là một tín đồ Ki-tô tân
ṭng, xuất thân thông ngôn cho quan chức Pháp trong thời kỳ Cần
vương chống Pháp, sau đổi qua ngạch quan lại Việt, lên tới Đề đốc
Kinh thành (1905-1907).(
5)
Anh em Ngô Đ́nh Diệm
khá đông, gồm sáu trai, hai gái. Khôi, con vợ lớn, là anh cả. Diệm,
theo lời đồn, đứng hàng em của Khôi, Thục, và anh Ngô Thị Hiệp (bà
Cả Lễ, cHồng là Nguyễn Văn Ấm, sinh ra cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận),
dù tuổi “chính thức” Diệm lớn hơn Thục hơn hai tháng. Dưới Diệm có
Nhu, Cẩn, Luyện, cùng một người em gái khác. V́ Khả chết khi Diệm
c̣n nhỏ (17 tuổi khai sinh), Khôi quyền huynh thế phụ. Khôi chết,
Thục có ảnh hưởng nhất trên Diệm, với cương vị một Giám mục.
Cha đỡ đầu là
Nguyễn Hữu Bài (1863-1935), nhạc phụ Khôi, một thủ hạ cũ của Khả,
cũng một Thượng thư uy quyền và đầy mưu mô tại Huế từ 1907 tới 1933.
Theo tài liệu Pháp, Bài đă nuôi dưỡng Diệm từ nhỏ. Bài cũng có ư
định chọn Diệm làm con rể, nhưng v́ lư do nào đó không thành. Con
gái Bài sau đi tu ḍng kín Carmel.(
6)
Sau ngày lên cầm
quyền, Diệm đổi ngày sinh thành 3/1/1901. Chẳng hiểu tại sao có việc
“thay đổi” hộ tịch trên. Việc thay tên, đổi họ và ngày sinh tháng đẻ
là việc thường xảy ra ở Việt Nam. Trước hết, vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, việc khai hộ tịch không được kiểm soát chặt chẽ. Viên
chức xă ấp tại thôn quê không đặt nặng sự chính xác về ngày sinh của
trẻ em. Cha mẹ nhiều khi khai rút tuổi con cái v́ mục đích nào đó,
như đi học hay khai sưu thuế. Hơn nữa, việc đổi từ ngày nhật (dương)
lịch qua nguyệt (âm) lịch rất phức tạp, đôi khi cha mẹ dùng ngày
tháng sinh nguyệt lịch làm ngày tháng nhật lịch, rồi dùng năm nhật
lịch tương đương trong khai sinh. Thông thường, cha mẹ hay khai rút
tuổi các con. Nhưng rất hiếm trường hợp cha mẹ khai con ḿnh tăng
thêm ba bốn tuổi, ngoại trừ có biệt lệ nào đó. Phải chăng Diệm rơi
vào trường hợp đặc biệt này, v́ nếu sinh năm 1901, Diệm không thể
nào được tập ấm chức Cửu phẩm và làm việc tại Tân Thư
Viện Huế năm 1917, khi mới 16 tuổi.(
7)
Theo Luyện, em
út trong gia đ́nh họ Ngô, Diệm đă khai tăng bốn tuổi (tức từ 16 lên
20 tuổi) để có thể vào trường Hậu Bổ. Điều này khó tin, v́ măi tới
năm 1918-1919, Diệm mới học trường Hậu bổ.(
8)
Luyện cũng là
nhân chứng không đáng tin cậy. Thí dụ như khi được hỏi về vai tṛ
chính trị của Luyện, Luyện nói được lệnh “đứng ngoài chính trị.”
Thực tế, từ thập niên 1940, Luyện đă hoạt động với các tổ chức thân
Nhật, và năm 1953-1954 trở thành đặc sứ của Diệm với Bảo Đại, trước
khi nắm chức Đại sứ tại London. Luyện cũng tung ra những tin đồn về
giao t́nh giữa Luyện và Bảo Đại, mà theo Bảo Đại không hề có.(
9) Và, như đă lược nhắc, Diệm
được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân Thư Viện Huế từ năm
1917, trước khi vào trường Hậu Bổ.
Một kư giả ngoại
quốc, Robert Sharplen, ghi rằng theo Diệm, khoảng năm 1915-1916,
Diệm đă man khai
[falsified]
hộ tịch để dự thi bằng tương đương
tốt nghiệp trung học.(
10) Chi tiết này có vài chi
tiết không sát sự thực. Măi tới giữa thập niên 1920, mới có những
cuộc thi lấy bằng Tú Tài I và II chương tŕnh Pháp-Nam. Bằng cấp mà
Diệm thi tương đương chỉ là Cao đẳng tiểu học (Diplôme), gần tương
đương với bằng Trung học phổ thông đệ nhất cấp. Tài liệu thành văn
cũng chứng minh Diệm đă vào quan trường từ năm 1916 hoặc 1917, với
chức cửu phẩm tập ấm tại Tân Thư viện, mà không phải sau khi đă đậu
đầu trường Luật Hà Nội năm 1921 như Diệm khoa trương hay Sharplen
ghi. Thực tế, Diệm vào trường Hậu bổ từ niên khóa 1918-1919, và chỉ
học tại Hà Nội một niên khóa 1920-1921.
Một động lực
trong việc sửa đổi hộ tịch từ năm 1897 xuống 1901 có lẽ là để hợp
thức hóa vai “em” của Diệm với Giám Mục Thục–Thục sinh ngày
6/10/1897 tại Phước Quả, Thừa Thiên, thua Diệm hơn hai tháng.
Nhưng cũng có thể, và điều này cần được tra cứu thêm, Diệm không man
khai hộ tịch, mà rất đơn giản là không cùng mẹ (Phạm Thị Thân) với
anh chị em khác. Có lẽ v́ muốn che đậy bí ẩn này, tiểu sử Khôi và
Thục trong tập Vua chúa và người quí phái Đông Dương [Souverains et
Notabilités] năm 1943 không ghi ngày sinh.(
11)
Tài liệu văn khố
Pháp cũng ghi Diệm sinh tại Đại Phong Lộc, Lệ Thủy, Quảng B́nh, mà
không phải Phước Quả, Thừa Thiên, giống như Thục, Nhu, Cẩn, Luyện,
v.. v... Địa danh “Đại Phong Lộc” từng được khai là nơi sinh của
Khôi, anh cả trong gia đ́nh, con Khả và người vợ lớn đă chết sớm,
trước khi Khả lấy bà kế thất tên Thân.(
12)
Rất ít chi tiết
về học vấn Diệm được công bố. Có tin Diệm tự học ở nhà, rồi vào
trường Pellerin ở Huế, và tốt nghiệp Diplôme. Diệm biết cả chữ Nho [Hán
Việt]. Lại có tin Diệm học ở chủng viện, năm 1915, định đi tu, nhưng
sau đó bỏ dở nửa chừng.(
13) Bởi thế, nhiều tài liệu cho
rằng Diệm thuộc loại “religious fanatic” [cuồng đạo] hay “a devout
Catholic” [ngoan đạo].
(14)
II. “BÁT CƠM” BẢO
HỘ PHÁP:
Trong nỗ lực
biến hóa Ngô Đ́nh Diệm thành một “lănh tụ anh minh,” “cứu tinh của
những người Việt chống Cộng,” đủ sức đương đầu với Hồ Chí Minh–kiểu
“ăn Ngô th́ no, ăn HCM th́ đói”–cơ quan tuyên truyền Mỹ và Nam Việt
Nam tô chuốt cho Diệm những bảng hiệu như “yêu nước, chống Pháp,”
v.. v... “Yêu nước” là một nhận xét khó lượng định, v́ chỉ có mỗi cá
nhân mới tự biết rơ ḿnh yêu nước hay không. Có nhiều cách
biểu lộ ḷng yêu nước, nên khó thể sử dụng một hệ thống lượng giá cố
định. Tấm huy chương nào cũng có mặt trái của nó. “Chống Pháp” th́
dễ lượng định hơn. Tinh thần chống Pháp của Diệm, hay họ Ngô, chỉ là
những triển biến vào khoảng cuối đời, và động lực không hẳn do ḷng
yêu nước thuần túy, mà nặng về tôn giáo cùng quyền lợi bản thân và
ḍng họ. Thực ra, Diệm xuất thân từ một gia đ́nh trung gian bản xứ
Ki-tô, hai đời phục vụ Bảo hộ Pháp rất tận tụy. Khả, cha Diệm, từng
lên tới chức chánh thông ngôn ṭa Khâm sứ Huế dưới thời Pierre
Rheinart des Essarts, rồi chuyển sang làm thương biện Viện Cơ Mật.
Ngày 10/4/1892 Khả dịch công văn của triều Huế xin Toàn quyền Jean
de Lanessan đừng gửi ra Huế những người như Petrus [Key], Nguyễn
Trọng Tạo, Lê Duy Hinh, hay Diệp Văn Cương, v.. v... Khả cũng tham
dự chiến dịch đánh phá phong trào kháng Pháp tại Hà Tĩnh-Quảng B́nh
của Ngự sử Phan Đ́nh Phùng (1847-1895) trong hai năm 1895-1896, và
được đặc cách lên Thái thường tự khanh (Chánh tam phẩm) năm 1896,
sau khi hài cốt Ngự sử Phùng bị đốt thành tro, ném xuống sông Lam
“theo [lối trừng phạt] truyền thống.”(
15)
Sau một thời
gian làm Phó Giám đốc trường Quốc Học Huế, đặc trách nhà cửa, lương
bổng và hành chính, Khả được chức Đề đốc kinh thành, lo bảo vệ và
kiểm soát Thành Thái (1889-1907), cầm đầu một toán thân binh cạo
răng trắng, hớt tóc ngắn, mang súng trường, nhưng nhiệm vụ chính yếu–nếu
tin được báo cáo của Hiến binh Pháp–chỉ để giúp vua lùng sục và bắt
cóc gái đẹp quanh kinh thành. Sau khi bị ép về hưu, Khả được hàm
Thượng thư.(
16)
Khôi, anh cả họ Ngô,
bắt đầu “tham chánh” năm 1910, sau khi tốt nghiệp trường Hậu bổ.
Khoảng 6 năm đầu, Khôi làm tại văn pḥng Bộ Công do cha vợ làm
Thượng thư. Sau ngày tiếp tay cho Khải Định (1916-1925) lên ngôi,
Bài được thăng Thượng thư Bộ Lại, và Khôi bắt đầu đi ngồi huyện, phủ,
rồi lên tới Bố chính, Tuần vũ, Tổng đốc khá nhanh.
Diệm th́ năm 1916-1917
được tập ấm chức Cửu phẩm, làm việc tại Tân thư viện Huế (tức Musée
Khải Định sau này), nơi đặt trụ sở Hội Bạn của Cố đô Huế, và có bài
đăng báo Bulletin des Amis de Vieux Hué [Đô thành hiếu cổ]. Năm
1918-1919, Diệm vào trường Hậu bổ Huế. Người đỡ đầu có lẽ là Nguyễn
Đ́nh Ḥe, một phụ tá cũ của Khả trong chiến dịch truy giết Ngự sử
Phùng, lúc đó đang làm Giám đốc trường (năm 1921 giữ chức Tổng thư
kư Viện Cơ Mật). Thời gian này, triều đ́nh đă bỏ lối thi Hương và
thi Hội cũ, và trường Hậu bổ mở thêm phân khoa “pháp chính” [hành
chính và luật] của Đại học Hà Nội. Học viên học tại Huế hai năm đầu,
và năm thứ ba phải ra Hà Nội. Có lẽ Diệm được chuyển qua chương
tŕnh này.
Tốt nghiệp, nhờ
sự nâng đỡ của Thượng thư Bài, năm 1922 Diệm được bổ nhậm ngay. Năm
1929 [1926?], Diệm lên tới chức đầu tỉnh, Quản đạo Ninh Thuận (Phan
Rang), rồi Tuần Vũ B́nh Thuận (Phan Thiết). Được cấp trên đặc biệt
chú ư v́ thanh liêm và tinh thần diệt Cộng cao. Một nhân chứng ghi
nhận rằng Diệm, khi làm quản đạo Ninh Thuận, ngoài những ngón tra
tấn quen thuộc như tra điện, ḱm kẹp, c̣n bắt tù nhân Cộng Sản vuốt
lạt tre, hay dùng đèn cầy [nến] đốt hậu môn để lấy khẩu cung. Ít
nhất 7 trong số 500 tù nhân Cộng Sản bị tra tấn đến chết.(
17)
Tài liệu Bộ
Ngoại Giao Mỹ ghi Diệm tốt nghiệp thủ khoa năm 1921; khi làm quan
đầu tỉnh ở Quảng Trị năm 1930-1931, Diệm dùng những “thủ đoạn nghiêm
khắc” để đàn áp những người nổi dậy do Cộng Sản lănh đạo, v́ thế tạo
mối thù hận trong giới tả phái.
(18)
Có lẽ v́ thế, theo
Giám Mục Thục, Cộng Sản đă thuê một sát thủ ra tận Phan Rang mưu sát
Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Lá thư riêng gửi Toàn quyền Jean
Decoux ngày 21/8/1944 tóm lược rơ ràng nhất công lao và ḷng trung
thành với Bảo hộ Pháp của họ Ngô, cũng như cá nhân Diệm:
Các anh em tôi cũng liên tục dâng
hiến mạng sống họ cho nước Pháp trong dịp Cộng Sản nổi loạn. Diệm,
em tôi, đă ngă xuống v́ những viên đạn súng lục của một người Tàu
Chợ Lớn, được gửi tới Phan Rang, nơi Diệm hăng say ngăn chặn sự xâm
nhập của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ [Mes frères, eux mêmes ont
exposé leur vie continuellement pour la France lors de la révolte
communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de
révolver d’un chinois de Cholon, envoyé à cet effet à Phan Rang, où
Diệm défendait énergétiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires
communistes envoyées de la Cochinchine]. (19)
Tóm lại, từ Ngô
Đ́nh Khả xuống Khôi, rồi Diệm, tinh thần phục vụ và ḷng trung thành
với Pháp khá vững chắc. Khôi từng nhờ Nhu nói với Tổng Giám Đốc Cảnh
Sát Paul Arnoux ngày 18/8/1944 tại Huế rằng Khôi “xin thề trên thập
tự giá“ rằng lúc nào cũng coi Bảo hộ Pháp như “bát cơm” [bol de riz]
của họ Ngô. Khôi cũng thường nói với Diệm rằng sở dĩ người Pháp
[Khâm sứ Emille Grandjean] không ưa v́ “[họ Ngô] quá toàn vẹn,” và
“Phạm Quỳnh (1892-1945) th́ khôn khéo, nên được cả Pháp lẫn Nhật
quảng cáo tài năng.”(
20)
Dấu mốc quan
trọng trong sự nghiệp “yêu nước, chống Pháp” của Diệm, là cuộc “đảo
chính cung đ́nh” ngày 2/5/1933. Ngày này, Toàn quyền Pierre Pasquier
(12/1928-1/1934) và Quyền Khâm sứ Léon Thibaudeau (2/1933-7/1934)
đột ngột bắt Tổng lư Bài và toàn bộ nội các về hưu. Theo báo Tiếng
Dân, tin trên chấn động dư luận Huế. Bẽ bàng nhất cho Bài là ngay
chính Bài cùng các Thượng thư không hề được báo trước. Và, khi
Thibaudeau tuyên bố danh sách nội các mới, có Trần Thanh Đạt thông
dịch qua tiếng Việt, một số người vẫn chưa kịp về đến kinh đô.(
21)
Nguyên Pasquier,
với sự thỏa thuận của Albert Sarraut, quyết thực hiện một cuộc “đại
cải cách” ở An Nam, đánh bóng uy tín vua Nguyễn để làm giảm bớt và
điều-kiện-hóa các phong trào quốc gia mới–như cuộc khởi nghĩa của
Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930, và nhất là sự du nhập và phát triển
của phong trào Cộng Sản từ giữa thập niên 1920, bùng nổ thành những
cuộc bạo động, khủng bố tại các đồn điền miền Nam, cùng phong trào
Sô Viết Nghệ Tĩnh trong hai năm 1930-1931. Pasquier và Thibaudeau
đoạn tuyệt với nhóm hợp tác cựu trào (Nguyễn Hữu Bài, Ki-tô giáo).
Nhóm này chủ trương đồng hóa và thống trị theo kế sách của Giám mục
Paul Puginier và Louis Caspar–nhằm Ki-tô hóa các vua quan rồi khiến
toàn thể dân Việt sẽ phải theo đạo, và vĩnh viễn trở thành “bạn của
nước Pháp.” Từ thập niên 1890, nhóm hợp tác cựu trào trở thành một
thứ kiêu binh của cái mà Phạm Quỳnh cũng như Bảo Đại gọi là “một văn
pḥng phụ thuộc nho nhỏ của Ṭa Khâm,” tức triều đ́nh Huế, lúc nào
cũng mang công lao của khối giáo dân bản xứ trong việc thiết lập chế
độ Bảo hộ ra làm áp lực. Ngựa mới của Pasquier là phe tân trào (tiêu
biểu bằng Phạm Quỳnh, Bùi Bằng Đoàn, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Thái
Bạt, Lê Dư, v.. v...). Phe này chủ trương hợp tác tinh thành, hay
Pháp-Việt đề huề. Quan chức Pháp đă chọn phe tân trào, v́ chủ trương
hợp tác có nhiều triển vọng thành công trước sự lớn mạnh của các
phong trào quốc gia mới–mà cao điểm là cuộc nổi dậy của Việt Nam
Quốc Dân Đảng năm 1930–và nhất là sự du nhập chủ nghĩa Cộng Sản do
Liên Xô Nga bảo trợ, mối Hồng họa nguy hiểm nhất cho các cường quốc
thực dân Tây phương. Trong khi đó, nhóm Phạm Quỳnh chấp nhận “tôn
quân cũng là yêu nước,” tạm ngưng lại đ̣i hỏi thể chế cộng ḥa.(
22)
Để làm giảm sự
bi phẫn của nhóm cựu trào, Pasquier và Thibaudeau đặc cách Diệm–con
nuôi của Bài [son fils putatif], cũng một trong hai Tuần vũ thanh
liêm, chống Cộng nhiệt t́nh nhất–lên làm Thượng thư Bộ Lại. “Ngôi
sao” thứ hai của Pasquier là Bùi Bằng Đoàn (1890-1955), đặc cách từ
Tuần phủ lên chức Thượng thư Bộ H́nh. Ngày 6/5/1933, năm tân Thượng
thư mới có mặt đầy đủ tại Huế nhân dịp gắn huy chương cho Bài và 4
người khác. Ngày 17/5, Thibaudeau chủ tọa phiên họp Hội đồng Nội các
đầu tiên. Mười ngày sau, 27/5, tân Nội các nhóm họp dưới sự chủ tọa
của Bảo Đại và Pasquier.
(23)
Một số mật báo
viên ghi, và ngay chính Diệm man khai (ngày 24/12/1947 với Tổng lănh
sự Mỹ tại Hong Kong là George D. Hopper) rằng “Giệm” được làm “quan
đầu triều Bảo Đại.”(
24) Thực ra, từ tháng 5/1933,
Bộ Lại mất đi ảnh hưởng của những năm Bài được kiêm nhiệm chức Tổng
lư [Chủ tịch Viện Cơ Mật], và chỉ ngang với các Bộ khác. Người có uy
thế nhất là Phạm Quỳnh, Thượng thư Giáo dục kiêm Ngự tiền Tổng lư
của Bảo Đại. Quỳnh không những chỉ chuyển lệnh của Toàn quyền và
Khâm sứ Pháp cho Bảo Đại, mà c̣n đồng thời dịch, và thiết kế việc
thực thi các lệnh trên, cùng báo cáo kết quả lên Khâm sứ.
Thibaudeau c̣n
cử Diệm làm Tổng Thư kư Ủy ban Cải Cách, và yêu cầu Diệm làm tờ
tŕnh về kế hoạch canh tân Bộ Lại. Diệm, có lẽ do ảnh hưởng của Bài,
đưa ra 2 điều kiện: Phải thống nhất Bắc và Trung Kỳ; tái bổ nhiệm
một Tổng Trú sứ (Résident Général) cho Trung và Bắc Kỳ như đă qui
định trong Hoà ước 6/6/1884; và, cho Viện Dân biểu quyền thảo luận.
Đề nghị này giống hệt kế hoạch của Bài: Muốn cải cách, việc đầu tiên
phải hủy bỏ chức Thống sứ Hà Nội và Khâm sứ Huế (tức tái sát nhập
Bắc Kỳ vào An Nam), sau đó cho An Nam ngân sách riêng. Nói cách
khác, phải trở lại với Hiệp ước 6/6/1884–đ̣i hỏi mà Bài đă gieo
xuống đầu óc thơ dại của Duy Tân từ năm 1915-1916, đưa đến việc vua
bị truất phế rồi đầy qua Réunion cùng cựu hoàng Thành Thái (Bửu Lân)
vào cuối năm 1916. Pasquier, dĩ nhiên, không chấp thuận.(
25)
Ngày 9/7/1933,
Diệm ra Quảng Trị ở với cha nuôi ít ngày. Trở lại Huế, ngày 12/7,
Diệm nạp cho Thibaudeau một bản sao đơn từ chức đă tŕnh lên Bảo
Đại. Lư do Diệm nêu ra là cơ cấu tổ chức hiện tại không phù hợp với
Hiệp ước 6/6/1884–Hiệp ước này qui định Pháp chỉ giữ một chế độ bảo
hộ kiểm soát (protectorat de contrôle) mà không phải bảo hộ trực
tiếp (protectorat direct). Thibaudeau gọi Bảo Đại từ Đà Lạt về Huế
giải quyết. Bảo Đại bảo thẳng Diệm rằng không thể viện dẫn lư do
chính trị để từ chức, v́ đó là hành động phản nghịch. Diệm đành viết
lại đơn từ chức khác ngày 18/7, nêu lư do muốn dành th́ giờ cho việc
tu hành. Lần này, Diệm được toại ư. Ngày 22/7, Thibaudeau đổi Thái
Văn Toản qua thay Diệm nắm bộ Lại, và đưa Tôn Thất Quảng, Tổng đốc
Thanh Hóa, mới lập công lớn trong việc đàn áp đẫm máu tại các tỉnh
Bắc An Nam, lên nắm Bộ Công và Nghi Lễ thay Toản.(
26)
Ngay sau ngày
Bài bị cách chức, vài tờ báo Nam Kỳ công khai đả kích Pasquier. Theo
một mật báo viên (Luật sư Lê Văn Kim), những bài đả kích trên từ Huế
chuyển vào Sài G̣n. Tháng 12/1933, Diệm c̣n vào Sài G̣n gặp Nguyễn
Phan Long, Lê Văn Kim, Jacques Lê Văn Đức v.. v... bàn thảo kế hoạch
trả thù Pasquier và Thibaudeau. Tiếp đó, tờ La Tribune indochinoise
[Diễn đàn Đông Dương] và tờ La Lanterne [ Đèn Lồng] ở Paris mở chiến
dịch đ̣i thay Pasquier bằng cựu Toàn quyền Alexandre Varenne
(7/1925-11/1927) và đưa cựu Khâm sứ Yves Châtel (6/1931-2/1933) trở
lại Huế. Biết được tin này, Pasquier truất hết chức tước của Bài,
Diệm và Pierre Nguyễn Đệ, Bí thư riêng của Bảo Đại, thuộc một gia
đ́nh trung gian bản xứ Ki-tô nổi danh khác ở miền Bắc (Án sát Nguyễn
Liên). Diệm c̣n bị trục xuất khỏi Huế, chỉ định cư trú tại Quảng
B́nh. (27)
May mắn cho
Diệm, ngày 15/1/1934, Pasquier chết v́ tai nạn máy bay trên không
phận Paris. Năm sau, Bài chết tại Quảng Trị. Toàn quyền Eugene René
Robin (7/1934-1/1937) và Khâm sứ Maurice Graffeuil (7/1934-5/1936,
4/1937-8/1941) phục hồi tước vị hàm [honoraire]
cho Bài, Diệm và Đệ. Diệm
được về Huế dạy trường Providence [Thiên hựu] do Linh mục Thục, “anh
trai” Diệm, làm Giám học.(
28)
III. HỢP TÁC VỚI
NHẬT:
Thế chiến thứ
hai (1939-1945) và việc Nhật xâm chiếm Đông Dương từ hai năm
1940-1941 khiến Diệm và họ Ngô, do tham vọng và ư muốn phục thù
Pháp, đi t́m một bát cơm hay thiên mệnh ngoại cường khác. Họ Ngô bí
mật yểm trợ Hoàng thân Cường Để (1882-1951) và từ năm 1942, công
khai hợp tác với Hiến binh Nhật (Kempeitai). Huân, con trai lớn của
Khôi, làm thông ngôn cho Nhật. Trong khi đó, Ngô Đ́nh Nhu
(1910-1963) che chở cho hai con Cường Để, Tráng Đinh và Tráng Liệt,
tại văn khố Ṭa Khâm sứ Huế. Những người thân Diệm cũng làm việc tại
ṭa Lănh sự Nhật từ năm 1942. Đầu năm 1943, Y sĩ Trương Kế An, thủ
lănh Liên Đoàn Ái Quốc Việt Nam, gặp Diệm ở Hà Nội. Pierre Đệ, anh
rể hụt của Nhu, cũng có mặt.(
29)
Trong khi đó, Khôi cho
Diệm dùng dinh thự Tổng đốc Nam-Ngăi của ḿnh để tiếp xúc với những
cá nhân thân Nhật. Khôi c̣n che chở cho tín đồ Cao Đài (đang bị nghi
ngờ thân Nhật, ủng hộ Cường Để) trong vùng cai trị. Mật thám Pháp
cũng t́m thấy trong nhà một người cháu họ của Khôi ở Quảng Nam, Ngô
Đ́nh Dậu (?), tài liệu liên quan đến Việt Nam Phục Quốc Hội của
Cường Để. V́ việc này, Khâm sứ Grandjean (6/1941-8/1944) chẳng những
không HCMi âm thư chúc mừng của Khôi, mà trong buổi gặp mặt trên đèo
Hải Vân, c̣n bắt Khôi về hưu không được hàm Thượng thư. Tháng
1/1944, Grandjean cho lệnh Bảo Đại bí mật trục xuất Diệm khỏi Huế,
chỉ định cư trú ở Quảng B́nh.
Anh em Diệm trút
mọi hờn oán lên Phạm Quỳnh, đương kim Tổng lư [Tể tướng] triều đ́nh.
Nhưng các viên chức Pháp quyết định không ngả theo phe nào, theo
đúng chủ trương chia để trị. Theo an ninh Pháp, “những phần tử trong
họ Ngô, đặc biệt là Khôi, nuôi dưỡng ḷng hận thù ngày một sâu đậm
đối với Phạm Quỳnh người đă thụ hưởng nhiều lợi lộc nhất trong “cuộc
đảo chính ngày 2/5/1933.” Từ một nhà báo, Quỳnh đă trở thành Thượng
thư Bộ Quốc Dân Giáo Dục, rồi thăng lên chức Tổng lư khá nhanh, nắm
giữ tước cao nhất của hệ thống quan lại (Tứ trụ triều đ́nh) năm
1944. Từ từ theo sự thăng tiến về danh vọng của Phạm Quỳnh, hận thù
giữa họ Ngô với Phạm Quỳnh càng gia tăng . . . ..”
(30)
Mùa Hè 1944, Mật
thám Pháp khám phá ra tổ chức Đại Việt Phục Hưng của Diệm, gồm
khoảng 50 đảng viên tích cực, kể cả một số giáo sĩ, nằm ngay trong
đội lính khố xanh
(Garde
indochinoise), cảnh sát,
công chức, v.. v... Một trong những lănh tụ là Trần Văn Lư, Tuần vũ
Hà Tĩnh. Pháp bèn cho lệnh khám xét tư thất Diệm, nhưng Diệm đă sớm
tẩu thoát. Ngày 12/7, Trung úy Kuga Michio của Hiến binh Nhật bí mật
đưa Diệm vào Đà Nẵng, rồi đáp phi cơ vào Sài G̣n. Trong thời gian ở
miền Nam, Diệm lui tới với Matsushita [Tùng Hạ] Mitsuhiro, Chủ công
ty Dainan Koosi [Đại Nam hay Dainan Konsi], trưởng lưới t́nh báo dân
sự của Nhật, cũng người tự nhận là bạn thân của Cường Để.(
31)
Một tháng sau,
ngày 12/8, Nguyễn Huy Tân, Cán sự Công chính ở Quảng Ngăi, một cán
bộ của Diệm, khai rằng Nhật đă chọn Diệm làm Thủ tướng, trong một
chế độ quân chủ lập hiến mà người làm vua không nhất thiết phải là
Cường Để. Hai ngày sau, 14/8, Paul Arnoux, Giám đốc Cảnh Sát, được
lệnh bí mật khai thác Nhu và Khôi ngay tại Huế. Ngày 18/8, Arnoux
báo cáo rằng Nhu nh́n nhận việc làm tội lỗi của Diệm, nhưng Khôi
không dính líu, xin “thề trên thập tự giá” là chỉ muốn duy tŕ “bát
cơm” Pháp. Ngày 20/8, v́ t́nh h́nh Âu Châu đang rối loạn, phe “Pháp
tự do” của Charles de Gaulle đang tiến vào Paris, Decoux đồng ư với
đề nghị của Arnoux là chỉ trừng trị những cán bộ hạng trung, tránh
khiêu khích Nhật.
(32)
Trong khi đó,
như đă lược nhắc, ngày 21/8, Ngô Đ́nh Thục–đă được thụ phong chức
Giám mục Vĩnh Long từ năm 1938–viết thư xin Decoux nghĩ đến công lao
hăn mă của cha ḿnh với chính phủ Pháp trong việc “đánh dẹp phản
loạn” (tức những phong trào Văn Thân và Cần Vương kháng Pháp) khi
xét xử Khôi và Diệm. Anh em họ Ngô, Thục nhấn mạnh, cũng đă nhiều
lần dâng hiến thân tâm cho Bảo hộ Pháp, bất kể mạng sống..(
33)
Cuối năm 1944,
đầu năm 1945, Diệm tá túc trong bệnh viện Chợ Quán, được trưng dụng
làm trụ sở quân sự của Nhật, sau này đổi tên thành bệnh viện bài lao
Hồng Bàng. Tại đây, Diệm cùng Y sĩ Nguyễn Xuân Chữ, Y sĩ Lê Toàn, Kỹ
sư Vũ Văn An, Kư giả Vũ Đ́nh Dy (1906-1945) thành lập Ủy Ban Kiến
Quốc, pḥ trợ Cường Để. Theo tài liệu truyền khẩu Nhật, cuối năm
1944, khi chuẩn bị kế hoạch Mago để lật đổ chế độ thân Vichy Decoux,
Hiến binh Nhật đă dự trù Diệm sẽ trở thành Thủ tướng. Tuy nhiên,
t́nh h́nh ngày một đổi thay mau chóng. Tướng Tsuchihashi Yuitsu, Tư
lệnh Quân đoàn 38–lực lượng trách nhiệm pḥng thủ Đông Dương chống
kế hoạch đổ quân Đồng Minh–dồn mọi nỗ lực cho mục tiêu quân sự hơn
chính trị. Bởi thế Tsuchihashi giữ Bảo Đại làm vua một nước Việt Nam
“độc lập trong Khối thịnh vượng chung Đại Đông Á,” không đồng ư cho
Cường Để về nước. Nhưng nước Việt Nam này trên thực tế chỉ bao gồm
12 tỉnh miền Trung, v́ Nam Kỳ cũng như Bắc Kỳ được trù liệu sẽ trở
thành hai trung tâm tử thủ chống lại sự đổ bộ của quân Đồợng Minh.
Giám đốc Kempeitai yêu cầu phe Diệm-Chữ tham gia chính phủ độc lập
tại Huế, nhưng cả hai đều từ chối.(
34)
Tháng 3/1945,
sau cuộc Hành quân Meigo (9-10/3/1945) loại bỏ Decoux, Bảo Đại hai
lần nhờ Nhật mời Diệm làm Thủ tướng, nhưng không có HCMi âm. Mùa Thu
1945, Giám mục Thục khai rằng sở dĩ Diệm không nhận lời v́ thấy chế
độ do Nhật lập nên khó tồn tại lâu dài; hơn nữa quanh Bảo Đại có
những thành phần tả phái và franc-macon [tam điểm]. Lời khai này khó
tin cậy, và mục đích có lẽ nhằm biện minh cho sự hợp tác với Nhật
của Diệm, một tội ác chiến tranh ở thời điểm này. Thục cũng không
biết đến, hoặc tảng lờ quyết định của Tsuchihashi hay lời tuyên bố
sẽ tống giam Cường Để vào Côn đảo nếu Hoàng thân về nước. Nhân viên
an ninh Pháp, năm 1954, ghi rằng Diệm từ chối lời mời lập chính phủ
v́ Nhật không chịu cho thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam. Cách nào
đi nữa, sau cùng, Bảo Đại được Nhật thông báo rằng họ không muốn
dùng Diệm.(
35)
Thay vào đó,
tháng 4/1945, Trần Trọng Kim (1883-1952) được đưa từ Krungthêp về
Huế làm Tổng lư nội các [Thủ tướng] “Đế quốc Việt Nam” (4-8/1945).(
36)
Trong khi đó, nhóm
Diệm-Chữ đă bị phân tán khắp ba miền. Y sĩ Chữ về lại Nam Định, rồi
Hà Nội, và cuối cùng trở thành Chủ tịch Ủy Ban Lănh Đạo Chính trị
miền Bắc, thay Khâm sai Phan Kế Toại từ chức vào giữa tháng 8/1945.
Diệm về Vĩnh Long, tá túc trong giáo phận của Giám mục Thục. Cuối
tháng 7, đầu tháng 8/1945, có những vận động đón Cường Để HCMi hương
làm Cơ Mật viện trưởng cho Bảo Đại, nhưng Cường Để không về nước
được v́ chiến tranh chấm dứt đột ngột vào giữa tháng 8/1945.
IV. DIỆM & VIỆT
MINH:
Mặc dù sau này Ngô
Đ́nh Diệm thường tuyên bố tại Việt Nam chỉ nổi danh thua HCM Chí
Minh [the best known figure after Ho Chi Minh], khoảng thời gian từ
tháng 8/1945 tới đầu năm 1947 là giai đoạn bí mật nhất đời Diệm.
Như chúng ta đă
biết, ngày 19/8/1945, Việt Minh lên nắm chính quyền ở Hà Nội.( 37)
Ngày 25/8, Bảo Đại ra thông cáo thoái vị. Khôi và con trai trưởng là
Huân bị Việt Minh bắt, rồi thủ tiêu ở vùng Phong Điền, Thừa Thiên.(
38) Riêng Diệm và Thục đều có
tin bị Việt Minh bắt. Thục, thực ra được tự do sống ở vùng Vĩnh
Long, dưới sự che chở của viên chức Việt Minh. Tháng 10/1945, Thục
định ra Bắc, nhưng bị quân Bri-tên chặn bắt ở Biên Ḥa, rồi sau đó
âm thầm trở lại giáo phận Vĩnh Long. Phần Diệm, tông tích bất minh.
Ngày 7/5/1953,
trong buổi ăn trưa và thảo luận [lunch talks]
về t́nh h́nh Đông Dương tại
Tối Cao Pháp Viện Mỹ, Diệm tuyên bố từng bị HCM “cô lập” trong một
làng thiểu số năm 1946. Sau 6 tháng, HCM yêu cầu Diệm tham gia chính
phủ, nhưng Diệm trả lời rằng v́ biết HCM là CS, Diệm muốn được toàn
quyền và thông báo mọi tin tức. Những người ủng hộ Diệm đ̣i Diệm
phải được giao Bộ Nội Vụ và nắm ngành Cảnh Sát. HCM do dự ít tuần,
rồi cuối cùng từ chối. Gần một thập niên sau, ngày 16/1/1962, Diệm
vẫn lập lại chi tiết bị bắt giữ ở vùng thượng du Bắc Việt với các
viên chức Mỹ tại Sài G̣n. Diệm c̣n tuyên bố với một kư giả Bri-tên
rằng bị Việt Minh bắt vào tháng 9/1945, khi từ Sài G̣n ra Huế ngăn
Bảo Đại đừng theo HCM. Sau đó, bị giải lên thượng du gần biên giới
Hoa-Việt, suưt chết v́ bệnh sốt rét. Sáu tháng sau, HCM mang Diệm về
Hà Nội, thuyết phục Diệm theo ḿnh. Diệm không đồng ư, HCM bèn thả
Diệm. Sau này, Hoàng Tùng cho rằng tha Diệm là một sai lầm.(
39)
Việc Diệm bị
Việt Minh bắt được nhiều nguồn tin khác xác nhận. Hạ tuần tháng
11/1945, Giám mục Thục khai với Pháp rằng Khôi và Diệm đă bị Việt
Minh bắt và có thể đă bị xử bắn.(
40) Ngày 28/12/1945, Tổng Giám
mục Antonin Drapier cũng viết cho Trưởng đoàn Truyền giáo Hải ngoại
Pháp ở Sài G̣n, rằng Diệm đă bị Việt Minh bắt.(
41)
Một nguồn tin
khác nữa ghi vào khoảng tháng 6/1946, khi Diệm đến ở nhà Linh mục
Độ, chính xứ Tuy Hoà, cán bộ VM đă “khéo léo” mời được Diệm lên miền
Thượng (Mọi). Người gia nhân thoát chạy ra Phát Diệm, xin Giám mục
Lê Hữu Từ giúp, sợ bị giống như Khôi. Từ bèn cùng Linh mục Phạm
Quang Hàm và Dân biểu Ngô Tử Ha vào Bắc bộ phủ xin HCM tha Diệm.
Chính HCM cũng không biết việc này, và hứa sẽ can thiệp. Khoảng một
tháng sau, Diệm về tới Hà Nội, Vơ Nguyên Giáp cho gọi Nhu tới lĩnh
về.( 42)
Những chi tiết quanh
việc Diệm bị Việt Minh bắt có nhiều nghi vấn:
1. Xét về ngày tháng
Diệm bị bắt, có phần không ổn.
a. Tài liệu Bộ Ngoại
Giao Mỹ và Karnow dẫn lời Diệm là Diệm bị bắt vào tháng 9/1945, và
trả tự do vào khoảng tháng 3/1946.
b. Ngày tháng mà Từ
hoặc tác giả viết HCMi kư cho Từ ghi là Diệm bị bắt đúng vào giai
đoạn HCM đang ở Pháp, và măi tới ngày 22/10/1946 HCM mới về tới Hà
Nội. Vậy Từ can thiệp vào dịp nào? (Diệm cũng không hề nhắc đến việc
được Từ và Hạ can thiệp).
c. Ngay chính Diệm,
ngày 7/5/1953, chỉ nói mơ HCM đă bị “cô lập” tại một làng thiểu số
trong 6 tháng vào năm 1946.
2. Không ai rơ Diệm
được tha ngày nào, và cũng chẳng ai rơ hành tung Diệm từ lúc được tự
do tới khi xuất hiện ở Hà Nội vào đầu năm 1947 trong bộ đồ tu hành.
3. Theo thư gửi Decoux
đề ngày 21/8/1944, Thục nói Cộng Sản từng sai sát thủ người Hoa ra
Phan Rang mưu sát Diệm, nhưng Diệm chỉ bị thương. Nếu bắt được Diệm
năm 1945 hoặc 1946, ngay tại miền Trung, cách nào Cộng Sản tha Diệm?
Người ta chưa quên số phận những Tạ Thu Thâu, Vũ Đ́nh Dy, v.. v... ở
Quảng Ngăi; và nhiều cảnh “ṃ tôm” khác khắp ba miền.
4. Anh em Diệm rất
thành thạo thủ thuật tự đánh bóng (kiểu Diệm “làm Tể tướng cho Bảo
Đại,” Khả làm “thượng thư đầu triều Thành Thái,” hay “đầy vua không
Khả”). Thành tích “bị giam lỏng” tại miền thượng du năm 1946, hay
đ̣i HCM cho nắm Bộ Nội vụ có thể chỉ để tăng thêm vốn cho việc rao
bán lập trường chống Cộng hầu xin viện trợ Mỹ của Diệm. Hy vọng sẽ
có dấu vết việc bị “cô lập” này trong văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam
hay Pháp.
Cho tới khi có tài
liệu rơ ràng, có thể tin Diệm đă trốn trong nhà tu [Redemptoristes
hay Ḍng Cứu thế] ở Huế như tài liệu văn khố Pháp ghi nhận.
V. DIỆM & BẢO ĐẠI:
“THÀNH PHẦN THỨ BA”
Đầu năm 1947,
Diệm xuất hiện ở Hà Nội, ngụy trang như một tu sĩ. Được Pháp yêu cầu
lập chính phủ chống Cộng, Diệm đưa ra một kế hoạch không thể chấp
nhận được, tức thống nhất ba miền, có quân đội riêng và nhiều quyền
tự trị hơn. Diệm c̣n gặp Tổng lănh sự Mỹ Charles Reed tại Hà Nội.
Trong thời gian ở Hà Nội, ngụ tại tu viện ḍng Cứu Thế Canada ở Thái
Hà Ấp.( 43)
Ngày 11/4/1947, Diệm trở lại
Sài G̣n. Ngày 5/9/1947, lại trở ra Hà Nội.
A. “THÍ NGHIỆM” BẢO
ĐẠI:
Thời gian này,
“thí nghiệm” Bảo Đại bắt đầu thành h́nh. Thí nghiệm này nhằm ngụy
trang cuộc tái xâm lăng Việt Nam mà chính phủ Charles de Gaulle đă
phát động từ năm 1944-1945.(44)
Từ mùa Hè 1945,
sau khi Nhật lật đổ chính phủ thân Vichy của Decoux, Tướng de Gaulle
đă nỗ lực t́m một “chí sĩ quốc gia Việt Nam chân chính” để cầm cờ
dẫn Pháp trở lại Đông Dương. Ứng cử viên được nhiều người biết nhất
là Hoàng tử Vĩnh San (1900-1945), tức cựu hoàng Duy Tân (1907-1916),
đă bị truất phế và đầy qua Réunion năm 1916. Tai nạn phi cơ ngày
26/12/1945 khiến “lá bài bí mật” của phe de Gaulle “tan biến như một
giấc mơ đẹp.” Hai ngày sau, 28/12, Tổng Giám mục Drapier, Khâm sứ
Vatican, tŕnh lên Cao ủy/Linh mục Georges Thierry d’Argenlieu
(1945-1947) kế hoạch cho Bảo Đại lên ngôi như trước ngày 9/3/1945;
rồi lập Hoàng tử Bảo Long làm vua, Hoàng hậu Nam Phương nhiếp chính,
với Diệm làm Thủ tướng.(
45) D’Argenlieu không đồng ư,
và cũng không hài ḷng việc Drapier xen vào thế quyền.
Một số chính
khách, lănh tụ giáo phái Việt cũng xúc tiến thực hiện “giải pháp”
Bảo Đại từ cuối năm 1945, đầu năm 1946. Người đầu tiên đưa ra ư kiến
này là tân Giám Mục Lê Hữu Từ. Nhân dịp Bảo Đại về Phát Diệm dự lễ
tấn phong của Từ, Từ hỏi Bảo Đại có mưu tính ǵ chăng; nhưng Bảo Đại
không có phản ứng tích cực. Cựu Thủ tướng Trần Trọng Kim và đảng
viên trẻ Đại Việt, kể cả Đỗ Đ́nh Đạo v.. v..., cũng t́m thấy ở Bảo
Đại sự lănh đạo, hoặc ít nữa sự chính thống [legality hay
legitimacy] cần thiết, để chống HCM.(
46)
Việt Nam Quốc Dân Đảng
[VNQDĐ] và Trung Hoa Quốc Dân Đảng [THQDĐ] cũng ít nhiều tiếp tay
Bảo Đại rời Hà Nội vào trung tuần tháng 3/1946.
Măi tới sau cái chết
của Nguyễn Văn Thinh ngày 10/11/1946 và sự khủng hoảng của thí
nghiệm “Cộng Hoà Nam Kỳ tự trị”–nhất là sau cuộc tấn công của Việt
Minh tối 19/12/1946 trên khắp miền Bắc vĩ tuyến 16– vai tṛ Bảo Đại
mới sáng giá hơn. Nước Pháp lúc này đứng trước một ngă ba đường.
Một, tiếp tục thương thuyết với Việt Minh, hầu t́m một giải pháp
chính trị. Nẻo đường khác, là đoạn tuyệt với chính phủ “ương ngạnh”
[intransigence] của HCM, đi t́m một “chí sĩ quốc gia” chấp nhận thoả
hiệp với Pháp. Hầu hết các cấp lănh đạo Pháp–từ Bộ trưởng Pháp quốc
Hải ngoại Marius Moutet cho tới đặc sứ Philippe Leclerc de
Hautecloque (1902-1947)–đều nghĩ rằng đă đến lúc đoạn tuyệt với HCM.
Léon Pignon, Cố vấn Chính trị của d'Argenlieu, ủng hộ Bảo Đại nồng
nhiệt nhất.
Do Pignon tiến
cử, ngày 14/1/1947, d'Argenlieu mật báo về kế hoạch tái sử dụng Bảo
Đại.( 47)
Moutet không chấp thuận.( 48)
Thủ tướng Léon Blum (12/1946-1/1947) cũng không tán thành, nhưng
chuyển kế hoạch này cho người kế vị là Paul Ramadier (1947). Dẫu
vậy, d'Argenlieu vẫn gửi Cousseau qua Hong Kong để liên lạc với Bảo
Đại vào đầu năm 1947.
Sự thành h́nh của
chính phủ Ramadier ngày 21/1/1947, và quyết định thay d'Argenlieu
bằng Dân biểu Emile Bollaert ngày 5/3/1947 mang lại một không khí
mới. Viên chức Pháp nghĩ đến một chính phủ Liên bang Việt Nam, với
ba chính phủ địa phương tại ba kỳ, và một chính phủ trung ương tượng
trưng sự thống nhất lănh thổ. Vấn đề đặt ra là ai sẽ cầm đầu chính
phủ trung ương đó. HCM và Bảo Đại trở thành hai tâm điểm của các
cuộc thảo luận.
Một số chính khách
Pháp nghĩ rằng phải nối lại thương thuyết với HCM. Theo họ, dù HCM
và các thuộc hạ thân tín là Cộng Sản, đa số cấp lănh đạo Việt Minh
chỉ là những người yêu nước. Hơn nữa, HCM và các thuộc hạ có khả
năng nhất. Ngày 31/12/1946, trong phần trích dịch dư luận báo chí ở
Paris, L'Humanité đăng lại lời b́nh luận tiêu biểu của Le Parisien
Libéré [Người Paris Giải Phóng]:
“Sẽ là một sự
điên rồ khó tha thứ khi mưu toan đặt lên một chính phủ bù nh́n nào
đó sẵn sàng hợp tác với chúng ta, nhưng không có nền tảng dân chúng.
Một sự điên rồ mà trong tương lai sẽ rất đắt giá cho chúng ta.”
(Nguyên văn: Ce serait une impardonable folie que de susciter pour
pouvoir comme partenaire, un quelconque gouvernement fantoche prêt à
la collaboration avec nous, mais sans fondement populaire. Une folie
qui dans l'avenir nous couterait fort cher).
(49)
Một số khác chủ
trương loại HCM, thương thuyết với Bảo Đại. Theo họ, Bảo Đại có một
số người theo ở Trung Kỳ; và được sự ủng hộ hoặc chấp thuận của
nhiều nhân vật có uy tín tại Bắc cũng như Nam Kỳ.(
50)
Ngày 1/4/1947 tân Cao
Ủy Bollaert tới Sài G̣n với lệnh tái thiết lập những guồng máy cũ,
nhưng đừng để lộ ra là Pháp muốn tái lập nền quân chủ.
Thời gian này,
Bảo Đại sống ẩn dật tại Hong Kong. Rời Hà Nội qua Nam Kinh ngày
16/3/1946 trong phái đoàn thăm thân hữu Trung Hoa, nhưng đến ngày
về, Bảo Đại nhận được thư HCM khuyên nên du lịch thêm một thời gian.
Cựu hoàng bèn sang Hong Kong, sống với một vũ nữ, dưới một tên giả
trong khách sạn Saint Francis Hotel. Mùa Thu 1946, Bảo Đại tuyên bố
với kư giả Jacques Sallebert là với cựu hoàng, “chính trị đă chết.”
Bảo Đại cũng bày tỏ ḷng kính phục Chủ tịch HCM, và tiết lộ rằng sự
thoái vị của ḿnh là chiều theo ư dân.(
51)
Nhưng nhiều cá
nhân và lănh tụ các đảng phái chống Cộng vẫn t́m đến, lôi kéo Bảo
Đại khỏi cảnh huống “về hưu” non ở tuổi 33. Trong số này có Nguyễn
Tường Tam, Vũ Kim Thành, Trần Trọng Kim v.. v... Vào cuối năm 1946,
đầu năm 1947, số người ủng hộ Bảo Đại được tăng cường thêm Hộ pháp
của Cao Đài. Mới HCMi hương vào tháng 8/1946 sau gần 5 năm lưu đầy,
Phạm Công Tắc chủ trương hợp tác với Pháp để chống Cộng. Chính Tắc
và Trần Quang Vinh, Tư lệnh lực lượng vơ trang Cao Đài từ năm 1943,
đă yểm trợ Y sĩ Lê Văn Hoạch lên cầm đầu chính phủ Nam Kỳ tự trị sau
cái chết của Y sĩ Thinh ngày 10/11/1946, hầu loại bỏ Trần Văn Tỷ.
Cuộc tổng tấn công ngày 19/12/1946 của HCM giúp Tắc mạnh bạo hơn.
Ngày 1/1/1947, nhân dịp Bộ trưởng Moutet đang tham quan Đông Dương,
Tắc yêu cầu Moutet đưa Bảo Đại về nước; và hứa sẽ ủng hộ Bảo Đại.(
52)
Nhưng các chính phủ
tại Paris–với sự tham dự của Đảng Cộng Sản Pháp–chưa muốn đoạn tuyệt
với HCM. V́ nhiều lư do, viên chức Pháp khẳng định vẫn muốn thương
thuyết, nhưng đặt thêm một điều kiện căn bản–đó là thảo luận trên
thế mạnh, không để bạo lực chi phối, và sau khi đă văn HCMi trật tự.
Ngày 20/12/1946, khi ra trước Quốc Hội điều trần, và tuyên bố sẽ qua
Đông Dương tham quan, Moutet nhấn mạnh:
Nước Pháp muốn hoà
b́nh, tôn trọng những nguyên tắc đă tuyên bố, nhưng không chịu khuất
phục trước bạo lực. Chính sách của Pháp là bảo vệ quyền lợi nước
Pháp và làm cho những quyền lợi ấy được tôn trọng.( 53)
Dù chỉ là một b́nh
phong cho việc tái chiếm miền Bắc bằng vơ lực, hay phát xuất từ ḷng
chân thành, những điều kiện tiên quyết này mở ra một câu hỏi then
chốt–đó là thương thuyết với ai? Thêm vào đó, là giới hạn của những
nhượng bộ Pháp có thể chấp thuận.
Mặc dù bản tuyên cáo
ngày 24/3/1945 qui định “năm xứ Đông Dương” của chính phủ de Gaulle
đă bị các biến cố ở Việt Nam biến thành dĩ văng, đa số giới lănh đạo
Pháp vẫn nhấn mạnh ở điểm Đông Dương phải là một thành phần của Khối
Liên Hiệp Pháp [L’Union Francaise]; không thể thống nhất ba miền
Bắc, Trung, Nam v́ miền Nam là một thuộc địa, tức một phần lănh thổ
bất khả phân của Pháp như phần dẫn nhập của Hiến Pháp 1946 đă qui
định; và, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa [VNDCCH] của HCM chỉ
là một trong những phe phái mà người Pháp có thể thương thuyết.
Ngày 23/12/1946, Dân
biểu André Mutter của hạt l'Aube–người từng yêu cầu bắt HCM tại
Paris sau khi hội nghị Fontainebleau đổ vỡ–tuyên bố không thể đàm
phán với chính phủ HCM được nữa v́ đó là “bọn phản bội” [traitres].
Mutter nhấn mạnh:
Chúng ta không thể coi
HCM Chí Minh như đại diện của một tiểu bang tự do [Etat libre]; đó
là một kẻ sát nhân [assassin].( 54)
Sau khi tham quan Đông
Dương về, tảng lờ những lời kêu gọi tái thương thuyết của HCM, ngày
18/3/1947, Moutet khẳng định không thể nói chuyện với HCM nữa, v́
HCM không những chỉ coi việc kư Hiệp ước như một phương tiện tranh
đấu; mà c̣n chủ trương bạo động.( 55)
Mặc dù vẫn c̣n những người như
Pierre Cot chưa dứt khoát–đề nghị đừng nên qui lỗi cho một phe
nào–phe cực hữu ngày thêm mạnh. Ngày 13/4/1947, Paul Reynaud tuyên
bố trước Quốc Hội Pháp:
HCM Chí Minh là một
tên tội phạm [un criminel] và không thể thương thuyết với hắn; hoặc
hắn đă bị điều khiển [manoeuvré] và tự chứng tỏ thiếu khả năng để
bắt chính quân đội của ḿnh tuân lệnh, vậy th́, đó là kẻ thiếu khả
năng và cũng chẳng nên thương thuyết với hắn nữa.( 56)
Hôm sau, 14/4, Dân
biểu Maurice Violette c̣n đi xa hơn, khẳng định: “Tinh thần quốc gia
ở Việt Nam là phương tiện; cứu cánh là thực dân
Liên Xô.”(
57)
Lời cáo buộc này
khiến phe Cộng Sản Pháp, kể cả Marcel Cachin, cực lực phản đối. Thủ
tướng Ramadier phải công nhận cho tới thời điểm đó, Liên Xô hoàn
toàn trung lập. Nhưng từ ngày này, dù công khai hay phía sau hậu
trường, các viên chức Pháp, v́ những lư do dễ hiểu, không ngừng tố
cáo nguồn gốc Quốc Tế Cộng Sản [QTCS] của HCM.(
58)
Phe cổ vơ cắt
đứt thương thuyết với HCM c̣n đưa ra thêm một lư do khác là từ ngày
19/12/1946, chưa ai gặp được HCM. Sự biến dạng này khiến không thể
không hoài nghi rằng HCM đă chết; và, những phần tử quá khích như Vơ
Nguyên Giáp cùng Hạ Bá Cang (Quận thọt) đang chi phối Tổng bộ Việt
Minh. Những văn thư kư tên HCM gửi cho Pháp trong những tháng cuối
năm 1946, đầu năm 1947–kể cả bản kiến nghị do Trần Ngọc Ranh trao
cho Pháp tại Paris vào tháng 2/1947–bị coi là đă giả mạo chữ kư
HCM.( 59)
Song song với chiến
dịch hạ uy tín HCM là việc tách rời HCM khỏi khối đại đa số người
Việt yêu nước. Ramadier, khi ra thuyết tŕnh trước Quốc Hội vào
tháng 2/1947, đă mở đầu cho khuynh hướng này. Tiếp đó, Moutet khẳng
định Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đă được kư kết với một chính phủ liên
hiệp Việt Nam, mà không phải với cá nhân HCM.
B. SỨ MỆNH CAO ỦY
BOLLAERT:
Để đánh dấu sự thay
đổi chính sách của ḿnh, Ramadier quyết định thay d'Argenlieu v́
Linh mục/Cao ủy này bị chỉ trích c̣n nặng đầu óc thực dân; và v́
d'Argenlieu gặp khó khăn trong việc liên hệ với những người mà ông
ta phải làm việc chung. D’Argenlieu không chịu từ chức, muốn níu giữ
Đông Dương chờ ngày de Gaulle–mới đột ngột từ chức ngày
24/1/1946–trở lại chính quyền. Ramadier chẳng c̣n cách nào khác hơn
cách chức d’Argenlieu.
Bài diễn văn được coi
như bản tuyên bố chiến tranh lạnh của Tổng thống Harry Truman
(1945-1953) ngày 12/3/1947 và kế hoạch viện trợ tái thiết Tây Âu ít
tháng sau của Ngoại trưởng George C. Marshall–tức “Kế hoạch
Marshall”–khiến chính phủ Ramadier muốn loại bỏ HCM, “một cán bộ
QTCS.” Tuy nhiên, dự định của Paris nhằm biến hoá cuộc tái xâm lăng
Việt Nam thành một điểm nổ của cuộc chiến tranh lạnh Tư Bản-Cộng
Sản–hầu thiết lập chính nghĩa mới và xin viện trợ Mỹ–không đạt được
tốc độ mong muốn. Oat-shinh-tân, dù không muốn thấy “một chế độ tay
sai của Mat-scơ-va thống trị bán đảo Đông Dương,” và cũng không muốn
bị mang tiếng ủng hộ Pháp tái thiết lập chế độ thuộc địa kiểu tiền
chiến tại thuộc địa này, chỉ khuyên Pháp t́m một “chí sĩ quốc gia
chân chính” lên cầm đầu cuộc chiến chống Cộng. Bởi thế, suốt năm
1947, Bollaert gặp rất nhiều khó khăn trong việc t́m một giải pháp
cho Việt Nam. Dẫu vậy, Bollaert đặt xuống những nền tảng cho việc
thực thi thí nghiệm Bảo Đại. Giai đoạn đầu là những bước ngoại giao
để loại bỏ HCM.
Nguyên từ cuối
tháng 12/1946, đầu tháng 1/1947, HCM nhiều lần xin nối lại thương
thuyết. Ngày 20/2/1947, ít tuần trước ngày Đại Hội Các Quốc Gia Á
Châu tại New Dehli, Đài Việt Minh công bố lá thư của HCM gửi
Ramadier và Moutet, kêu gọi thương thuyết. Việt Minh cũng nhờ Hồng
Thập Tự Quốc Tế chuyển cho Lănh sự Bri-tên một thư nghị hoà, nhưng
viên chức Pháp ở Paris đều nói không nhận được. Măi tới ngày 26/3,
Bộ Ngoại giao Pháp mới nói với Đại sứ Mỹ Caffery là nhận được thư
này, nhưng không ai dám khẳng quyết HCM c̣n sống.(
60)
Cũng ngày này,
tân Bộ trưởng Ngoại giao Hoàng Minh Giám khẳng định muốn “độc lập
trong Liên Hiệp Pháp.” Ngày 18/4/1947, Giám nhờ Hội Hồng Thập Tự
Quốc Tế chuyển cho Miguel de Pereyra, tân Ủy viên Cộng Hoà Bắc Việt,
một công hàm yêu cầu ngưng bắn tức khắc và nối lại thương thuyết.(
61) Hôm sau, 19/4, Giám lại
tuyên bố sẵn sàng điều đ́nh, nhưng v́ Pháp đ̣i Việt Minh phải nộp
50% khí giới, phóng thích tù binh Pháp, VM không chịu, v́ như thế là
đầu hàng.
Việt Minh c̣n cử
Thứ trưởng Ngoại Giao Phạm Ngọc Thạch tới Bangkok và các nước Đông
Nam Á để vận động. Thạch hai lần bí mật tiếp xúc Trung tá William
Law, Tùy viên Quân sự Mỹ ở Bangkok, trao cho Mỹ một số văn kiện,
nhưng không đạt kết quả nào.(
62)
Tháng 5/1947,
Bollaert cử Paul Mus, cố vấn kinh tế, liên lạc với Giám. Ngày 9/5,
Mus gặp Giám ở Cầu Đuống, rồi được dẫn đi gặp HCM tại tỉnh lỵ Thái
Nguyên. Tuy nhiên, khi nghe Mus đọc thuộc ḷng các điều kiện của
Bollaert–tức Việt Minh phải buông súng đầu hàng–HCM từ chối.(63)
Bollaert cũng xúc tiến
mạnh hơn việc thành lập các cơ cấu hành chính lâm thời tại vùng
chiếm đóng. Khởi đi từ Ủy Ban Chấp Chánh Lâm Thời [Comité
administratif provisoire] ở Huế (12/4/1947) và Hội đồng An Dân Bắc
Việt [Comité provisoire de gestion administrative et d'action
sociale] ở Hà Nội (19/5/1947), các ủy ban hay hội đồng hàng tỉnh,
hàng quận tiếp tục được thiết lập.
Trong hai tháng
cuối Xuân, đầu Hạ 1947, HCM lại mở chiến dịch kêu gọi thương thuyết.
Ngày 19/6, HCM tuyên bố muốn được độc lập trong Liên Hiệp Pháp. Một
tháng sau, ngày 19/7, HCM cải tổ chính phủ. Hai nhân vật “ôn
hoà”–Hoàng Minh Giám và Tạ Quang Bửu, rất thân thiết với Vơ Nguyên
Giáp–lên nắm Ngoại Giao và Quốc Pḥng. Chu Bá Phượng, một lănh tụ
VNQDĐ vẫn được “nắm” chức Cứu tế, Xă hội (dù trên thực tế đang bị
giam lỏng). Nguyễn Văn Tố, Đặng Văn Hướng, Bồ Xuân Luật là ba Bộ
trưởng không bộ nào. Vũ Đ́nh Tụng, Bộ trưởng Cựu Chiến binh, và Ngô
Tử Hạ, Thứ trưởng Cựu Chiến binh, đại biểu Giáo dân Ki-tô. Tôn Đức
Thắng mất chức Bộ trưởng Nội Vụ; Giáp lên chức Tổng Tư lệnh Quân
đội.( 64)
Giới ngoại giao
ghi nhận việc cải tổ chính phủ này như một nỗ lực của HCM để nối lại
thương thuyết. Tuy nhiên, khi trở lại Paris ngày 29/7, Mus tuyên bố
khó thể có hoà b́nh v́ cả hai bên đều không tin nhau. Thực ra,
Bollaert định cắt đứt liên hệ với HCM; và bí mật thương thuyết với
Bảo Đại cùng các phe phái chống Cộng. Mus là một trong những đặc sứ,
nhưng quan trọng nhất vẫn là Cousseau, nhân viên có nhiệm vụ kiểm
soát và nuôi dưỡng Bảo Đại trong cảnh lưu vong. Nhưng ông vua cuối
nhà Nguyễn, người được Đại diện Vatican ca ngợi như thân Pháp nhất
tại Việt Nam, đă phần nào thay đổi.(
65) Bảo Đại, và nhất là những
cộng sự viên buổi đầu như Kim, Thành, Diệm, Sâm mới trải qua một cơn
sốt váng vất độc lập, thống nhất–và, phần nào v́ mặc cảm–đ̣i hỏi
Pháp nhân nhượng nhiều hơn những ǵ đă nhân nhượng với HCM. Tháng
1/1947, chẳng hạn, Trần Trọng Kim đưa ra 7 điều kiện để hợp tác: 1/
thống nhất 3 kỳ; 2/ tự trị; 3/ định rơ vị trí của VN trong Liên Hiệp
Pháp; 4/ VN phải có quân đội; 5/ VN phải có cơ cấu tài chính; 6/
Pháp nên định một hạn kỳ trao trả độc lập cho VN; 7/ VN có đại biểu
ngoại giao với các nước Á Đông và buôn bán với các nước khác.(
66)
Tuy nhiên, người Pháp
không chịu nhượng bộ ngay những “ảo tưởng” của phe chống Cộng. Tự
tin ở sức mạnh quân sự–ít nữa đủ sức đánh tan quân đội chính qui
Việt Minh–ai nấy hy vọng chiến thắng không xa. T́nh h́nh quân sự
những tháng đầu năm 1947 phần nào thắp sáng ngọn lửa lạc quan. Ngày
17/2/1947, Việt Minh rút khỏi Hà Nội. Gần một tháng sau, ngày 11/3,
Pháp làm chủ t́nh h́nh Nam Định. Tại miền Trung, Pháp tái chiếm Hội
An [Faifo] ngày 15/3, Quảng Nam ngày 16/3; rồi đổ bộ Đồng Hới ngày
27/3. Riêng Ḥa B́nh, ngày 15/4 Pháp làm chủ được t́nh thế. Bởi vậy,
Bollaert t́m cách kéo dài thời gian, chờ đợi kết quả chiến dịch mùa
khô 1947–một chiến dịch mà quan Tướng Pháp tin tưởng sẽ bẻ găy xương
sống quân đội Việt Minh.
Để chuẩn bị cho chiến
dịch, ngày 16/5 Bollaert cử Tướng Raoul Salan–một nhân vật quen
thuộc với Đông Dương, từng tham gia cuộc thương thuyết với Trung Hoa
và HCM năm 1946–làm Tư lệnh miền Bắc. Viện binh Pháp cũng lục tục
kéo tới, nhiều nhất là lính Lê-dương [Légions étrangères] gốc Đông
Âu và lính da đen Phi Châu.
Bollaert cũng cho cải
tổ những chính phủ “Tề” tại miền Bắc và miền Trung. Ngày 19/5/1947,
Y sĩ Trương Đ́nh Tri–nguyên Bộ trưởng Y tế trong chính phủ Liên Hiệp
2/3/1946 –được cử làm Chủ tịch Hội Đồng An Dân Bắc Việt. Tại miền
Trung, Trần Văn Lư cầm đầu Ủy ban Chấp Chính Lâm Thời Trung Kỳ.
Nguyễn Khoa Toàn, Tỉnh trưởng Thừa Thiên từ năm 1946, nắm Hội đồng
Thẩm nghị [Tư vấn] Trung Kỳ. Tại miền Nam, mặc dù coi chính phủ Lê
Văn Hoạch là gánh nặng, Bollaert biến hoá dần sản phẩm của nhóm
Gaullist này. Ngày 19/5, Bollaert trả Dinh Thống Đốc cho Hoạch. Đồng
thời, áp lực Hoạch cải tổ chính phủ và tách biệt dần khỏi khuynh
hướng tự trị.
Trong năm 1947
cũng có nhiều nỗ lực kết hợp các đảng phái Việt Nam đang tập trung
tại vùng
“Tề.” Ngày 17/2, Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhứt Toàn Quốc (Front
d'Union Nationale du Viet-Nam, hay MTQGTNTQ)–hậu thân của Mặt Trận
Thống Nhứt Toàn Dân–chính thức thành lập, qui tụ các đảng viên Việt
Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Dân
Chủ Xă Hội Đảng, Việt Nam Quốc Gia Độc Lập Đảng, Việt Nam Quốc Gia
Thanh Niên Đoàn, Cao Đài, Đoàn Thể Dân chúng, và Liên Đoàn Công
Giáo.( 67) Ngày 29/3, MTQGTNTQ ra Tuyên Cáo tại Hong Kong. Theo
tuyên cáo này, mục tiêu của Mặt trận là thống nhất tất cả các tổ
chức cách mạng, đảng phái chính
trị, đoàn thể tôn giáo và xă hội để đấu tranh giành độc lập và thống
nhất lănh thổ, củng cố chế độ cộng hoà, dân chủ, hợp tác toàn diện
với tất cả các quốc gia trên thế giới trên căn bản công bằng và tự
do để văn HCMi trật tự thế giới. Về những biến cố ở Việt Nam, Mặt
Trận khẳng định cuộc kháng chiến hơn một năm qua không phải là công
tŕnh của một đảng phái chính trị nào, mà của toàn dân Việt. Mặt
Trận cũng khẳng định chính phủ HCM không c̣n được nhân dân tin tưởng
và đă mất vị thế trên thế giới trong công cuộc tranh đấu dành độc
lập. Bởi vậy, Mặt Trận ủng hộ cựu hoàng Bảo Đại Nguyễn Vĩnh Thụy để
thành lập một chính phủ dân chủ thực sự.(
68) Thế chống Cộng của các phe
nhóm được tăng hơn nữa sau khi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1917-1947) của
đạo Hoà Hảo bị Việt Minh sát hại ngày 20/4/1947.
Tại miền Bắc, nhóm
Đặng Vũ Lạc (1902-1948), Lê Thăng (1901-1987?), Đỗ Văn Năng
(1915-1950) bắt đầu qui tụ các đảng viên Đại Việt và VNQDĐ, thành
lập Đại Việt Quốc Dân Đảng hay Tân Đại Việt. Nhượng Tống Hoàng Phạm
Trân cùng Ngô Thúc Địch và một số người khác tái tổ chức VNQDĐ.
Tại miền Trung, VNQDĐ
và Đại Việt tái xây dựng tại vùng Tề. Tổ chức Đại Việt Phục Hưng của
Diệm cũng hoạt động trở lại. Do Nguyễn Khoa Toàn đề xướng, Trần Văn
Lư và Trần Thanh Đạt lập nên Việt Nam Quốc Gia Liên Hiệp làm cánh
tay chính trị. Một nhân vật đang lên khác tại miền Trung là Phan Văn
Giáo (1901-1963?). Giáo, một Dược sĩ Ki-tô gốc Ninh Hoà từng nổi
danh là cây vợt tennis tên tuổi, bị Việt Minh bắt giữ vào tháng
8/1945 v́ liên hệ với VNQDĐ, và lên án 6 năm khổ sai, tịch biên gia
sản vào tháng 2/1946. Thoát ra Hà Nội tháng 11/1946, Giáo qua Hong
Kong với Bảo Đại. Tháng 3/1947, được Bảo Đại ủy về nước vận động
thành lập chế độ quân chủ lập hiến.
Tại miền Nam, các phe
nhóm tự trị bắt đầu tuyên bố không chống đối việc thống nhất, miễn
mỗi xứ vẫn có tự trị về kinh tế và chính trị. Những nhóm chống Cộng
khác tổ chức biểu t́nh khắp nơi. Ngày 12/8/1947, Huế biểu t́nh yêu
cầu Bảo Đại về nước chấp chánh. Ngày 1/9 và rồi 14/9, biểu t́nh được
tổ chức ở Sài G̣n.
Các viên chức vùng Tề
khắp ba miền cũng tới tấp đi lại giữa Việt Nam và Hong Kong để “van
xin” Bảo Đại đứng ra nhận trách nhiệm. Có những nỗ lực liên hiệp
giữa Lê Văn Hoạch và MTQGTNTQ của Nguyễn Văn Sâm, sau khi Hộ Pháp
Tắc tuyên bố ủng hộ tổ chức này ngày 16/8. Điều kiện của Sâm là ghế
Bộ trưởng Nội Vụ hoặc Quốc Pḥng. Sau đó, MTQGTNTQ ủy Hoạch tiếp xúc
Bảo Đại để cầm đầu phong trào quốc gia và thống nhất đất nước. Ngày
5/9, Bảo Đại tuyên bố muốn tiếp xúc với các lănh tụ VN để bàn luận
thời sự. Cùng ngày, dù không được mời, Sâm qua Hong Kong gặp Bảo
Đại.
Ngày 9/9/1947,
Bảo Đại tiếp kiến 24 đại diện ba miền. Trong số những đại diện này
có Nguyễn Văn Tâm, Bộ trưởng Quốc Pḥng của chính phủ Hoạch. Bảo Đại
tuyên bố sẽ đứng ra hoà giải các phe phái sau khi đă thương lượng
với Pháp.(
69)
Giới giáo dân
Ki-tô cũng âm thầm yểm trợ thí nghiệm Bảo Đại. Từ đầu năm 1947, Giám
mục Từ cho một số các chính khách chống Cộng vào ẩn náu tại Phát
Diệm mà HCM cho hưởng đặc ân tự trị. Vợ cHồng Ngô Đ́nh Nhu và Trần
Văn Chương cũng một thời tá túc tại đây, trước khi bí mật vào Đà
Lạt. Các chi nhánh Đại Việt Duy Dân, VNQDĐ và Đại Việt cũng bắt đầu
được tái sinh. Trong khi đó, Giám mục Từ mượn những chuyến thăm
viếng giáo dân với danh nghĩa vận động kháng chiến chống Pháp để
tuyên truyền nhu cầu một cuộc thánh chiến chống Cộng. Tại giáo phận
Vĩnh Long, Giám mục Thục cắt dần liên hệ với Việt Minh. Nhưng nhiệt
t́nh chống Cộng hơn cả là các giáo mục tại vùng Bến Tre và Mỹ Tho.
Họ công khai yểm trợ các đơn vị lưu động bảo vệ giáo xứ [UMDC] của
Trung úy Jean Léon Leroy, thủ diễn vai tṛ “chính trị viên” cho các
binh sĩ thêu trước ngực h́nh thập tự giá. Tại các vùng Pháp mới tái
lập kiểm soát như Kẻ Sặt (Hải Dương), Quảng B́nh, Quảng Trị, Kontum,
v.. v... nhiều đơn vị tự vệ của giáo dân Ki-tô cũng được tổ chức để
chống Cộng. Pháp c̣n sử dụng các giáo sĩ Ki-tô để móc nối với giáo
dân tại các giáo phận Việt Minh kiểm soát. Khâm sứ Drapier không
những ban phép lành cho phong trào thánh chiến này mà c̣n đẩy mạnh
hơn vai tṛ Diệm và họ Ngô trong thí nghiệm Bảo Đại.(
70)
Mặc dù có kẻ thù chung
là Cộng Sản, các tổ chức chính trị và giáo phái không đạt được sự
đoàn kết cần thiết. Màu sắc tôn giáo, địa phương chi phối nặng nề,
khiến phần đông hữu danh vô thực. Nguy hiểm nhất là tệ nạn sứ quân.
Dĩ nhiên, phe Việt
Minh không chịu bó tay. Đài phát thanh Việt Minh không ngừng đả kích
những tên “Việt Gian” đang âm mưu lập nên một “chính phủ bù nh́n tay
sai” chống lại chính phủ hợp pháp VNDCCH. Tại miền Nam, Nguyễn B́nh
(Nguyễn Phương Thảo) phát động chiến dịch khủng bố và ám sát. Đă có
lúc, Việt Minh nghĩ đến việc gửi Phạm Khắc Hoè sang Hong Kong thuyết
phục Bảo Đại. Và, khi công bố chính phủ đổi mới vào tháng 7/1947,
HCM vẫn liệt kê Bảo Đại như cố vấn tối cao.
Theo đúng kịch
bản, ngày 10/9/1947, Bollaert đọc diễn văn lần thứ hai tại Hà Đông.
Trong diễn văn này, Bollaert đưa ra khẩu hiệu mới: “Độc lập trong
tương trợ [L'Indépendance dans l'interdépendance].” Mục đích chính
không phải là hứa hẹn sẽ trao độc lập cho Việt Nam mà chỉ thỏa măn
đ̣i hỏi của người Việt bằng cách tạo một tiền lệ nhắc đến hai chữ
“độc lập”–từ năm 1945, Pháp chưa hề nhắc đến hai chữ “quốc cấm” này,
và chỉ có cặp Ramadier-Bollaert mới không sợ hăi chúng. Việc này sẽ
chứng tỏ tinh thần “cấp tiến” của Paris.(
71)
Những đề nghị
của Bollaert cũng được cân nhắc sao cho HCM không thể chấp nhận
được; và như thế, tạo lư do chính đáng để phát động chiến dịch mùa
khô 1947 sắp tới nhằm cắt đứt trục tiếp vận của Việt Minh từ Hoa
Nam, tiêu diệt lực lượng vơ trang Việt Minh, và bắt sống HCM cùng
những cán bộ lănh đạo.(
72)
Diễn văn của
Bollaert cũng mở cửa cho Bảo Đại. Mặc dù chẳng trọng vọng ǵ cựu
hoàng, Pháp miễn cưỡng chấp nhận cho Bảo Đại về nước cầm đầu một
chính phủ thống nhất chống Cộng. Bollaert hy vọng rằng việc đả bại
Việt Minh sẽ khiến Bảo Đại bớt cứng rắn trong những điều kiện hợp
tác.( 73)
Ngày 18/9–tức 4
ngày sau cuộc biểu t́nh rầm rộ ở Sài G̣n mời Bảo Đại về nước–Bảo Đại
ra tuyên cáo chấp nhận sự ủy thác của quốc dân và sẵn sàng thương
thuyết. Ngày 20/9, cựu hoàng nói sẵn sàng gặp đại diện Pháp ở Hong
Kong hay Đông Dương. Theo Giám đốc Mật Thám Đông Dương, Perrier, nói
với Lănh sự Mỹ tại Sài G̣n ngày 22/9, Bảo Đại đă đồng ư thương
thuyết, nhưng tạm tŕ hoăn để khỏi mang tiếng do Pháp dựng lên. Pháp
chẳng kỳ vọng ǵ ở Bảo Đại, chỉ mong Bảo Đại sẽ có một số người ủng
hộ. Sợ rằng Bảo Đại khó lôi kéo số lớn người quốc gia trong hàng ngũ
HCM. Vậy mà Bảo Đại đ̣i hỏi độc lập rộng răi hơn những ǵ Bollaert
đă hứa.( 74)
Ngày 29/9/1947,
Lê Văn Hoạch từ chức. Hai ngày sau, 1/10, Nguyễn Văn Xuân–mới từ
Pháp về ngày 15/9–được Hội Đồng Tư Vấn Nam kỳ ủy thác lập chính phủ
lâm thời. Một tuần sau, Xuân công bố danh sách chính phủ Lâm thời
Nam Phần.(
75)
Đây là bước chủ yếu để
trao quyền thống nhất lănh thổ cho Bảo Đại.
C. CHIẾN DỊCH MÙA
THU 1947 (LÉA-CEINTURE):
Ngày 7/10, Pháp mở
chiến dịch “Léa” (10-11/1947) tấn công Việt Bắc. Léa là tên một ngọn
đèo cao 1,362 mét trên đường số 3, giữa Nguyên B́nh (Cao Bằng) và
Bắc Kạn. Lực lượng mũi nhọn là các toán biệt kích Dù được thả xuống
tỉnh lỵ Bắc Kạn và thị trấn Chợ Mới, nhằm chộp bắt cơ quan đầu năo
của chính phủ HCM. Tuy nhiên, HCM đă sớm di tản đến một khu vực
khác. Trường Chính Đặng Xuân Khu đang chủ tọa một buổi họp tại Bắc
Kạn trốn xuống hầm trú ẩn. Chỉ có Nguyễn Văn Tố, Bộ trưởng không bộ
nào, bị bắt và t́nh nghi là chính HCM. Ngoài ra, c̣n có phụ tá của
Lê Văn Hiến, Bộ trưởng Tài chính, cùng một số nhân viên thứ hạng
khác.
Ngày 7/10, Pháp cũng
chiếm được Tong và Sơn La. Nhưng hai mũi chủ lực Pháp gồm một cánh
thiết giáp có Bộ binh tùng thiết di chuyển từ Lạng Sơn lên Cao Bằng
trên đường số 4, dưới quyền Trung tá Beaufré; và một đoàn giang hạm,
mang theo hai tiểu đoàn Bộ binh, do Communal chỉ huy, từ Hà Nội
ngược sông Hồng lên sông Lô, rồi sông Gầm. Hai cánh quân này sẽ như
hai gọng ḱm vây chặt an toàn khu Việt Minh, phá hủy đài phát thanh,
các kho tàng, tiêu diệt chủ lực, và yểm trợ việc thiết lập các tiền
đồn dài theo biên giới để cắt đứt đường tiếp vận của Trung Hoa. Điểm
hẹn là Đài Thị, đông bắc Chiêm Hoá 12 cây số.
V́ mực nước sông Hồng
lên cao, hai ngày sau, cánh quân hỗn hợp thủy-bộ của Đại tá Commumal
mới từ Hà Nội ngược sông Hồng lên sông Lô, hướng về Tuyên Quang.
Trong khi đó Nhảy Dù tiếp tục truy kích lănh đạo Việt Minh. Ngày
9/10, Tướng Salan thả thêm 300 quân Nhảy Dù ở phía Đông Nam Cao
Bằng, tăng cường cho lực lượng cơ giới của Beaufré. Một chiếc Junker
52 bị bắn hạ. Đại tá Lambert, Tham Mưu Phó của Salan, cùng 10 sĩ
quan tùy tùng bị tử nạn. Việt Minh tịch thu được toàn vẹn kế hoạch
hành quân Lea, và 4 ngày sau chuyển về Bộ Tổng Tư lệnh của Vơ Nguyên
Giáp. Ngày 13/10, Nhảy Dù Pháp chiếm Bắc Kạn, Cao Bằng; 20/10, chiếm
Yên Báy; 21/10, chiếm Chapa; và 30/10, chiếm Lào Kay.
Ngày 20/11/1947, Salan
mở thêm chiến dịch Ceinture [Ṿng Đai hay Thắt Lưng]. Đây là giai
đoạn II của chiến dịch Việt Bắc. Chiến dịch này nhằm lùng bắt cho
bằng được cơ quan đầu năo của Việt Minh (tại khu vực núi đá Đ́nh Cả)
và phá nát căn cứ địa trong khu vực tứ giác Tuyên Quang-Thái
Nguyên-Việt Tŕ-Phủ Lạng Thương. 9 tiểu đoàn từ Hải Dương tiến lên
tảo thanh phía Đông, Đông Bắc và chính Bắc Hà Nội. Đồng thời lập thế
cản để đón đường các đơn vị từ phía rút Bắc về.
Ngày 19/12/1947,
Chiến dịch mùa Thu của Salan chấm dứt. Mặc dù có những thắng lợi
đáng kể, Salan không đạt được mục tiêu chiến lược. 60,000 quân Pháp
cùng giang hạm, không quân và thiết giáp chỉ có thể tịch thu và phá
hủy một số kho tàng của Việt Minh cùng ba trạm phát tuyến. Mục tiêu
chính, tức toàn bộ chính phủ HCM, đều chạy thoát. Đài phát thanh
Việt Minh tiếp tục hoạt động. Trong khi đó, những đợt phản công của
Việt Minh gây tổn thất đáng kể cho lực lượng Nhảy Dù Pháp.(
76)
Đáng sợ hơn nữa,
từ ngày 12/10, HCM ra lệnh “tiêu thổ kháng chiến.” Làng mạc bị thiêu
hủy. Đường xá, cầu cống bị phá hoại. Nền kinh tế quốc gia ngày một
phá sản. Qua đầu năm 1948, tuyến giao thông từ Lào Kay tới Cao Bằng
của Việt Minh trở lại t́nh trạng tự do như cũ.(
77)
Tại miền Nam,
việc điều quân Pháp ra Bắc tạo cơ hội cho Việt Minh tăng gia hoạt
động. Mặc dù Việt Minh không tạo được chiến thắng lớn nào, những vụ
phá hoại đồn bót, cầu cống, ám sát, thủ tiêu diễn ra khắp nơi. Hai
vụ ám sát gây tiếng vang nhất là cái chết ngày 10/10/1947 của Nguyễn
Văn Sâm (1898-1947) tại Sài G̣n và Trương Đ́nh Tri ở Hà Nội.(
78)
D. THỎA ƯỚC HẠ LONG
6-7/12/1947:
Như mũi tên đă rời
khỏi giây cung, thí nghiệm Bảo Đại tiếp tục chu tŕnh tiến hoá. Báo
chí Paris nhập cuộc. Ngày 18/11/1947, Le Monde đăng bài của André
Blanchet, đề nghị trả độc lập cho một nước Việt Nam độc lập dưới
quyền lănh đạo của Bảo Đại.
Các đoàn thể, tổ
chức chống Cộng người Việt cũng rầm rộ chuẩn bị đón Bảo Đại về nước.
Quan trọng hơn, Bollaert quyết định gặp Bảo Đại để thương thuyết.
Ngày 6-7/12/1947, hai bên gặp nhau ở Hạ Long. Bollaert kư với Bảo
Đại một tạm ước [protocol], theo đó, Bảo Đại sẽ trở lại Đông Dương
thành lập chính phủ thống nhất ba miền. Việt Nam sẽ được trao trả
độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp. Về ngoại giao, Pháp sẽ chịu trách
nhiệm, nhưng sẽ đưa viên chức Việt vào ngạch ngoại giao. Về quốc
pḥng, Việt Nam có quân đội riêng, nhưng quân đội này sẽ tham chiến
trong khối LHP. Quan trọng nhất là mật ước Pháp sẽ ngưng thương
thuyết với HCM.(
79)
Ngày 12/12, Bollaert
về Pháp báo cáo. Ba ngày sau, 15/12, Paris tuyên bố cho Bollaert
“toàn quyền hành động và thương thuyết cần thiết để tái lập hoà b́nh
và tự do tại Việt Nam.” Bản tuyên cáo này nhấn mạnh rằng v́ HCM đă
bác bỏ đề nghị của Bollaert trong diễn văn ngày 10/9 tại Hà Đông,
Pháp đă ngưng mọi nỗ lực thương thuyết với Việt Minh. Bốn ngày sau
nữa, 19/12, Tướng Xuân qua Hong Kong yết kiến Bảo Đại. Ngày 23/12,
chính phủ Pháp lại ra tuyên cáo là thể theo lời yêu cầu của Paul
Coste-Floret, Bộ trưởng Pháp quốc Hải ngoại, Bollaert được phép xúc
tiến việc thương thuyết với tất cả các phe phái ở Việt Nam.
Trong khi đó, chính
phủ Truman bắt đầu lo ngại về sự sụp đổ của chế độ Tưởng Giới Thạch
ở Trung Hoa lục địa. Tướng Marshall được gửi qua Trung Hoa, hy vọng
t́m một giải pháp chính trị. Tuy nhiên, Mao Trạch Đông và Đảng Cộng
Sản Trung Hoa đă quyết định ngả theo Nga, công kích mănh liệt chính
sách Mỹ. Bầu không khí chiến tranh lạnh khiến Mỹ chú tâm hơn đến
Đông Dương, trực tiếp ủng hộ cuộc tái xâm lăng Việt Nam của Pháp.
Ngày 29/12/1947,
báo Life đăng bài “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất] của
William C. Bullitt, cựu Đại sứ Mỹ tại Pháp và Liên Xô, cổ vơ việc
trao trả độc lập cho Việt Nam theo kiểu Philippines; giao phó cho
người Việt quốc gia chân chính [true nationalists] trách nhiệm lôi
cuốn những phần tử quốc gia trong hàng ngũ Việt Minh và tập sự cai
quản đất nước. Mặc dù không nhắc đến Bảo Đại, và cũng chỉ đăng h́nh
Bollaert cùng HCM, “phần tử quốc gia” mà Bullit nhắc đến được diễn
giải như Bảo Đại. Thực ra, Bullitt chỉ đề nghị duy tŕ một chế độ
chống Cộng thân hữu ở Đông Dương.(
80)
Từ ngày 7/1/1948, Bollaert và
Bảo Đại lại bắt đầu gặp nhau tại Geneva để thảo luận điều kiện hợp
tác. Nhưng hai bên không đạt được kết quả nào. Một mặt, v́ mặc cảm
trước sự công kích, chửi rủa tục tằn của hệ thống tuyên truyền Việt
Minh Cộng Sản, Bảo Đại nói không thỏa măn với những điều thỏa thuận
tại Hạ Long, và đ̣i nhiều nhượng bộ hơn. Mặt khác, Bảo Đại không tin
tưởng Bollaert, và lo ngại ḿnh đang trở thành con cờ của Pháp trong
việc hoà đàm với Việt Minh. Bởi thế, thương thuyết tạm ngưng sau
ngày 12/1.
Để trấn an Bảo
Đại, ngày 29/1/1948 Pháp bắt giam Blokov Trần Ngọc Ranh, trưởng phái
đoàn VM ở Paris. Hôm sau, 30/1, Bollaert tuyên bố là Pháp nhất định
không thương thuyết với Việt Minh nữa. Nhờ vậy, hai bên lại bắt đầu
nói chuyện ngay tại Paris từ 5 tới 10/2/1948. Nhưng Bảo Đại vẫn c̣n
do dự chưa muốn về nước. Sau khi ghé ngang Cannes, Bảo Đại qua
Geneva, và tuyên bố sẽ về lại Hong Kong vào tháng 3/1948, đồng thời
hủy bỏ cuộc họp dự trù ngày 13/2/1948 (tức mồng 4 Tết Mậu Tư).(
81)
E. “KHO VŨ KHÍ CỦA
THẾ GIỚI TỰ DO”:
Từ năm 1947, Ngô Đ́nh
Diệm đă liên lạc với viên chức Mỹ, xin viện trợ. Đây chẳng phải là
sáng kiến mới mẻ ǵ của họ Ngô. Hầu hết chính khách Việt đều nhận rơ
vị thế siêu cường của Mỹ, nhưng không có đường giây móc nối như anh
em họ Ngô.
Ngay chính HCM
cũng đă hoạt động cho Sở t́nh báo chiến lược [OSS] Mỹ trong hai năm
1944-1945, và lực lượng vơ trang đầu tiên của Việt Minh được OSS Mỹ
trang bị và huấn luyện. HCM c̣n được đặt cho bí danh Lucius.
Điều khiến Mỹ e ngại, và cuối cùng theo đuổi chính sách “hands-off”
[không nhúng tay] khi Pháp tái xâm lăng Việt Nam là dĩ văng QTCS của
HCM. Việc HCM quyết định giải tán Đảng CSĐD từ ngày 11/11/1945 vẫn
chưa đủ thuyết phục các viên chức Mỹ–vốn chủ trương chỉ có Âu Châu
mới đáng chú tâm hàng đầu.(
82) Dẫu vậy, trong hai năm
1945-1946, chính phủ Truman vẫn dành cho HCM và Việt Minh đôi chút
thiện cảm. Có lẽ nhờ sự can thiệp của Mỹ, Moutet đă đồng ư kư modus
vivendi ngày 14/9/1946 cho HCM an toàn trở lại Việt Nam vào hạ tuần
tháng 10/1946. Hơn một tháng sau, dù biết rơ liên hệầ giữa HCM với
QTCS, Bộ Ngoại Giao Mỹ vẫn chỉ thị cho đặc sứ Moffat t́m cách gặp
HCM để giải quyết sự khác biệt Việt-Pháp bằng đường lối ngoại giao.(
83)
Sau khi Bollaert kư
thông cáo chung Hạ Long (6-7/12/1947) với Bảo Đại, ngày 21/12, Ngô
Đ́nh Diệm cùng Trần Văn Lư lên Hong Kong gặp cựu hoàng. Trước khi
qua Geneva ngày 24/12, Bảo Đại ủy Diệm về nước tham khảo ư kiến các
phe phái để thành lập chính phủ thống nhất. Diệm từ chối v́ những
nhượng bộ của Pháp quá ít. Ngày 26/12, Diệm trở lại Sài G̣n chờ đợi
t́nh thế chuyển biến.
Điều ít ai biết
là phía sau hậu trường, ngày 24/12/1947, Diệm bí mật gặp Tổng lănh
sự Mỹ tại Hong Kong, tŕnh bày về nội t́nh VN và giải pháp Bảo Đại.
Mục đích chính của “Giệm,” theo George D. Hopper, là xin viện trợ
Mỹ. Hopper chỉ ghi nhận mà không hứa hẹn ǵ.(
84)
Tại Việt Nam, đa
số các chính khách chống Cộng đă tạm thời thỏa măn. Ngày 25/12, mặc
dù không ưa Thủ tướng Xuân, Lê Văn Hoạch thành lập Việt Nam Quốc Gia
Liên Hiệp để ủng hộ “giải pháp Bảo Đại.”(
85)
Riêng Ngô Đ́nh
Diệm, qua đường giây Giám mục Thục, tổ chức một nhóm chống Cộng thân
Mỹ. Tại miền Bắc, Diệm có những thân hữu như Trần Trung Dung, Nguyễn
Xuân Chữ, Nguyễn Đ́nh Thuần, v.. v... Tại miền Trung, Trần Văn Lư
thành lập Đảng Xă Hội Công Giáo. Tại miền Nam, Diệm được Nguyễn
Phước Hậu, Bertin, Nguyễn Bửu, Trần Tử Hoàng, v.. v... yểm trợ.(
86) Tuy nhiên, vai tṛ Diệm bị
lu mờ trước những khuôn mặt được Pháp chọn lựa. Một trong những lư
do là thành tích hợp tác với Nhật của Diệm.
Chuyến viếng
thăm Sài G̣n ngày 25/5/1948 của Hồng y Francis Spellman mở thêm đầu
mối liên hệ với Mỹ cho anh em Diệm. TGM Sài G̣n, Cassaigne, mời Giám
mục Thục tham dự buổi tiếp đón Spellman.(
87) Trong tháng 6/1948, Trần
Văn Lư chính thức thành lập Đảng Xă Hội Công Giáo, do Thục bảo trợ.
Diệm được coi như lănh tụ tối cao của đảng này.(
88)
Tại Đà Lạt, Nhu cùng
nhóm Linh mục Parrell tụ họp hạt nhân đầu tiên của chủ thuyết “Nhân
vị.” Thuyết này dựa theo thuyết Personalisme [Nhân vị] của Emmanuel
Mounier, đặt trên cơ bản thần quyền Ki-tô giáo.
F. CHÍNH PHỦ LÂM THỜI & THỎA
ƯỚC HẠ LONG II (5/6/1948):
Trong khi đó, tại nội
địa, các chuẩn bị cho Bảo Đại HCMi hương vẫn tiếp tục. Ngày
27/1/1948, Cao Đài và Hoà Hảo kư hiệp ước tương trợ. Ngày 8/2, Việt
Nam Quốc Gia Liên Hiệp [Rassemblement National Vietnamien] họp ở
Huế.
Sau khi chính phủ
Ramadier khẳng định vẫn tin cậy Bollaert trong việc thương thuyết
với Bảo Đại, cuối tháng 2/1948, Diệm lại qua Hong Kong.
Ngày 14/3, Bảo Đại về tới Hong
Kong. Sau đó, tiếp kiến Chủ tịch các Hội Đồng An Dân Hà Nội và Hội
Đồng Chấp Chánh Huế. Tướng Xuân và Lê Văn Hoạch cùng những người
khác yêu cầu Bảo Đại xúc tiến nhanh hơn việc thương thảo. Xuân cũng
đồng ư thống nhất 3 miền.
Đại diện Hoà
Hảo-Dân Xă là Trần Văn Soái, Lê Văn Kính (tức Lương Văn Tường, Lương
Trọng Tường hay Kinh Lư Tường), Phan Khắc Sửu và Nguyễn Hữu Đạt (?)
qua Hong Kong gặp Bảo Đại từ ngày 19 tới 26/3/1948. Bởi thế, Bảo Đại
sai Diệm về Sài G̣n báo cho Bollaert biết là “Nguyện vọng của dân
Việt vượt quá những điều kư kết ở Hạ Long.”(
89)
Mặt khác, ngày
26/3, Bảo Đại viết thư cho đại diện những đoàn thể chính trị và tôn
giáo, khẳng định chấp thuận việc thành lập chính phủ lâm thời trung
ương để thương thuyết với Pháp. Cuối tháng 4/1948, Xuân qua Hồng
Kông gặp Bảo Đại; được Bảo Đại chấp thuận cho lập chính phủ trung
ương. Đầu tháng 5/1948, Paris phê chuẩn việc Xuân làm Thủ tướng, và
sẽ trực tiếp kư Hiệp ước với Bollaert, với sự “chứng kiến” của Bảo
Đại.(
90)
Ngày 15/5, Bảo
Đại gửi thông điệp cử Xuân đứng ra lập Chính phủ lâm thời.(
91) Năm
ngày sau, 20/5, một nhóm 37 người, có cả Phạm Công Tắc, họp Đại hội
tại Sài G̣n, Ô quyết nghị “Vâng thánh ư” lập Chính phủ Trung ương
lâm thời Việt Nam. Tại Đại hội này, các đại diện ra tuyên cáo: Việt
Nam là một nước đồng minh mà không phải “liên hiệp” [associés]; VN
có quyền gửi các lănh sự ngoại giao; VN có những nhân viên ngoại
giao ở hải ngoại; VN có thể được các nước ngoài nh́n nhận, mà như
thế được t́nh trạng “dominion” như của Bri-tên.(
92)
Ngày 21/5/1948,
chính phủ Trung ương thành h́nh. Hai ngày sau, 23/5, Nguyễn Văn Xuân
kư Sắc lệnh số 1, thành lập “Chính phủ Trung ương lâm thời Việt
Nam,” do Xuân “chủ tọa.”( 93) Ngày này, Bollaert và Xuân trao đổi
văn thư về việc thành lập chính phủ trên.
Bốn ngày sau,
27/5, Xuân tŕnh diện chính phủ lên Bảo Đại tại Hong Kong.(
94)
Ngày này, Robert Schumann “ghi nhận” sự thành lập chính phủ Xuân.
Ngày 1/6/1948, Xuân công bố
danh sách chính phủ.
(95)
Ngày 3/6, khi
Tướng Xuân ra trước Hội đồng Tư Vấn Nam Kỳ, yêu cầu được yểm trợ
trước khi đi Hạ Long, Đảng Quốc Gia Độc Lập, mới thành lập, công
kích Xuân là bán đứng Nam Kỳ. Dẫu vậy, ngày 5/6/1948, Bollaert và
Xuân cùng các đại diện chính quyền ở ba miền (Nghiêm Xuân Thiện,
Đặng Hữu Chí [Bắc], Phan Văn Giáo, Nguyễn Khoa Toàn, Đinh Xuân Quảng
[Trung], và Trần Văn Hữu, Lê Văn Hoạch [Nam]) gặp nhau trên chiến
hạm Duguay-Trouin, “dưới sự chứng kiến” của “đế “ Bảo Đại. Sau đó ra
Tuyên ngôn chung (Déclaration Commune) 3 điểm; theo đó, điều 1 xác
định: “Nước Pháp long trọng nh́n nhận sự độc lập của nước Việt Nam.
Từ rày về sau, việc tự do thực hiện nền thống nhất quốc gia tùy nơi
nước Việt Nam. Về phần ḿnh, nước Việt Nam tuyên bố chịu gia nhập
vào Liên Hiệp Pháp với danh nghĩa một quốc gia đồng hội với nước
Pháp.”( 96)
Ngoài Tuyên Ngôn
Chung nói trên, c̣n có một phụ bản mật, với nội dung tương tự như
mật ước ngày 7/12/1947. Bảo Đại, Nguyễn Văn Xuân và Bollaert cũng ra
ba tuyên cáo riêng lập lại những điều căn bản trên.(
97) Ngay sau đó, Bảo Đại rời
Hong Kong qua Paris, tiếp tục việc thảo luận.
Ít nữa th́ “Hiệp
ước” Hạ Long II cũng mang lại vài tin vui. Điều khiến Pháp hài ḷng
nhất là ngày 17/6/1948, Lê Văn “Bảy” Viễn, thủ lănh B́nh Xuyên, ly
khai Việt Minh, mang quân về hợp tác với Bảo Đại. Ngày 1/8/1948,
Xuân bổ nhiệm Bảy Viễn làm Đại tá tạm thời, tùng sự dưới quyền Trần
Văn Hữu.(
98)
Để làm vui ḷng giáo
phái Ḥa Hảo, Thủ tướng Xuân cử Lê Công Bộ làm Thứ trưởng Nội vụ, và
ngày 26/6/1948, phong “Năm Lửa” Trần Văn Soái lên Thiếu tướng thực
thụ.
G. HIỆP ƯỚC ELYSEE
(8/3/1949):
Mặc dù đă kư Hiệp ước
Hạ Long II, dư luận Pháp vẫn chưa muốn trao trả độc lập và thống
nhất thực sự cho Việt Nam. Bollaert rất bất măn, không đồng ư với đề
nghị “chấp nhận ngầm” mà Coste-Floret đưa ra ngày 17/7/1948. và
tuyên bố chỉ trở lại Việt Nam nếu Quốc Hội Pháp công nhận thỏa ước
này. Dù việc sát nhập Nam Kỳ trở lại với lănh thổ Việt Nam cần một
cuộc trưng cầu dân ư; nhưng hoàn cảnh lúc đó không dễ tổ chức trưng
cầu dân ư. Hơn nữa, chính phủ Robert Schumann ngần ngại chưa dám ném
gói chất nổ Đông Dương ra trước Quốc Hội giữa lúc đang biểu quyết
ngân sách. Bollaert c̣n lo ngại Bảo Đại mải mê vui hưởng lạc thú ở
Âu Châu, không muốn trở lại Đông Dương, nên yêu cầu Mỹ can thiệp.
Ngoại trưởng
Marshall cũng đặc biệt quan tâm, khuyên Thủ tướng Pháp rằng cuộc
chiến đă kéo dài gần ba năm, và Pháp khó đạt chiến thắng quân sự.
Cuộc chiến Việt Nam đang làm suy giảm nền kinh tế Pháp và liên hệ
của phương Tây với phương Đông. Tiếp tục cuộc biểu diễn những h́nh
nộm mà Pháp đă sản xuất suốt hai năm qua chỉ giúp HCM mạnh hơn, đưa
đến sự xuất hiện một quốc gia do Cộng Sản thống trị, ngả theo Liên
Xô. Để tránh điều này, phải cho chính phủ trung ương hiện nay, hoặc
bất cứ một chính phủ chống Cộng nào, một cơ hội thành công bằng
những nhân nhượng có sức hấp dẫn đại đa số những người không Cộng
Sản. Mặc dù vấn đề thống nhất ba kỳ cần Quốc Hội Pháp phê chuẩn,
nhưng Schumann cũng cần công khai yểm trợ chữ kư của Bollaert.
(99)
Trong khi đó,
Bảo Đại không chứng tỏ dấu hiệu nào muốn về nước ngay. Có nhiều
nguyên do. Trước hết là phản ứng dữ dội của phe Việt Minh Cộng Sản.
Ngay trong ngày 7/6, HCM đă gay gắt phản đối việc “bọn bù nh́n”
[fantoche] kư kết ḥa ước với bất cứ nước ngoài nào. Cơ quan tuyên
truyền Việt Minh cũng phát động chiến dịch bôi nhọ từ Bảo Đại tới
những người khác trong chính phủ Xuân. Việt Minh c̣n gia tăng hành
động khủng bố –kể cả chôn sống–để ngăn chặn phong trào về tề.(
100)
Xuân và các cộng sự viên cũng bị lên án tử h́nh. V́ thế, Bảo Đại vẫn
nhấn mạnh đ̣i hỏi thống nhất lănh thổ và độc lập thực sự.(
101)
Quan trọng hơn
cả là sự chống đối của thành phần bảo thủ Pháp.
Theo một viên chức Mỹ, tại QH các đảng
Cộng Sản, Gaullist và PRL chắc chắn sẽ chống đối. Số dân biểu Xă Hội
chống lại có lẽ không nhiều, mặc dù nghị quyết về vấn đề thương
thuyết với HCM đă thông qua. Có lẽ Schumann sẽ không đưa vấn đề ra
trước Quốc Hội, nhưng Bollaert th́ nhất quyết đ̣i Quốc Hội thảo
luận, hoặc sẽ từ chức. Bởi thế, nên cảnh giác chính phủ Schumann là
Pháp đang đối diện hai con đường: chấp nhận ngay nguyên tắc Việt Nam
độc lập trong khối Liên Hiệp Pháp và thống nhất ba kỳ; hoặc, sẽ mất
cả Đông Dương.(
102)
Giữa thời gian
này, Pháp bị khủng hoảng chính phủ. Schumann và rồi người kế vị là
André Marie (26/7-28/8/1948) bị đổ. Ngày 11/9, Henri Queuille được
cử lập chính phủ mới, với Schumann làm Ngoại trưởng, Ramadier nắm
Quốc Pḥng. Tháng 10/1948, Bollaert phải về nước. Ngày 20/10,
Queuille cử Léon Pignon làm Cao Ủy Đông Dương.(
103)
Pignon vội xúc tiến ngay việc thương thuyết với Bảo Đại, v́ áp lực
của Liên Bang Mỹ ngày một mạnh. Ngày 17/1/1949, Bộ Ngoại Giao Mỹ ngỏ
ư muốn thấy Pháp đi đến thỏa thuận với Bảo Đại hay bất cứ một “nhóm
quốc gia chân chính” nào khác có khả năng lôi kéo đa số dân chúng,
mà không thể yểm trợ một chính phủ bù nh́n, tách biệt khỏi dân
chúng, và sự hiện hữu chỉ dựa vào binh lực Pháp.
Ba ngày sau, 20/1/1949, Đại sứ Caffery
điện báo là Pignon tiết lộ đă đạt được các điểm căn bản với Bảo Đại,
chỉ chờ Quốc Hội Pháp phê chuẩn việc thống nhất Nam Kỳ sẽ chính thức
công bố giải pháp Bảo Đại. Chính phủ Pháp cũng đang nghiên cứu thời
điểm cho Bảo Đại hồi hương, và Quốc Hội sẽ thảo luận trước cuộc bầu
cử hàng tổng (canton) ngày 15/3/1949. Nếu chính phủ thay đổi lập
trường, hay Quốc Hội không phê chuẩn, Pignon sẽ từ chức (104)
Những chiến thắng liên
tiếp của Mao Trạch Đông tại lục địa khiến Pháp càng hối hả hơn trong
việc thực hành thí nghiệm Bảo Đại.
Ngày 22/1/1949, Tưởng Giới
Thạch từ chức, rồi bay ra Đài Loan. (Lư Tôn Nhân lên thay).
Đang điều đ́nh với Bảo Đại, ngày 24/1/1949 Pignon hối hả bay về Đông
Dương đối ứng t́nh thế mới. Đầu
tháng 2/1949, Đảng CSTH chiếm Bắc Kinh.
Biến cố này
khiến Pháp và Bảo Đại vượt nhanh qua những trở ngại kỹ thuật. Tối
17/2/1949, Bửu Lộc–Chánh văn pḥng của Bảo Đại, mới từ Cannes về
Paris–tiết lộ với Đại sứ Mỹ Caffery rằng Bảo Đại sẽ được Tổng thống
Vincent Auriol mời lên Paris kư Hiệp ước trong tuần sau, và trở về
Việt Nam bằng tàu chiến vào đầu tháng 4/1949.(
105)
Ngày 25/2, chính
phủ Pháp cũng tiết lộ với báo chí Paris nội dung thỏa ước với Bảo
Đại. Rồi, ngày 8/3/1949 Auriol và Bảo Đại trao đổi công hàm, theo đó
“Pháp long trọng công nhận” một nước Việt Nam độc lập và dân chúng
có quyền tự do quyết định sự thống nhất lănh thổ của ḿnh, theo tinh
thần Hiệp ước Hạ Long, kèm theo một phụ bản các điều thỏa thuận với
Pignon.(
106)
Phía sau hậu
trường, Bộ trưởng Hải ngoại Coste-Floret vận động Quốc Hội Pháp biểu
quyết cấp thời một sắc luật thành lập một Hội đồng Lănh thổ Nam kỳ
(Assemblée Territoriale de Cochinchine, HĐLTNK), gồm 12 đại diện
Pháp và 24 đại diện Việt, để quyết định số phận Nam Kỳ. Viên chức
Pháp cũng giữ kín nội dung “Hiệp ước Elysée” tới ngày Bảo Đại về
nước, dự trù vào 25/4/1949 để có một “kích xúc tâm lư” (choc
psychologique).(
107)
Ngay ngày 9/3,
Quốc Hội Pháp bắt đầu thảo luận về Thỏa ước Elysée và vấn đề Nam Kỳ.
Báo Franc-Tireur của Đảng Xă hội Gaullist đăng một lá thư đề ngày
17/1/1949 của Guy Mollet gửi Thủ tướng Queuille: Bác giải pháp Bảo
Đại, và kêu gọi thương thuyết với HCM. Theo dân biểu Jean Guillon,
“Giải pháp quân sự không thể thắng; Bảo Đại chẳng có một chút uy thế
nào ở Việt Nam. Việt Nam đứng sau lưng HCM. Trước tiên phải thương
thuyết với HCM.”(
108)
Hôm sau, 10/3,
nhiều dân biểu Cộng Sản và Gaullist tiếp tục phản đối. Dân biểu
Guillon cho đó là “sự sao chép vụng về của Hiệp ước [sơ bộ]
6/3/1946, chỉ là một thứ h́nh thức (facade).” Việc làm của
Coste-Floret, theo Guillon, “thiếp vàng lại một ông vua mất chức,
được biết nhiều ở các sân golf tại Cannes hay những tay bồi rượu ở
các hộp đêm hơn là trong lớp nông dân.”(
109)
Guillon c̣n cho rằng
chính phủ Pháp đă chịu áp lực của Mỹ, đề cập đến chuyến thăm Đông
Dương của Bullit, cựu đại sứ Mỹ ở Paris, vào tháng 9/1948; rồi cảnh
cáo rằng thanh niên Pháp đang bị giết để bảo vệ quyền lợi kinh tế
của My.ờ Theo Guillon: “Thực ra, Chủ tịch HCM không làm hài ḷng ông
Bullit, v́ trong thời gian Nhật đầu hàng, Chủ tịch HCM Chí Minh đă
từ chối những đề nghị do Tướng Gallagher nhân danh Oat-shinh-tân đưa
ra.” Guillon cũng dẫn lời của học giả Cuisinier, trên báo Revue
socialiste [Tạp chí Xă hội] số tháng 7/1948, nhận định về HCM:
Chủ tịch HCM Chí Minh
đă qui tụ được những người quốc gia không đảng phái cũng như một số
đông những người Ki-tô giáo yêu nước. Chống lại ông ta chỉ có cựu
quan lại, cựu công chức, vài trưởng giả giàu có–mà không phải tất cả
họ–và những cá nhân, dưới chế độ Nhật cũng như Pháp, đă nghĩ đến sự
gia tăng quyền lợi bản thân mà họ có thể rút ra từ phe này hay phe
kia, dù không v́ bất cứ phe nào, trước khi nghĩ đến tổ quốc hay việc
bảo vệ một lập trường chính trị.” (110)
Guillon c̣n dẫn lời
cựu Thủ tướng Léon Blum, trên báo Le Populaire ngày 6/8/1947:
“Thưa vâng, người ta
phải thương thuyết với những đại diện đích thực (authentiques) và
xứng đáng (qualifiés) của dân chúng Việt Nam, bất kể họ là ai, bất
kể chính kiến hay cá nhân nào. Vâng, HCM Chí Minh chưa chết, dù ai
có nói ǵ đi nữa, ông ta c̣n sống, đă tiếp kiến ông Paul Mus, đă gửi
cho tôi một công hàm ít ngày trước, là đại diện chính thức và xứng
đáng của dân chúng Việt Nam.”( 111)
Dẫu vậy, ngày 11/3,
Quốc Hội Pháp chấp thuận lập Hội đồng Lănh thổ Nam Kỳ [HĐLTNK] với
số phiếu 387/193. Dự thảo luật này chuyển lên Thượng viện (Conseil
de la République) để biểu quyết ngày hôm sau. Ngày 12/3, Thượng Viện
Pháp, với số phiếu 185/97, chấp thuận với vài sửa đổi. Sau đó, gửi
trả lại Hạ Viện. Hạ Viện chấp thuận, và cho in trên Công báo [JOF]
ngày 24/3/1949. Thủ tục này dựa theo Điều thứ 75 của Hiến pháp: Một
phần lănh thổ của Cộng Hoà Pháp hoặc Liên Hiệp Pháp có thể biến đổi,
do Luật của Quốc Hội, sau khi đă tham khảo với Hội nghị địa phương
và Hội đồng Liên Hiệp Pháp. Như thế, theo Điều 27 của Hiến pháp,
không cần phải trưng cầu dân ư. Ngày 14/3/1949, Pháp ban hành Luật
tổ chức HĐLTNK. Hội đồng gồm 16 Pháp (12 nghiệp đoàn, thương gia; 4
tự do) và 48 Việt (8 Sài G̣n, Chợ Lớn; 40 cho các tỉnh). Ngày 23/3,
ban hành Nghị định áp dụng luật ngày 14/3/1949 tại Đông Dương. Ngày
10/4, HĐLTNK bầu xong, gồm 54 thành viên, 14 Pháp và 40 Việt. Ngày
24/4, HĐLTNK đồng ư tái nhập Nam Kỳ vào Việt Nam.( 112) Bảo Đại lên
đường về nước. Bốn ngày sau, 28/4, Bảo Đại từ Singapore về tới Sài
G̣n, nhưng lên thẳng Đà Lạt.( 113)
Măi tới ngày
10/6/1949–sau khi Quốc Hội Pháp chấp thuận cho Nam Kỳ sát nhập vào
Việt Nam (3/6/1949) và Tổng thống Auriol ban hành Luật công nhận
Việt Nam thống nhất (4/6/1949), đồng thời báo chí Pháp công bố thư
Auriol gửi Bảo Đại khẳng định QH Pháp đă thông qua luật sát nhập Nam
Kỳ vào Việt Nam; như thế “độc lập và thống nhất của Việt Nam, trong
Liên Hiệp Pháp, đă trở thành sự thực” (6/6/1949)–Bảo Đại mới xuống
Sài G̣n trao đổi văn kiện với Pignon và ra mắt quốc dân.
Trong thời gian
chờ đợi, Bảo Đại vận động xin viện trợ Mỹ. Ngày 2/6, Đại sứ Bruce từ
Paris điện báo rằng “Quốc trưởng” Bảo Đại muốn được Mỹ nh́n nhận
trên thực tế (de facto recognition), viện trợ kinh tế trực tiếp, và
giúp vũ khí qua trung gian Pháp (50,000-60,000 súng). Cũng muốn Mỹ
gửi đến những phái đoàn thiện chí, và nâng Toà Tổng lănh sự lên hàng
Phái bộ (Legation).(
114) Tuy nhiên, đa số chuyên
viên Mỹ đều cho rằng Thỏa ước Elysée “quá ít, quá chậm.”
Pháp cần rộng răi hơn nữa trong
việc diễn dịch và thi hành thỏa ước, v́ giải pháp Bảo Đại chỉ có
khoảng 50-50 thành công. Giám Đốc Tây Âu vụ, Douglas MacArthur II,
khẳng định các quan điểm cho rằng Mỹ sẽ đổ viện trợ vào Đông Dương
để ngăn chặn vùng này lọt vào tay CS, hay quân viện Mỹ sẽ giúp Pháp
đạt một chiến thắng quân sự, hoàn toàn sai lầm và nguy hiểm.(
115)
Bởi thế, mặc dù
trong thông điệp chúc mừng Bộ Ngoại Giao Pháp về Hiệp ước 8/3/1949,
Bộ Ngoại Giao Mỹ nhấn mạnh rằng “Dân tộc Việt Nam sẽ mắc phải một
lầm lỗi tai hại nếu không ủng hộ chính phủ thành lập qua Hoà ước
8/3/1949,” ngày 2/5, Ngoại trưởng Dean Acheson chỉ thị cho Tổng lănh
sự Abbott ở Sài G̣n: “Phải cố tránh gây sự hiểu lầm là Mỹ trên thực
tế nh́n nhận chế độ Bảo Đại.”(
116)
Ngày 7/10/1949, sau khi đă Mao
tuyên bố thành lập Cộng Ḥa Nhân Dân Trung Hoa, chính phủ Mỹ vẫn cảm
thấy chưa tiện công nhận chính phủ Bảo Đại.
Sự tŕ hoăn của
Mỹ phản ảnh sự khác biệt sâu đậm giữa Pháp và Mỹ. Đông Dương, với
Pháp, là quyền lợi chính trị, kinh tế và văn hóa. Với Mỹ, chiến lược
chống Cộng là bản căn. Buổi nói chuyện ngày 13/4/1949 giữa W. Walton
Butterworth, Giám đốc Viễn Đông vụ, và Charles S. Reed, Đông Nam Á
vụ, với Jean Daridan, Cố vấn Toà Đại sứ Pháp, phần nào phản ảnh tâm
ư các viên chức Mỹ. Khi Daridan đặt câu hỏi liệu Mỹ có yểm trợ Bảo
Đại hay chăng nếu sau một thời gian kế hoạch Bảo Đại chứng tỏ có
tiến bộ, Butterworth khẳng định chỉ muốn giúp những người chống
Cộng.( 117)
Ngày 10/5, Ngoại
trưởng Acheson chỉ thị cho Tổng Lănh sự Abbott: Mỹ muốn thí nghiệm
Bảo Đại thành công v́ chẳng có một lựa chọn nào khác. Đang chờ cơ
hội thuận tiện để công nhận Quốc Gia Việt Nam, cũng như viện trợ vũ
khí và kinh tế. Tuy nhiên, muốn Pháp có những nhượng bộ cần thiết
trước khi chiến thắng của Mao Trạch Đông tạo ảnh hưởng tại Đông
Dương. Với những người quốc gia, nếu Pháp nhân nhượng những điều cần
thiết, có thể thuyết phục họ rằng: 1/ mục đích yêu nước của họ có
thể thực hiện được qua sự thoả thuận Pháp-Bảo Đại; 2/ chính phủ Bảo
Đại đại diện đích thực cho Việt Nam v́ có thể bao gồm cả những phần
tử không Cộng Sản hiện đang ủng hộ chính phủ HCM; 3/ Bảo Đại là giải
pháp duy nhất bảo vệ Việt Nam trước những âm mưu xâm lấn (khuynh
đảo) của Trung Cộng. Cũng cần cảnh cáo Bảo Đại về sự nguy hiểm nếu
mời Cộng Sản tham gia chính phủ. Mối quan tâm của Mỹ là liệu chính
phủ Bảo Đại có thể tồn tại được hay chăng. Abbott không nên đi Đà
Lạt tiếp xúc Bảo Đại, nhưng có thể tiếp xúc không chính thức với
những người thân cận của Bảo Đại.(
118)
Ngày 20/5/1949,
Acheson c̣n chỉ thị Lănh sự Hà Nội William Gibson giải thích thêm
cho Thủ tướng Xuân những điểm sau: Nh́n vào quá khứ của HCM, không
thể có kết luận nào hơn rằng HCM là Cộng Sản, nếu (1) HCM không
tuyên bố cắt đứt liên hệ với Liên Xô và chủ thuyết Cộng Sản, và (2)
tiếp tục được báo chí Cộng Sản ca ngợi cũng như ủng hộ. Hơn nữa, Mỹ
không thấy khía cạnh quốc gia của HCM qua lá cờ đỏ sao vàng. Vấn đề
HCM vừa là Cộng Sản, vừa là quốc gia không đáng lưu tâm
(irrelevant). Tất cả những cán bộ Stalin ở các nước [cựu] thuộc địa
đều là người quốc gia. Sau khi đă đạt được mục đích quốc gia (tức
độc lập), mục tiêu kế tiếp sẽ là biến quốc gia thành phụ thuộc cho
mục đích Cộng Sản, và tận diệt không những chỉ người chống đối, mà
cả các phần tử bị nghi ngờ là không đúng đường lối.... Nếu mời HCM
và CS gia nhập chính phủ Bảo Đại, chỉ đ́nh hoăn việc Việt Nam trở
thành độc lập, hay một vệ tinh của Cộng Sản cho tới lúc thời cơ của
những người quốc gia bị kém sút. Dĩ nhiên, trên lư thuyết, có thể
thiết lập một chế độ Cộng Sản quốc gia như Yugoslavia [của Tito] tại
bất cứ vùng nào ở xa ṿng kiềm toả của Hồng quân Liên Xô. Nhưng Việt
Nam đang trong ṿng kiềm tỏa của Hồng quân Trung Hoa. Nếu Pháp đồng
ư thực hiện Thỏa ước Elysée một cách cấp tiến, việc quan trọng nhất
của Bảo Đại và Xuân là phải lôi kéo được sự ủng hộ của dân chúng.
Như trong trường hợp Trung Hoa, nước Mỹ không “bỏ rơi” (wrote it
off) chính phủ Thạch, mà chính những người quốc gia Trung Hoa yếu
kém quá mức và không có ư chí tranh đấu.(
119)
Chẳng hiểu có
sự tiến cử của Reed hay chăng–lúc này Reed đă về Ban Viễn Đông vụ ở
BNG–Bộ trưởng Hải Ngoại Coste-Floret cố thuyết phục Ngô Đ́nh Diệm
lập chính phủ, nhưng không thành công.
Diệm nêu lư do sợ giáo dân Ki-tô bị VM
thảm sát.(
120) Mối quan tâm này phần nào
chính đáng. Ngày Thứ Hai, 6/3/1949, t́nh báo Pháp báo cáo Việt Minh
triệu tập một buổi họp các cấp chỉ huy quân sự cấp trung đoàn tại
Đồng-Tháp-Mười, hoạch định kế hoạch tấn công trả đũa việc Bảo Đại
HCMi hương, tức vào dịp không trăng từ 22 tới 28 tháng 3. Hai ngày
sau, 8/3, Việt Minh thành lập Đặc khu Sài-g̣n/ Chợ-lớn, gồm các tỉnh
Gia-định, Chợ-lớn, và khu Đông-thành cũ. Ngày 26/4/1950, nhân cuộc
biểu t́nh chào mừng Bảo Đại HCMi hương tổ chức linh đ́nh tại Hà-nội,
Việt Minh ném lựu đạn, khiến một em bé tử thương. Theo Lănh sự
Gibson, Pháp kiều bắt đầu bán các cơ sở kinh doanh, chuẩn bị hồi
hương (121). Tuy nhiên, có thể chỉ là cách từ chối khéo của Ngô Đ́nh
Diệm, v́ họ Ngô đă có định hướng khác–đi t́m viện trợ Mỹ.
Ngày 1/7/1949, Bảo Đại
kư sắc lệnh số 1-CP công bố danh sách chính
phủ.( 122) Ngày 12/7, Bảo Đại về
Huế. Ngày 14/7, từ Huế, Bảo Đại hiệu triệu quốc dân. Hai ngày sau,
16/7, ra Hà Nội. Trong khi đó, ngày 15/7/1949, Giáo hoàng
Pius XII (1939-1958) ra lệnh “rút thông công” bất cứ ai có liên hệ
với Cộng Sản. Thánh lệnh này phần nào giải tỏa mối lo ngại của Ngô
Đ́nh Diệm, nhưng Diệm vẫn chưa chịu hợp tác với Bảo Đại. Trong khi
đó, các cộng đồng Ki-tô ngày một nghiêng về phía Thế giới Tự Do,
thắp Hồng “cuộc thánh chiến” chống Cộng Sản.
Ngày 21/9, Ngô Đ́nh
Diệm về Huế, sống ở nhà Ngô Đ́nh Cẩn (1911-1964), em trai áp út.
Ngày 22/11–trong khi Hồng quân Trung Cộng đang tiến sát dần tới biên
giới Việt-Hoa–Diệm rời Huế vào Sài G̣n, rồi Vĩnh Long, và Đàợ Lạt
(2/1950).
Tháng 3/1950,
Giám mục Lê Hữu Từ tại Phát Diệm phái Lê Quang Luật vào Nam yêu cầu
Diệm đừng “chùm chăn” và “ngang bướng” nữa, cần yểm trợ Bảo Đại,
nhưng không thuyết phục được Diệm.(
123) Ngày 9/4/1950, Tổng lănh
sự Mỹ Edmund Gullion, XLTV Đại sứ, báo cáo chính phủ Nguyễn Phan
Long sắp đổ và Trần Văn Hữu có thể lên thay. Gullion nghĩ rằng Pháp
hẳn muốn Diệm, nhưng Bảo Đại không đồng ư.
Giữa năm 1950, Ngô
Đ́nh Diệm có ư định thành lập một lực lượng thứ ba, thân Mỹ, chống
Pháp để lôi kéo những người bất măn trong hàng ngũ Việt Minh. Cuối
tháng 6/1950, tổ chức Phong Trào Quốc Gia Quá Khích ra đời ở Trung
và Nam Việt, có liên hệ với Diệm.
H. HỒ NGẢ THEO CỘNG
SẢN:
Từ năm 1947-1948, HCM
Chí Minh bắt đầu liên lạc chặt chẽ hơn với Đảng CSTH. Một trung đoàn
CSTH thuộc tỉnh Quảng Đông đă được HCM cho phép hoạt động tại vùng
Việt Bắc để tránh sự tận diệt của Tưởng Giới Thạch. Từ tháng 6 tới
tháng 10/1949, một số đơn vị Việt Minh cũng tham dự vào chiến dịch
Thập Vạn Đại Sơn ở vùng ranh giới Vân Nam/Quảng Tây. Tuy nhiên, chỉ
từ đầu năm 1950, HCM mới công khai ngả theo phe Cộng Sản.
Thượng tuần
tháng 1/1950, HCM Chí Minh cũng đi bộ 17 ngày đêm qua tới Nam Ninh
(Quảng Tây), rồi được Lưu Thiếu Kỳ đón lên Bắc Kinh. HCM cho biết
mục đích của chuyến đi là xin viện trợ. V́ cả Mao Trạch Đông lẫn Chu
Ân Lai đă qua Mat-scơ-va, ngày 3/2, Lưu Thiếu Kỳ dàn xếp cho HCM đi
Nga. Tại Mat-scơ-va, HCM được gặp Stalin. “Người thép” hỏi HCM về lư
do giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương (chính thức từ ngày
11/11/1945), rồi chỉ thị Mao tiếp tay Đảng CSĐD. Đây là lần đầu tiên
HCM được gặp Stalin, dù đă chính thức hoạt động cho QTCS từ hơn phần
tư thế kỷ trước.(
124)
Để chuẩn bị cho chuyến
viếng thăm Bắc Kinh, ngày 15/1/1950, đài phát thanh Việt Minh đă
công bố nh́n nhận chính quyền Cộng Sản Trung Hoa, và yêu cầu các
nước Cộng Sản mở quan hệ ngoại giao với chính phủ VNDCCH. Ba ngày
sau, 18/1, Bắc Kinh nh́n nhận VNDCCH. Ngày 30/1 đến phiên
Mat-scơ-va. Các nước Cộng Sản khác liên tục mở bang giao với chế độ
HCM.
Ngày 17/2/1950, HCM
tháp tùng phái đoàn Mao và Chu rời Mat-scơ-va. Sau đó, HCM ở lại Bắc
Kinh tiếp tục thảo luận về viện trợ với Lưu Thiếu Kỳ, Phó Chủ tịch
Trung Cộng, người được giao điều động công tác “nghĩa vụ quốc tế”
này. HCM xin Bắc Kinh cung cấp chuyên viên quân sự để cố vấn và chỉ
huy từ cấp Trung đoàn và Sư đoàn trở lên, nhưng Lưu chỉ đồng ư gửi
cố vấn. Luo Guibo [La Quí Ba] được chọn làm Cố vấn trưởng chính trị;
trong khi Wei Guoqing [Vi Quốc Thanh] cầm đầu phái đoàn cố vấn quân
sự với nhân số khoảng 280 người. Lưu cũng hứa giúp huấn luyện và
trang bị vũ khí cho 6 đại đoàn (sư đoàn) Việt Minh. Các trung đoàn
đầu tiên qua Vân Nam huấn luyện thuộc Đại đoàn Quân Tiên Phong (308)
của Vương Thừa Vũ, và 312 của Lê [Trịnh] Trọng Tấn. Để bảo đảm cho
việc tiếp vận từ Trung Cộng, Bắc Kinh giúp HCM mở chiến dịch biên
giới “Cao-Bắc-Lạng,” hay Lê Hồng Phong II (16/9-14/10/1950), nhằm
tiêu diệt lực lượng đồn trú tại Lạng Sơn và Cao Bằng. Người thực sự
chỉ huy trận này là Chen Geng [Trần Canh], Tư lệnh Quân Khu Vân Nam,
do HCM xin đích danh. Tướng Marcel Carpentier rúng động, phải cho
lệnh triệt thoái tất cả những vị trí trú quân dài theo biên giới,
chỉ giữ lại Tiên Yên-Móng Cáy.
Từ ngày này, thế
trận miền Bắc đă thay đổi hoàn toàn. Việt Minh bắt đầu chủ động
chiến trường. Chính phủ HCM được giao nhiệm vụ mới: “Tiền đồn của Xă
hội chủ nghĩa.”(
125)
Trong khối Tự Do, ngày
4/2/1950, Mỹ nh́n nhận chế độ Bảo Đại v́ “HCM đă để lộ bản chất thật
sự Cộng Sản.” Rồi đến Bri-tên và một số nước khác. Từ ngày này Pháp
t́m cách lôi kéo Mỹ và Bri-tên vào trận chiến chống Cộng ở Đông
Dương. Đại sứ Donald Heath (1950-1954) của Mỹ thận trọng thêm vào
mối đe dọa của Trung Cộng hai chữ “Nga Xô.” Việc Mỹ tham chiến ở
Triều Tiên từ tháng 6/1950, và nhất là cuộc triệt thoái các tiền đồn
biên giới Việt-Hoa, khiến cuộc chiến tranh lạnh Mỹ-Nga chi phối nội
t́nh Việt Nam. Pháp bị đặt vào vị thế cực kỳ tế nhị. Một mặt, cần
thành lập quân đội bản xứ để phụ giúp cho quân viễn chinh Pháp; và
ngày càng tùy thuộc nhiều hơn vào viện trợ Mỹ. Mặt khác, giới thẩm
quyền Mỹ không ngừng áp lực Pháp phải trao trả dần độc lập cho Việt
Nam, và áp lực Mỹ gia tăng theo viện trợ.
Winston
Churchill–người cực lực chống lại kế hoạch Quốc tế quản
trị [International
Trusteeship] Đông Dương của Tổng thống Franklin D. Roosevelt, và tác
giả thuật ngữ “bức màn sắt” ở
Âu châu–sau ngày lên nắm chức Thủ tướng Bri-tên lần thứ hai, cũng
muốn dựng “bức màn tre” ở Đông Dương. Nhưng Churchill chỉ muốn góp ư
mà không tán thành việc gửi quân tác chiến qua Đông Dương.(
126)
VI. “LÊ GÓT NƠI QUÊ
NGƯỜI”:
Trong bài hát “Suy Tôn
Ngô Tổng Thống,” để tô hồng cho thành tích cách mạng của Ngô Đ́nh
Diệm, nhà văn Thanh Nam viết: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người,
cứu đất nước, v.. v...” Thực tế, chuyến ra ngoại quốc của Ngô
Đ́nh Diệm chẳng có vẻ ǵ phiêu lưu, gian khổ. Trước hết, qua Mỹ,
được gặp gỡ những nhân vật quyền thế; rồi qua Vatican gặp Giáo hoàng
Pius XII; trở lại Mỹ, tu học ở các tu viện và diễn thuyết đó đây; và
cuối cùng qua Belgium, vận động làm Thủ tướng.
A. QUA MỸ XIN VIỆN
TRỢ:
Ngày 18/6/1950,
Giám mục Thục gặp XLTV Đại sứ Gullion tại Sài G̣n, xin giấy nhập
cảnh Mỹ trên đường qua Roma dự năm Thánh cho ḿnh và Diệm. Tháng
7/1950, có tin Diệm nhiều lần bị Việt Minh đe dọa đến tính mạng.
Ngày 15/7, Diệm về Huế thăm mẹ bị đau nặng. Ngày 2/8, Diệm trở lại
Sài G̣n sau khi ghé ngang Đàợ Nẵng. Ngày 14/8, Diệm cùng Thục rời
Sài G̣n trên tàu La Marseillaise. Gặp Cường Để ở Nhật, bàn việc
thành lập một chính phủ chống Cộng.(127)
Ngày 2/9, Diệm
và Thục tới Mỹ. Hơn hai tuần sau, ngày 21/9, được William S. B.
Lacy, Trưởng Nha Philippines và Đông Nam Á, tiếp. Thục tuyên bố phải
lập một quân đội quốc gia, lấy giáo dân Ki-tô làm hạt nhân để không
sợ đào ngũ mang súng hàng VM. Lacy nhận xét rằng Thục mới là phát
ngôn chính, trong khi Diệm chỉ tán thưởng ư kiến Thục.(
128)
Ngày 15/10, Diệm
và Thục rời Mỹ qua Paris. Sau đó, xuống Roma, rồi trở lại Paris vào
trung tuần tháng 11/1950. Ngày 8/12/1950, Thục rời Âu Châu trở lại
Việt Nam. Cuối tháng đó, Diệm, qua trung gian Bửu Kĩnh, Nghị viên
Hội Đồng Liên Hiệp Pháp, gửi cho Bảo Đại một thư riêng, đề nghị một
chương tŕnh hoạt động.(
129) Sau đó Diệm lại sang Mỹ.
Ngày 15/1/1951, Diệm khai với nhân viên Bộ Ngoại Giao Mỹ là mới từ
Paris qua được khoảng một tháng để nghiên cứu về giáo lư và cơ cấu
chính quyền Mỹ. Nói thêm là đă cho Bảo Đại biết sẵn sàng làm Thủ
Tướng với một số điều kiện.(
130)
Trong thời gian
ở Mỹ, nhờ sự che chở của Francis Spellman, Hồng Y Giám đốc Tuyên úy
Ki-tô Roma trong quân đội Mỹ, Diệm tá túc tại Tu viện Maryknoll,
thuộc tỉnh Lakewood, tiểu bang New Jersey. Có dịp làm quen với Thẩm
phán Tối cao Pháp viện William O. Douglas, nhiều Thượng Nghị sĩ, Dân
biểu như Mike Mansfield (Montana), John F. Kennedy (Massachusetts),
Walter Judd, v.. v... Diễn thuyết tại nhiều nơi. Từ ngày này, Diệm
trở thành một lá bài “chí sĩ quốc gia chống Cộng” trừ bị của Mỹ.
Diệm cũng thường tuyên bố ḿnh là nhân vật được biết nhiều nhất tại
Việt Nam, chỉ thua có HCM Chí Minh.(
131)
Đại sứ Heath
nhiều hơn một lần tiến cử Diệm trong các cuộc khủng hoảng chính phủ,
nhưng cả Bảo Đại lẫn Pháp chỉ muốn những người đáng tin cậy như Trần
Văn Hữu, Nguyễn Văn Tâm, v.. v... Ngày 12/5/1952, chẳng hạn, Heath
đề nghị cho Bảo Đại nắm chức Thủ tướng, và mời những người có khả
năng như Nguyễn Hữu Trí hay Ngô Đ́nh Diệm vào nội các, với chức vụ
Phó Thủ Tướng.(
132) Khoảng một năm sau, ngày
28/4/1953, Heath nhận xét rằng Bảo Đại thông minh và hữu dụng như
biểu hiệu đoàn kết Bắc-Nam, nhưng không có khả năng cỡ Churchill và
đại loại; Nguyễn Văn Tâm nhiệt t́nh và hữu hiệu, nhưng không đủ khả
năng đoàn kết toàn quốc v́ tính t́nh và lập trường thân Pháp; chỉ
c̣n lại hai ứng cử viênNgô Đ́nh Diệm và Nguyễn Hữu Trí. Hiện tại,
Diệm không được v́ cứng cổ [intransigence],
chống Pháp, không được Bảo
Đại ưa, và không ưa Bảo Đại. Chỉ c̣n lại Trí xứng đáng nhất.(
133)
B. QUA ÂU CHÂU:
Sau khi Joseph
Laniel (6/1953-6/1954) đồng ư trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam
ngày 3/7/1953,(134) họ Ngô ráo riết vận động lên cầm quyền. Tại Việt
Nam, Giám mục Thục và Nhu mở rộng hoạt động với các tổ chức tôn giáo
và chính trị. Nhu hợp tác với Lê Văn “Bảy” Viễn, Phạm Công Tắc, v..
v... mưu lập một liên minh chính trị vào cuối năm 1953. Đầu năm
1954, Thục, Nhu cùng nhóm Tinh Thần của Y sĩ Trần Văn Đỗ và Liên
Đoàn Thanh Lao Công của Trần Quốc Bửu thành lập tổ chức tiền thân
của Cần Lao Nhân Vị Cách Mạng Đảng, tức Cần Lao.(
135)
Ngô Đ́nh Diệm cũng từ
Mỹ sang Belgium lo tiếp xúc Bảo Đại, mới từ Việt Nam qua Pháp chữa
bệnh sán gan. Ngày 14/5, Bảo Đại gọi Diệm qua Paris, và Diệm đồng ư
hợp tác. Ba ngày sau, Bảo Đại cử em trai Diệm, Ngô Đ́nh Luyện, làm
“đặc phái viên” tại Hội nghị Geneva để bí mật tiếp xúc với Mỹ. Ngày
24/5, khi được nhân viên Ṭa Đại sứ Mỹ ở Paris tiếp kiến, Diệm tiết
lộ đă được Bảo Đại ủy quyền về Việt Nam nghiên cứu việc thành lập
chính phủ. Diệm dự định rời Pháp ngày 26/5, nhưng sau đó hủy bỏ.
Sau cuộc gặp gỡ ngày
24/5/1954, Mỹ chấp thuận Diệm, không v́ Diệm là nhân vật lư tưởng,
mà v́ những người tiền nhiệm quá kém cỏi, và Diệm có hậu thuẫn của
một số giáo mục Ki-tô. Tuy nhiên, Ngoại trưởng Dulles vẫn c̣n chủ
trương khuyến khích Pháp tiếp tục tham chiến ở Đông Dương, nên chưa
thuận yểm trợ trực tiếp cho QGVN như Bảo Đại và Diệm yêu cầu. Phần
Bảo Đại cũng được một nhóm cực hữu Pháp áp lực đưa Diệm lên thay Bửu
Lộc. Nhưng cái giá Diệm đ̣i hỏi khá cao: Toàn quyền về dân sự và
quân sự. Trước ám ảnh đại họa Pháp sẽ cắt nửa nước cho Việt Minh, và
tổng tuyển cử trong một thời gian ngắn để giải quyết thể chế chính
trị tương lai, Bảo Đại đành nhân nhượng–chỉ bắt Diệm phải thề trước
thập tự giá là tuyệt đối trung thành, và duy tŕ ngôi báu nhà Nguyễn.
Ngày 6/6, chính phủ
Laniel đồng ư cho Diệm làm Thủ tướng. Mười ngày sau, 16/6, giữa lúc
chính phủ Laniel đă từ chức và Pierre Mandès-France có nhiều triển
vọng lên thay, Bảo Đại bổ nhiệm Diệm làm Thủ tướng toàn quyền. Ngày
25/6/1954, Diệm cùng một đoàn tùy tùng nhỏ lên đường về nước.
Chính Đạo
Houston 2004-Sài G̣n
4/2005.
_____
Phụ chú về Jean Baptiste Ngô Đ́nh Diệm:
1. Department of
Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1967, 12 books,
(Washington, DC: GOP, 1971), Bk 11, tr. 36-41. Xem thêm chú 3 infra.
2. Department of
State, Office of Libraries and Intelligence Acquisitions,
“Biographic Report: Ngo Dinh Diem, President of the Republic of
Vietnam, To Visit Washington [May 8-10, 1957],” BR No. 203 (April
18, 1957); Richard Nixon Library (Yorba Linda, CA), Prepresidential
Papers, PPS 320.99.33.1-2. [Sẽ dẫn, Ngo Dinh Diem (1957)]
3. Bernard B.
Fall, The Two
Vietnams: A
Political and Military Analysis
(New York: Praeger, 1965), tr. 235, 475n3. Xem thực chất về các vua
Nguyễn nhận lĩnh “Thiên Mệnh Đại Pháp” trong Vũ Ngự Chiêu, Các
vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa,
1999-2000). [Sẽ dẫn: Các vua cuối]
4. Direction des
Services Francais de Securité en Indochine [DSFSI], “M. Jean
Baptiste Ngo Dinh Diem, dit Nguyen Ba Chinh;” SHAT (Vincennes),
Indochine, [10H 4195]. Xem phóng ảnh trong Nguyên Vũ,
Paris Xuân 96
(Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 165; Chính Đạo, Cuộc thánh chiến
chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004), tr. 15-16. Những chi tiết
không có phụ chú trong bài này đều trích dẫn từ tài liệu trên. Xem
thêm Chính Đạo, Việt
Nam Niên Biểu [VNNB],
tập III: Nhân vật chí,
tái bản có bổ
sung (Houston: Văn Hóa, 1997), tr. 262. Sẽ dẫn: Nhân vật chí,
1997.
5. T́nh báo Mỹ
ghi Diệm sinh trong mộỳt gia đ́nh đă theo đạo Ki-tô từ thế kỷ 17 và
nhiều thế hệ đă sản xuất ra những bậc tu hành và quan chức nổi danh.
Cha là Thượng thư bộ Lễ và Lord Chamberlain cho vua Thành Thái, từng
du học ở Malaya; Ngo Dinh Diem (1957) [Giống tài liệu của Fall &
Sharplen]. Xem chú 16 infra.
6. Theo Lansdale,
Diệm “đă cắt bỏ mối t́nh với người yêu đầu đời để dâng hiến cho tổ
quốc” nên 60 tuổi vẫn c̣n độc thân. Xem chú 1 supra. Nhưng
nhiều người đương thời, như Tướng Trần Văn Đôn André, cho rằng Diệm
thiếu khả năng t́nh dục.
7. Xem Ngô Đ́nh
Diệm, “L’Encrier de S. M. Tu-Duc: Traduction des Inscriptions [Nghiên
mực của vua Tự Đức: Bản dịch những chữ khắc];” Bulletin des Amis
du Vieux
Hue [BAVH],
Bộ IV,
số 3 (Tháng 7-9/1917), tr. 209.
8. Phỏng vấn ngày
2/11/1985 tại Paris; Ngô Đ́nh Diệm, “L’Ambassade de Phan Thanh Gian
(1863-1864);” BAVH, Bộ VI, Số 1bis và 2 (Avril-Juin 1919),
tr. 161. Ở đầu bài, Diệm được giới thiệu là “học sinh trường Hậu bổ,”
và bài này đă được đọc tại các buổi họp [hôi thảo] ngày 27/8 và
3/12/1918, và 4/3/1919. Ibid. Diệm chỉ dịch một phần tập tâu của
Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ, dưới sự hướng dẫn của Nguyễn Đ́nh
Ḥe. Phần c̣n lại (thiếu đoạn đi sứ Espania) do Trần Công Tạn dịch;
BAVH (1921), tr. 147-187.Tác giả đa tạ ông Nguyễn Đắc Xuân đă
cung cấp phóng ảnh bài viết này của Ngô Đ́nh Diệm.
9. Xem báo cáo về
cuộc đàm thoại ngày 28/4/1955 giữa Bảo Đại với William Gibson, Đệ
nhất thư kư Ṭa Đại sứ Mỹ; FRUS, 1955-1957, I:332-336; Chính
Đạo, Việt Nam Niên Biểu [VNNB], 1939-1975, tập I-C: 1955-1963
(Houston, TX: Văn Hóa, 2002), tr. 54-55.
10. Nguyên văn:
“A year after his decision to give up becoming a priest. Diem
falsified his age and took competitive examinations for the
equivalent of a highschool diploma;” Robert Sharplen, The
Lost Revolution (New York: Harper & Row, 1966), pp. 106-107.
11. Xem tiểu sử
Thục trong CAOM (Aix), GGI, CP 125; Chính Đạo, Nhân vật chí,
1997:312; Idem., Cuộc thánh chiến chống Cộng 2004: 464-465.
Tại Việt Nam, tưởng cũng nên ghi nhận, có tục lấy tên “mẹ già,” tức
vợ chính thức, để khai sinh cho các con ngoại hôn hoặc thê thiếp.
12. Xem Chính
Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963, tr. 110.
13. Ngo Dinh Diem
(1957).
14. Theo Bernard
Fall, niềm tin tôn giáo của Diệm là một loại hiếu chiến tàn bạo của
một Quan ṭa Dị giáo [ruthless militancy of the Grand Inquisitor].
Khi một người Pháp nói “tín ngưỡng chung của chúng ta,” Diệm thản
nhiên trả lời: “Tôi tự cho tôi là một tín đồ Ki-tô Spain [Tây Ban
Nha],” tức cuồng đạo hơn là ḥa hoăn theo kiểu Ki-tô Pháp; Two
Vietnams, 1965:236.
15. Xem Chính
Đạo, HCM Chí Minh (1892-1969), Con người & Huyền thoại, 3 tập
(Houston: Văn Hóa, 1993-1997), tập I:161-162; Phụ bản 5, trong Vũ
Ngự Chiêu, Các vua cuối, 1883-1945, tập II:602-604. Trần
Trọng Kim, trong Việt Nam Sử Lược, đă dẫn lời “một đại quan
về hưu” để bài bác chi tiết trộn tro than Ngự sử Phùng bắn xuống
sông Lam. “Đại quan về hưu” này chắc không thể biết rơ sự việc bằng
Khâm sứ Huế, người viết báo cáo vào tháng 2/1896, hay báo cáo của
chính Nguyễn Thân. Đó là chưa nói đến thói quen chối tội của các
phạm nhân chiến tranh [war criminals], hoặc âm mưu ngụy tạo lịch sử
để bảo vệ cho thượng cấp và đồng đạo (kiểu “Việt Cộng ném lựu đạn
trước đài phát thanh Huế tối ngày 8/5/1963,” “nhân viên an ninh Mỹ
ném ḿn plastic tối 8/5/1963,” “toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng
thống”). Xem, Vũ Ngự Chiêu, “Vài Ư Nghĩ Về Thượng Tọa Thích Quảng
Đức;” Đi Tới (Montréal, Québec), XII, số 83 (7-9/2005), tr.
40-47; Hợp Lưu (Santa Ana, CA), số 84 (8/2005), tr. 194-206;
website Chuyển Luân. Đáng tiếc v́ không được huấn luyện về
phương pháp nghiên cứu và viết sử, lại không có tư liệu, Trần Trọng
Kim khiến tập phổ thông lược sử của ông chứa nhiều dữ kiện và nhận
định lầm lạc.
16. Có tài liệu
ghi Khả là Chưởng giáo đầu tiên của trường Quốc Học; E. Le Bris, “Le
Quoc Hoc;” BAVH (1916), số 1, tr. 80. Đây có lẽ dựa theo Dụ
năm 1896 của Thành Thái, nhưng Toàn quyền Pháp không chấp thuận.
Giám đốc trường này là một người Pháp. Về chức “Thượng thư” của Khả,
chúng tôi chưa thấy một tài liệu nào. Trong bài “Une ascension sur
l’écran du roi: Poésie de S. M. Tu Duc, traduite par Ngô Đ́nh Khả,
Ministre honoraire; BAVH, số 2 (4-6/1916), tr. 223-227–bản
dịch một bài thơ nói về chuyến du ngoạn của vua Tự Đức–Ngô Đ́nh Khả
chỉ ghi “hàm Thượng thư,” khác xa với chức Thượng thư thực
sự, nói chi “Thượng thư đầu triều.” Trần Lục, hay cha Sáu [Père Six]
ở Phát Diệm, một tay chân tín cẩn của Giám mục Puginier, cũng được
thưởng hàm Thượng thư và Bắc đẩu Bội tinh.
17. Lời chứng của
Nguyễn Thi, cựu Ủy viên Hành Kháng tỉnh Ninh Thuận, trên báo Nhân
Dân ngày 16/7/1954, dẫn trong Trần Văn Giàu, Miền Nam giữ
vững thành đồng, 5 tập (Hà Nội: NXB Khoa Học, 1964-1978), tập I
(1964), tr. 36. Hai tác giả khác ghi là việc Diệm dùng đèn cầy đốt
hậu môn tù nhân CS khi làm Tri phủ Ḥa Đa; Nguyệt Đàm và Thần Phong,
Chín năm máu lửa dưới chế độ gia đ́nh trị Ngô Đ́nh Diệm (Sài
G̣n: 1964), tr. 18. Theo hai tác giả này, nhân chứng là Cử nhân
Nguyễn Trác, cựu Nghị viên trưởng An Nam. Xem thêm, Bùi Nhung,
Thối nát (Sài G̣n: 1969); Hoàng Trọng Miên, Đệ nhất phu nhân
(Los Alamitos, CA: 1989), I:128-129.
18. Ngo Dinh Diem
(1957) [p.5].
19. Thư Ngô Đ́nh
Thục gửi Decoux ngày 21/8/1944; CAOM (Aix), PA 14, c. 2. Thư này do
tác giả công bố lần đầu trong Luận án Tiến sĩ tại Đại học
Wisconsin-Madison năm 1984, rồi trên báo Lên Đường (Houston)
năm 1989; in lại trong Chính Đạo, Việt
Nam Niên Biểu
[VNNB], 1939-1975, tập I-A: 1939-1946,
tr. 200. Vài cá
nhân đặt nghi vấn là Pháp ngụy tạo tài liệu trên. Nghi vấn này do sự
thiếu hiểu biết về phương pháp bảo quản tài liệu văn khố. Hơn nữa
thủ bút và chữ kư của Thục khó thể giả mạo. Tưởng cũng nên ghi thêm
rằng một vài cá nhân (như Lê Trọng Văn) đă tự động tẩy xóa bút phê
của Decoux cũng như ghi chú của nhân viên văn pḥng Toàn quyền và
dấu cùng chữ kư thị thực của Văn khố Aix-en Provence Pháp trên phóng
ảnh tài liệu trên, in vào sách họ.
20. Nguyên văn:
“Francais ne veulent pas de nous, parce que nous sommes trop
entiers, à fortiori Japonais qui préfèraient souplesse PHAM QUYNH
dont ils vantent talent.” Báo cáo số 1806, A,B,C,D ngày
18/8/1944, Surete gửi DirSurGe; CAOM (Aix), 14 PA, c.2, d.19; trích
đăng trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:856.
21. Xem chi tiết
trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:1111-1145. Tại hải
ngoại, có những phần tử chuyên trọm cắp tài liệu của các học giả,
từng “ziết sử “rằng Bài đă được tham khảo về cuộc đại cải
cách này; hay, Phạm Quỳnh đứng lên đọc bản dịch tiếng Việt, v.. v...
Xem Nguyễn Mạnh Quang, Thực chất Giáo hội La Mă, tập II; và
bài viết của Trần Quốc Đại (?)trên websaite Chuyển Luân.
22. Nói rộng hơn,
nhóm Sarraut-Pasquier áp dụng chính sách “hợp tác”
[collaboration]. Giữa thập niên 1920, Pasquier c̣n chiêu HCMi
những thành phần chống Pháp như Phan Bội Châu và sử dụng các văn
thân từng bị dính líu vào phong trào chống sưu thuế 1908 tại miền
Trung. Huỳnh Thúc Kháng, chẳng hạn, được cử làm Chủ tịch Viện Dân
Biểu An Nam, và xuất bản ṭ Tiếng Dân bằng quốc ngữ để quảng
bá chủ trương “thờ người Pháp để cầu tiến bộ.” TTLTQG 2 (TP/HCM),
RSA/HC, HS 1869; Chính Đạo, “Báo Tiếng Dân: Vài Tư liệu mới;” Hợp
Lưu (Fountain Valley, CA), số 86 (Xuân Bính Tuất, 2006), tr.
5-32.
23. Xem Vũ Ngự
Chiêu, Các vua cuối, tập III:793, 1111-1129 (Phụ bản bài
tường thuật trên báo Nam Phong số 184 (5/1933). Đoàn sau này
hợp tác với HCM Chí Minh.
24. CĐ 450,
30/12/1947, Hongkong gửi BNG; FRUS, 1947, VI:153. Việc tự
đánh bóng để “bán ḿnh” [sell yourself] cho Mỹ này không được
tài liệu văn khố Pháp chứng minh. Thực tế, Diệm, như đă lược nhắc,
chỉ được đặc cách lên hàng Thượng thư Bộ Lại, mà phận sự và quyền
lợi đồng đều với bốn bộ khác, và năm 1935, chỉ được Bảo Đại cho lại
chức Thượng thư hàm.
25. Báo cáo ngày
10/5/1933, Pasquier gửi Colonies; CAOM [Aix], INF, c.366/d.2905;
trích in trong Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập III:785-809,
1111-1145. Xem Phụ bản báo Tiếng Dân trong sách này.
26. Báo cáo số
303-A.P., 22/7/1933, Gougal gửi Colonies; CAOM (Aix), INF,
c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:804-807. Gần ba
chục năm sau, Diệm tuyên bố với một viên chức Mỹ rằng sở dĩ Diệm từ
chức, ngoài tinh thần chống thực dân, c̣n v́ không đồng ư với chính
sách “chống Cộng” của Pháp. Theo Diệm, Cộng Sản là sản phẩm của các
chính phủ tả phái Pháp. Xem Memorandum of a Conversation, Saigon,
Jan 16, 1962; FRUS, 1961-1963, II:41-42. Nội dung buổi nói
chuyện này chứng tỏ Diệm, dù tự nhận đă nghiên cứu về Cộng Sản từ
năm 1922 qua các tài liệu Switzerland, chẳng biết ǵ vai tṛ của địa
bàn Trung Hoa cùng hoạt động của DALBURO Liên Xô Nga ở Vladivostok,
Thượng Hải hay Hong Kong. Ngoài ra, Diệm có vẻ “rất linh động và
sáng tạo” trong việc diễn giải thành tích dĩ văng của ḿnh. Năm
1963, Đại sứ Henry Cabot Lodge đi đến kết luận, không hẳn đă chủ
quan, rằng Diệm và họ Ngô thuộc loại “dối trá và tội phạm” (liars
and criminals); Ibid., IV:tài liệu 69 (deception, IV:127),77 (medival
view of life; IV:143), 221.
27. CAOM (Aix),
INF, c.366/d.2905; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, III:808. Nếu
người Mỹ biết thành tích này của Diệm, gịng lịch sử Việt có thể đă
đổi khác; chẳng có thí nghiệm “cách mạng nhân vị” từ 1954 tới 1963;
với những cơn đau đầu triền miên cho các viên chức Mỹ; để rối cuối
cùng phải đồng ư cho nhóm Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim
và Trần Thiện Khiêm trừ khử đi “vị cứu tinh” của những người chống
Cộng.
28. Năm 1934,
Thục cũng t́m cách đả kích Bảo Đại bằng cách áp dụng “giáo luật” vào
đám cưới của Bảo Đại với Nam Phương hoàng hậu (tức bắt Bảo Đại phải
“rửa tội” trước khi làm đám cưới). Pháp giải quyết bằng cách cho một
linh mục Pháp cử hành lễ cưới trong bí mật.
29. Note số
2995-SP/C, Huế, 4/4/43; CAOM (Aix), 14 PA, c.1.
30. “M. Jean
Baptiste Ngo Dinh Diem, dit Nguyen Ba Chinh,” tr. 2; SHAT
(Vincennes), 10H 4195. Xem thêm chi tiết trong Vũ Ngự Chiêu, “Social
and Cultural Change in Vietnam Between 1940 and 1946,” Ph.D.
dissertation, December 1984, Univ. of Wisconsin-Madison, Part I,
chapters 3, 4 & 6. Báo Tiếng Dân trong tháng 5/1933 cũng có
bài xa gần nhắc nhủ “những người được cái của người khác đừng nên
vội mừng” (có lẽ ám chỉ Phạm Quỳnh) và kết luận rằng mọi việc đều do
Pháp chủ xướng. Huỳnh Thúc Kháng, tưởng nên nhấn mạnh, cùng chủ
trương “thờ người Pháp làm bậc thầy để cầu tiến bộ” như Phạm Quỳnh,
Nguyễn Bá Trác, v.. v...
31. CAOM (Aix),
GGI, 7F 29, tr. 56.
32. Anh em Diệm,
thường rất thích “thề trên thập tự giá” nhưng ít khi giữ những lời
thề này, kể cả lời thề “trung thành” với Bảo Đại trước khi về làm
Thủ tướng toàn quyền dân và quân sự vào tháng 6/1954.
33. Thời gian
này, Decoux như ngồi trên lửa. Một mặt, phe Gaullist tăng gia hoạt
động “kháng Nhật,” và Paris hoàn toàn im lặng trước nỗ lực xin qui
phục của Decous. Mặt khác, Decoux đang đối diện mối hiểm họa sẽ bị
Nhật tước đoạt quyền lực. Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối,
III: 858-862.
34. Nguyễn Xuân
Chữ, HCMi kư Nguyễn Xuân Chữ (Houston: Văn Hóa, 1996), tr.
243-249.
35. Bảo Đại,
Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980), tr. 106; CAOM (Aix), GGI,
CP 125.; SHAT (Vincennes), 10H 4195. Tài liệu an ninh Mỹ th́ cho
rằng Diệm sống ở Nhật một thời gian trong thập niên 1930, và chỉ trở
lại Đông Dương trước ngày Thế chiến II bùng nổ; Ngo Dinh Diem (
1957). Chẳng hiểu chi tiết này từ đâu ra.
36. Xem Vũ Ngự
Chiêu, The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The
Empire of
Vietnam
(4-8/1945) / Phía bên kia cuộc cách mạng 1945: Đế Quốc Việt Nam
(4-8/1945)
(Houston: Văn Hóa, 1996). Bản Anh ngữ tập sách nhỏ này, trích ra từ
luận án năm 1984, đă in trong Journal of Asian Studies vào
tháng 2/1986.
37. Chủ tịch Ủy
Ban Chính Trị Bắc Bộ trao chính quyền cho nhóm Nguyễn Khang-Nguyễn
Quyết ngày 19/8/1945. Xem Chữ 1996:284-290. Tài liệu CS Việt Nam cho
rằng đây là một cuộc “cách mạng,” nhưng chưa phải là “cách mạng vô
sản.” Xem những bài viết trên Cờ Giải Phóng (Hà Nội) từ tháng
8 tới tháng 11/1945.
38. Cùng bị sát
hại với cha con Khôi là Phạm Quỳnh.
39. FRUS,
1952-1954, XIII:554; FRUS, 1961-1963, II:42; Ngo Dinh
Diem (1957) [p.5]; Stanley Karnow, Vietnam: A History (New
York: Viking Press, 1983), tr. 216-217.
40. CAOM (Aix),
GGI, CP 125; Nhân vật chí, 1997:313.
41. Vẫn theo
Drapier, Ngô Đ́nh Nhu, lúc ấy đang làm việc tại Hà Nội, không dám ra
khỏi nhà v́ sợ bị bắt cóc. Tại Huế cũng có tin Thục bị Việt Minh
bắt; CAOM (Aix), GGI, CP 125. Nhu, tưởng nên ghi thêm, giữ chức Giám
đốc Lưu trữ và Văn khố của chính phủ HCM Chí Minh. Chúng tôi xin cảm
tạ Giáo sư/Tiến sĩ Dương Đ́nh Nham, nguyên Giám đốc TTLTQG II
(TP/HCM), đă cung cấp một phóng ảnh Nghị định bổ nhiệm Nhu, với chữ
kư của Bộ trưởng Nội Vụ Vơ Nguyên Giáp và Bộ trưởng Giáo Dục Vũ Đ́nh
Ḥe.
42. Giám mục
Lê Hữu Từ & Phát Diệm, 1945-1954 , tr. 117.
43. Ngo Dinh Diem
(1957) [tr.. 5].
44. Trước đây, có
tranh căi về hai chữ “giải pháp” [solution] và “thí nghiệm”
[experiment]. Biến cố lịch sử cho thấy lá bài Bảo Đại không
giải quyết được nhu cầu của phe chống Cộng, tức tiêu diệt chế độ HCM
Chí Minh, nên không thể là một “giải pháp.” Nó vẫn nằm trong phạm
trù một “thí nghiệm.” Về cuộc tái xâm lăng của Pháp, xem Vũ Ngự
Chiêu, “Social and Cultural Change,” Part III: “Brutality of World
Politics” (1984); Georges Thierry d’Argenlieu, Chronique
d’Indochine (Paris: 1985); Général de Gaulle et l’Indochine
(Paris: 1982).
45. Nguyên văn:
“À mon avis, il serait avantageux pour le calme de rétablir le
Roi comme chef régulier avant le 9 mars.” Ngày 28/12/1945, trong
thư gửi một giáo sĩ Pháp, Drapier cho rằng gia đ́nh Bảo Đại là “gia
đ́nh thân Pháp bậc nhất trong dân Việt (la plus francophile de tous
les annamites); CAOM (Aix), CP 125.
46. Trần Trọng
Kim, Kiến Văn Lục: Một Cơn Gió Bụi (Sài G̣n: 1969), tr.
134ff. Sẽ dẫn: MCGB, 1969.
47. D’Argenlieu,
Chronique, 1985:385-92.
48. Nguyên văn
công điện số 2464/CI/142, ngày 23/1/1947, như sau: “Ne suis pas
d'accord. Ne rien décider avant que nouveau gouvernement ait
formé directives;” d’Argenlieu, Chronique, 1985:387.
49. L'Humanité
(Paris), Ngày 31/12/1946. ,Số người chủ trương thương thuyết với
HCM chỉ có Đảng Cộng Sản Pháp và một số cá nhân như Léon Blum.
50. Cầm đầu nhóm
này là phe Gaullist. Xem infra.
51. Nguyên văn:
“Chính trị với tôi đă hết. Dân tộc tôi đă muốn dân chủ: tôi không có
ǵ chống lại điều đó, bởi v́ ngay từ đầu tôi đă cộng tác với chính
phủ mới.... Tôi rất kính trọng Chủ tịch HCM Chí Minh” [La politique
est pour moi une chose morte. Mon peuple a voulu une démocratie:
je n'y ai fait aucune opposition, puisque j'ai même accepté, au
début, de collaborer avec le nouveau gouvernement.... J'ai beaucoup
d'estime pour le Président Ho Chi Minh....]; Combat (Paris),
15/10/1946; PA 28, Carton 7, d. 164; trích đăng trong Vũ Ngự Chiêu,
Các vua cuối, III:995-996.
52.
SHAT (Vincennes), 10H 643.
53.
AAN, 1946 [Séance du 20 décembre 1946]:196.
54.
AAN, 1946, [2è Séance du 23/12/1946]:321.
55.
AAN, 1947:882-883.
56.
AAN, 1947:835.
57.
AAN, 1947: 856, col 2.
58. Tài
liệu văn khố Nga và Trung Cộng mới giải mật cho biết HCM chỉ nối lại
liên hệ với Liên Xô Nga từ tháng 2/1950. Nhưng Stalin giao cho Bắc
Kinh cai quản Đông Dương. Theo một viên chức Trung Cộng, tối
16/2/1950, Stalin từ chối lời đề nghị của HCM là Liên Xô và VNDCCH
kư Hiệp ước hữu nghị giống như Nga mới kư với Trung Cộng. Xem công
điện giữa Mao và Bắc Kinh giữa tháng 12/1949 và tháng 2/1950, do
chương tŕnh Nghiên Cứu Chiến Tranh Lạnh của Trung Tâm Woodrow
Wilson phiên dịch và công bố.
Một trong những
tác phẩm nên đọc: Qiang Zhai,
China & The
Vietnam Wars, 1950-1975
(Chapel Hill:
Univ. of North Carolina Press, 2000), tr. 15-20. Xem thêm Vơ Nguyên
Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXBQĐND, 2001), tr.
10-16.
59. Blokov Ranh
(1909-1952?), em trai Trần Phú (1904-1931), Tổng thư kư đầu tiên của
Đảng CSĐD, từng theo học Đại học Phương Đông [KUTV] Mat-scơ-va và
một thời gian là “bạn đồng hành” của Nguyễn Thị Vịnh (Minh Khai)
(1910-1941) ở Trung Hoa; CAOM (Aix), SPCE, carton 367. Năm 1947,
Ranh bị Pháp bắt giữ cùng Bourov Dương Bạch Mai (1904-1964), nhưng
phải trả tự do v́ áp lực của Đảng Xă Hội và báo Figaro; AAN, 1947,
833; Ibid., 1949, II:1509. Năm 1949 Ranh qua Tiệp Khắc, sau
bị khai trừ khỏi Đảng CSĐD, khi tái lập Đảng Lao Động Việt Nam năm
1951 (cùng Lê Hy); Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả (Bắc
Kinh: 1987), tr. 319-321.
60. CĐ
số 1313, 27/3/1947, Caffery gửi BNG; FRUS, 1947, VI:81-82.
61. CĐ
số 154, 7/5/1947, O’Sullivan gửi BNG; FRUS, 1947, VIII:94-95. De
Pereyra, tưởng nên thêm, chủ trương thí nghiệm Bảo Đại. Nhưng từ năm
1950, de Pereyra hết hy vọng ở thí nghiệm chống Cộng này.
62. CĐ
289, 17/4/1947, Bangkok gửi BNG; FRUS, 1947, VI:87-88; CĐ
361, 7/5/1947, Bangkok gửi BNG; Ibid., VI:92-93.
63. Vơ
Nguyên Giáp, Chiến đấu trong ṿng vây (Hà Nội: NXB QĐND,
2001), tr. ; CĐ 145, 7/5/1947, Bangkok gửi BNG; FRUS, 1947,
VI:93-94.
64.
Thành phần chính phủ thứ tư của VNDCCH như sau: Chủ tịch: HCM Chí
Minh; Cố vấn: Vĩnh Thụy; Ngoại Giao: Hoàng Minh Giám; Quốc pḥng: Tạ
Quang Bửu; Tài chính: Lê Văn Hiến; Tư pháp: Vũ Đ́nh Hoè; Kinh tế:
Phan Anh; Canh Nông: Ngô Tấn Nhơn(?);Y tế: Hoàng Tích Tri; Lao động:
Nguyễn Văn Tạo; Cứu tế, Xă hội: Chu Bá Phượng (?);Giáo dục: Nguyễn
Văn Huyên; Cựu chiến binh: Vũ Đ́nh Tụng (Y sĩ, Ki-tô); Trong hàng
Thứ trưởng, có: Trần Duy Hưng (Nội vụ), Trần Văn Bính (Tài chính),
Trần Công Tường (Tư Pháp), Nghiêm Xuân Yêm (Canh Nông), Tôn Thất
Tùng (Y tế), Nguyễn Khánh Toàn (Giáo dục), Ngô Tử Hạ (Cựu chiến
binh); Cù Huy Cận (Kinh tế Nhà nước).
65.
Ngày 28/12/1945, trong thư gửi một giáo sĩ Pháp, Tổng Giám Mục
Drapier cho rằng gia đ́nh Bảo Đại là gia đ́nh thân Pháp bậc nhất
trong dân chúng Việt Nam, và theo ư ông ta, nên cho Bảo Đại lên ngôi
như trước ngày 9/3; CAOM (Aix), CP 125.
66.
Ngày 2/2, Kim xuống tàu từ Hong Kong về Sài G̣n, tạm trú trong nhà
Luật sư Trịnh Đ́nh Thảo, cựu Thượng thư Tư pháp của Kim. Pignon và
nhiều người khác, gồm cả cựu Khâm sai Nguyễn Văn Sâm, hay tới thăm
viếng. Nhưng chỉ hơn một tháng sau, Dân biểu Bollaert thay
d'Argenlieu. Tân Cố vấn chính trị Michel chỉ ghé thăm Kim một lần
ngày 8/5/1947, rồi từ đó biệt tín. Nhóm Quảng và Đán cũng xa dần
Kim, làm việc cho những “sứ giả” mới của Bảo Đại như Phan Văn Giáo
và Trần Văn Quế; Trần Trọng Kim 1969:161-169,171-174,178. Theo Phạm
Khắc Hoè, ngày 8/2/1947, Phan Huy Đán và Đinh Xuân Quảng đưa Hoè tới
gặp Trần Trọng Kim và Nguyễn Văn Sâm ở nhà Trịnh Đ́nh Thảo; Phạm
Khắc Hoè 1987, tr. 312-4.
67. CAOM (Aix),
INF, c.138-139, d. 1245.
68.
Ibid; FRUS, 1947, VI:133.
69.
SHAT [Vincennes], 10H 643.
70.
Ibid., 10H 252?. Xem thêm Quang Toản & Nguyễn Hoài, Những hoạt
động của bọn phản động đội lốt Thiên chúa giáo trong thời kỳ kháng
chiến (1945-1954) (Hà Nội: NXB Khoa Học, 1965), Chính Đạo,
Việt Nam Niên Biểu, 1945-1975, tập II-A: Các tổ chức tôn giáo (đang
in).
71.
FRUS, 1947, VIII:133-134.
72.
FRUS, 1947, VIII:138-139.
73 .
FRUS, 1947, VIII:140-141.
74.
FRUS, 1947, VI:139-40.
75.
Chính phủ Nguyễn Văn Xuân ngày 8/10/1947 gồm có: Thủ tướng: Xuân;
Phó Thủ tướng: Trần Văn Hữu; Bộ trưởng [BT] Tư pháp: Nguyễn Khắc Vệ;
BT Công chính: Nguyễn Văn Tÿ; BT Canh Nông: Trần Thiện Vàng; BT
Thông tin: Nguyễn Phú Khai; Thứ trưởng Thông tin: Trần Văn Ân.
76. Vào
cuối chiến dịch Léa, hơn 1,000 lính Pháp tử trận, và khoảng 3,000
người bị thương. Vơ Nguyên Giáp ghi rằng VM chỉ chết 260, 168 bị
thương; Chiến đấu trong ṿng vây, 2001:170 [138-180]; Lịch
sử, 1986:169-70.
77. Am Consul,
Hanoi, to State Dept, 9 Feb 1948, 851G.00/2-948, RG 59; dẫn trong
Ronald H. Spector, United States Army in Vietnam, Advice and
Support: The Early Years, 1941-1960 (Washington, DC: Center for
Military History, United States Army, 1983), tr. 90.
78. Từ Hong Kong
về, ngày 17/9, Sâm nhân danh MTQGTNTQ gửi thư cho TT Truman, yêu cầu
can thiệp vào Đông Dương; FRUS, 1947, VI:142-143. Sâm c̣n
xuất bản báo Quần Chúng tại Sài G̣n để có cơ quan ngôn luận trong
tay. Cái chết của Sâm đă được cảnh cáo từ trước–Ngày 23/6/1947, báo
L'Echo du Viet-Nam [Dư Luận] của Nguyễn Phan Long loan tin
Ṭa án Mặt trận Quân Khu VII của Nguyễn B́nh cho lệnh bắt giải Sâm
ra xét xử về tội vi phạm lệnh giải tán MTQGTNTQ.
79. CD 5398 ngày
16/12/1947, Caffery gửi BNG; FRUS, 1947, VI:151.
80. William C.
Bullitt, “The Saddest War” [Cuộc chiến buồn thảm nhất]; Life
(29/12/1947); FRUS, 1947, VI:110.
81. CAOM (Aix), INF, Carton 154.
82. Văn khố Nga
và Trung Cộng chưa công bố hết tài liệu về những cuộc gặp gỡ giữa
HCM và Stalin trong tháng 2/1950, nhất là lư do biện minh cho việc
giải tán Đảng Cộng Sản ngày 5/11/1945.
83. CĐ số 305,
5/12/1946, Acheson gửi Moffat; FRUS 1946, VIII:67-69;
Department of Defense, US-Vietnam Relations, 1945-1947
(Washington, DC: GPO, 1971), Bk 8, tr. 85-86.
84. Ngày
18/12/1947, Tổng Lănh sự Charles Reed đă từ Sài-g̣n điện trước cho
Hopper rằng có thể “Giệm” [Diệm] sẽ ghé thăm; FRUS, 1947,
VI:152-155.
85. CAOM (Aix),
GGI, 7F 27.
86. Theo t́nh báo
Pháp, ngày 8/2/1848, Diệm đồng ư với lập trường Độc lập - thống nhất
của VNQGLH. Năm Lửa Trần Văn Soái cùng lập trường, và tỏ ư quí trọng
Diệm. Ngày 11/2/1948, Tiết [Thiet], một người thân cận Diệm và Nhu,
từ chức Giám đốc báo Thống Nhất ở Huế, về Quảng Nam làm Giám đốc trị
sự công ty bảo hiểm Le Secours v́ không đồng ư với Trần Văn Lư. Ngày
12/2/1948, Diệm cử Đông đi Hà Tiên, Sa Đéc, Cần Thơ, Vĩnh Long gặp
một số linh mục kháng chiến cùng đại diện Cao Đài, Hoà Hảo để vận
động cho Bảo Đại. Theo Đông, phần lớn giáo dân trong vùng Việt Minh
ủng hộ kháng chiến; nhưng sẽ ngả theo Bảo Đại nếu được độc lập,
thống nhất. Cũng định gửi một số sách báo vào vùng Việt Minh, như
cuốn Tôi Muốn Tự Do. Nhu sẽ lên đường qua Pháp chừng hai
tháng. Dự trù gặp Bảo Đại, và xuống Roma; SHAT (Vincennes),10H 4201.
87. Tháp tùng
Spellman có Fulton G. Green; Thời Sự (Hà Nội), 7/3/1949.
88. CAOM (Aix),
Indochine, 7F 29, tr. 57.
89. Nguyên văn:
“Les aspirations du peuple vietnamien dépassaient les termes de
l'accord d'Halong [12/1947].”
SHAT (Vincennes),
10H 4138.
90. Ngày 12/5/1948, Đại sứ Mỹ Caffery điện báo về Oat-shinh-tân là
Vụ trưởng Á Châu Bộ Ngoại Giao Pháp tiết lộ đă cho phép Bollaert
chấp thuận việc thành lập một ch́nh phủ lâm thời với Xuân làm Thủ
tướng. Chính phủ này phải đặt ở Hà Nội hay Huế. Việc thương thuyết
giữa Bollaert và Xuân sẽ dựa trên căn bản Hiệp ước Hạ Long ngày
7/12/1947. Bảo Đại sẽ kư tên vào Hiệp ước mới (5/6/1948) giữa
Bollaert và Xuân.
91.
Công báo Việt Nam [CBVN], I:1 (4/6/1948), tr.
4.
92. SHAT [Vincennes], 10H 642.
93. Công báo
Nam
phần Việt Nam,
3:22 [31/5/1948]:359;
CBVN,
I:1 [4/6/1948]:7. Cùng ngày, Xuân ban hành Nghị định thứ 2, công bố
tổ chức và chức quyền của chính phủ này; SHAT (Vincennes), 10H 642.
94. CBVN,
I:1 [4/6/48]:4.
95. Chủ tịch Hội
đồng Tổng trưởng, kiêm Tổng trưởng Quốc Pḥng: Nguyễn Văn Xuân. QVK,
Phó Chủ tịch, Tổng trấn Nam Phần: Trần Văn Hữu. QVK, Tổng trấn Trung
phần: Phan Văn Giáo. QVK, Tổng trấn Bắc phần: Nghiêm Xuân Thiện. QVK,
Tùng Bộ Quốc Pḥng: Trần Quang Vinh. Lễ nghi, Quốc Gia Giáo dục:
Nguyễn Khoa Toàn. Nội vụ: Nguyễn Hữu Trí [không nhận] Tư pháp:
Nguyễn Khắc Vệ. Tài chánh/Kinh tế Quốc gia: Nguyễn Trung Vinh. Công
tác & Kế hoạch: Nguyễn Văn Ty. Thông tin, Báo chí & Tuyên truyền:
Phan Huy Đán, Y sĩ [sau đổi tên thành Phan Quang Đán] Canh Nông:
Trần Thiện Vàng. Y tế: Đặng Hữu Chí, Y sĩ. Thứ trưởng tùng Dinh Chủ
tịch: Đinh Xuân Quảng. Thứ trưởng tùng Bộ Quốc gia Giáo dục: Hà Xuân
Tế (CBVN, I:1, [4/6/1948]:15-6). V́ Nguyễn Hữu Trí từ chối Bộ
Nội vụ, Xuân kiêm nhiệm. Ngày 25/9/1948, Trí được cử làm đại diện VN
tại Paris, với Vũ Quí Măo làm “Đặc vụ viên.” “Chỉ dụ” ngày 9/6/1948
bổ nhiệm Đỗ Quang Giai làm Thứ trưởng Nội vụ; và Ngô Quốc C̣n, Thứ
trưởng Lao Động & Hoạt động xă hội (CBVN, I:2
[18/6/1948]:23-4). Qua ngày 28/6/1948, Lê Công Bộ làm Thứ trưởng Nội
An (CBVN, I:3[31/7/1948]:35). Ngày 2/6/1948, Xuân kư sắc lệnh
thứ ba, ban hành “Pháp qui tạm thời” (Statut Provisoire) của nước
Việt Nam. Cờ vàng, 3 sọc đỏ. Quốc ca: Thanh niên hành khúc [nhưng
không nhắc tên tác giả Lưu Hữu Phước. Ngày 7/6/1948, Xuân kư sắc
lệnh hủy bỏ pháp qui tạm thời này. Một tuần sau, ngày 14/6, Xuân kư
Sắc lệnh liên quan đến các tổ chức công quyền tạm thời. Việt Nam
chia làm ba miền, thủ đô là Hà-nội. Quốc kỳ là cờ vàng (chiều dọc
bằng 2/3 chiều dài), giữa có 3 sọc đỏ (dày bằng 1/15 chiều dọc của
lá cờ và cũng cách nhau chừng ấy). Quốc ca: Thanh niên hành khúc.
Theo Nguyễn Văn Tâm, Tâm là tác giả lá cờ vàng 3 sọc đỏ và chọn bài
hát của Lưu Hữu Phước làm quốc ca. Theo Nguyễn Khánh, lá cờ vàng ba
sọc đỏ là biến thể của lá cờ nền vàng ba sọc xanh của Cộng Ḥa Nam
Kỳợ.
96. Nguyên bản
tiếng Pháp: “La France reconnait solennement l’indépendance du
Vietnam auquel il appartient de réaliser librement son unité. De
son côté, le Vietnam proclame son adhésion à l’ờUnion FrancỄaise en
qualité d’Etat associé à la
France.
L’indépendence du Vietnam n’a d’autres limites que celles que lui
impose son appartenance à l’ờUnion FrancỄaise.” CBVN,
I:2 [18/6/48]:18; CAOM (Aix), GGI, Amiraux, 50062. Ngoài ra, 2/Việt
Nam bảo đảm tôn trọng những quyền lợi của công dân Pháp, tôn trọng
các nguyên tắc dân chủ, và dành ưu tiên cho các cố vấn và chuyên
viên kỹ thuật Pháp trong việc tổ chức nội bộ cùng kinh tế; 3/ sau
khi thiết lập một chính phủ lâm thời, các đại diện Việt Nam và Pháp
sẽ kư những thỏa ước về văn hoá, chính trị, quân sự, kinh tế, tài
chính và kỹ thuật.
97. FRUS,
1948, VI:25. Ngày 6/6/1948, tại Hà Nội, Báo L’Entente, cùng hầu
hết các báo chí loan tin về “Hiệp ước” (Accords) Hạ Long. Theo các
báo này, Bảo Đại đă kư hiệp ước với Bollaert, dưới sự chúng kiến của
Nguyễn Văn Xuân. Theo Phó Lănh sự Mỹ Edwin C. Rendall tại Hà-nội, cả
ba người cùng kư, và Bảo Đại dùng thêm hai chữ “S.M.” (Sa Majesté)
trước tên ḿnh; FRUS, 1948, VI:24. Hôm sau, 7/6, HCM phản đối
việc “bọn bù nh́n” (fantoche) kư kết ḥa ước với bất cứ nước ngoài
nào. Ngày 9/6/1948, Tổng Lănh sự Abbott gặp Xuân và Hữu. Theo Xuân
cần đạt hoà ước gấp, nếu muốn có cơ hội thành công. Việc thương
thuyết sẽ tiếp tục ở cả Pháp và Việt Nam, do “Siêu Đại sứ” Bảo Đại
thực hiện. Có thể Bảo Đại sẽ HCMi hương, nếu đó là kết quả của một
cuộc trưng cầu dân ư. (Tướng Pierre Boyer de Latour du Moulin, Tư
lệnh Quân Pháp ở miền Nam th́ cho rằng Bảo Đại sẽ HCMi hương trong
một thời gian ngắn). Xuân không mấy tin tưởng vào việc chiêu HCMi
những người Quốc Gia trong hàng ngũ Việt Minh. Việt Minh đang áp
dụng những thủ đoạn hung bạo–kể cả chôn sống–để ngăn chặn phong trào
về tề; FRUS, 1948, VI:25-6). Ngày 9/6/1948 này, Ferdinand
Baeyens, Giám đốc Á Châu vụ Pháp, thông báo Đại sứ Bruce: Chính phủ
Pháp rất bi quan về chính phủ Xuân. Bảo Đại không ưa Xuân, chỉ giữ
Xuân cho tới lúc “tường đă khô.” Bộ Ngoại Giao và Hải ngoại Pháp đều
muốn thay Xuân, bằng Diệm; FRUS, 1948, VII:24-25.
98. Nghị định
ngày 23/8/1948; CBVN, I:8 (4/9/1948):102. Bảy Viễn đặt bản doanh ở
số 31, rue de Canton, Chợ Lớn
99. CĐ ngày
3/7/1948, Marshall gửi Woodruff Wallner, Phụ tá Vụ trưởng Tây Âu
(Paris); FRUS, 1948, VI:30, 34-35.
100. FRUS, 1948, VI:25-26.
101. FRUS, 1948, VII:42.
Ngày 9/7/1948,
Bollaert ăn trưa với Bảo Đại. Khi Bollaert hỏi về việc HCMi hương,
Bảo Đại nói là c̣n tùy hoàn cảnh. Bảo Đại muốn đạt được càng nhiều
nhượng bộ của Pháp càng tốt; FRUS, 1948, VI:32-33.
102. FRUS,
1948, VI:32-33. Ngày 14/7, Marshall chấp thuận đề nghị của
Wallner, chỉ thị cho Đại sứ Caffery tiếp xúc chính phủ Schumann.
Ngày 15/7, Caffery báo cáo nhân viên Bộ Ngoại Giao Pháp cho biết vấn
đề cực kỳ khó khăn; Ibid., tr. 33-34. Nhưng năm ngày sau, 19/7,
chính phủ Schumann bị đổ.
103. CAOM (Aix), INF, c. 154/1354.
104.
FRUS,
1949,
VII:5.;
FRUS, 1949,
VII:6.
105.
FRUS, 1949, VII:7.
106.
FRUS, 1949, VII:10. Thư ngày 8/3/1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm
7 mục chính: Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam); Vấn đề ngoại
giao (Question diplomatique); Vấn đề quân sự (Question militaire):
Việt Nam sẽ có một quân đội riêng để duy tŕ trật tự, an ninh nội
địa và bảo vệ đế quốc (la défense de l'Empire). Trong trường hợp tự
vệ, có thể được các lực lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les
forces de l'Union francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo
vệ biên cương của toàn Khối Liên Hiệp Pháp; Vấn đề chủ quyền trong
nước (Souveraineté interne); Vấn đề tư pháp; Vấn đề văn hóa; Vấn đề
kinh tế và tài chính; CAOM (Aix), CP 290.
106.
FRUS, 1949, VII:10. Thư ngày 8/3/1949 của Auriol gửi Bảo Đại gồm
7 mục chính: Việt Nam thống nhất (Unité du Vietnam); Vấn đề ngoại
giao (Question diplomatique); Vấn đề quân sự (Question militaire):
Việt Nam sẽ có một quân đội riêng để duy tŕ trật tự, an ninh nội
địa và bảo vệ đế quốc (la défense de l'Empire). Trong trường hợp tự
vệ, có thể được các lực lượng Liên Hiệp Pháp yểm trợ (appuyé par les
forces de l'Union francaise). Quân đội VN cũng tham dự vào cuộc bảo
vệ biên cương của toàn Khối Liên Hiệp Pháp; Vấn đề chủ quyền trong
nước (Souveraineté interne); Vấn đề tư pháp; Vấn đề văn hóa; Vấn đề
kinh tế và tài chính; CAOM (Aix), CP 290.
107.
AAN, 1949:1545-6. Phụ bản các điều thỏa thuận chỉ công bố vào
ngày 18/6/1949.
108.
Nguyên văn: “La solution militaire n'est pas obtenue; Bao Dai ne
jouit d'aucune autorité au Viet Nam. Le Viet Nam est derrière Ho
Chi Minh. Il faut traiter en premier lieu avec Ho Chi Minh; AAN,
1949:1521.
109.
AAN, 1949:1522-1523.
110. AAN,
1949:1523, col 3.
111. AAN,
1949:1523, col 3.
112. CAOM (Aix),
PA 19, Carton 4/68; AAN, 1949:1590, col1; FRUS, 1949, VII:11.
113. SHAT
(Vincennes), Indochine, 10H 642.
114. FRUS,
1949, VII:35-36.
115.
FRUS, 1949,
VII:27,31.
116.
FRUS, 1949,
VII:
21-22, 38-45.
117.
FRUS, 1949,
VII:19-20.
118. FRUS,
1949, VII:24-25; Pentagon Papers (Gravel), I:63.
119. FRUS,
1949, VII:29-30.
120. Irving
1975:69.
121. CAOM (Aix),
CP 208; FRUS, 1949, VII:21.
122. Thủ Tướng:
“Đức” Bảo Đại, Quốc trưởng. Phó Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc
pḥng: Trung tướng Nguyễn Văn Xuân. Tổng trưởng Ngoại Giao: Nguyễn
Phan Long; Tư Pháp: Nguyễn Khắc Vệầ; Quốc Gia Kinh tế và Kế hoạch:
Trần Văn Văn. Bộ trưởng Phủ Thủ tướng kiêm Nội vụ: Vũ Ngọc Trản; BT
Tài chánh: Dương Tấn Tài; BT Ngoại Giao: Lê Thăng; BT Quốc Pḥng:
Trần Quang Vinh; BT Thương Mại & Kỹ nghệ: Hoàng Cung; BT Canh Nông,
Xă hội, Lao động: Phan Khắc Sửu; BT Công tác, Giao thông & Kiến
thiết: Trần Văn Của; BT Quốc Gia Giáo dục: Phan Huy Quát; BT Thanh
niên: Nguyễn Tôn Hoàn; BT Y tế: Nguyễn Hữu Phiếm; BT Thông tin: Trần
Văn Tuyên. TTK Chính phủ: Đặng Trinh Kỳ; CBVN, II:2 [13/8/1949]:14.
Ngày 3/7/1949, Bảo Đại kư sắc lệnh 4-CP, bổ nhiệm Nguyễn Hữu Trí làm
Thủ hiến Bắc Việt; Phan Văn Giáo, Thủ hiến Trung Việt, và Trần Văn
Hữu, Thủ hiến Nam Việt; CBVN, II:1 [6/8/1949]:6.
123. SHAT
(Vincennes), Indochine, 10H 1039.
124. Một trong
những biên khảo xuất sắc về liên hệ giữa QTCS với Đảng CSĐD trước
năm 1943 do học giả Anatoli Sokolov thực hiện. Ấn bản Việt ngữ của
tác phẩm này, theo Sokolov, không được chính xác. Một số phụ chú đă
bị cắt bỏ. Tác phẩm Ho Chi Minh: The Missing Years, 1924-1941
(2002) của Quinn-Judge và tuyển tập Lê Hồng Phong (Hà Nội:
2002) cũng chứa đựng nhiều tài liệu Nga giá trị. Xem thêm những công
bố của học giả Việt như Đỗ Quang Hưng, Trần Văn Hưng, v.. v... trong
Tạp chí Lịch Sử Đảng (1999-2000).
125. Đại tướng
Giáp, trong tập HCMi kư Điện Biên Phủ (1994) và trong các ấn
bản mới của HCMi kư (2001) đă ghi nhận sự thực lịch sử cay đắng này.
126. Ngày
21/6/1954, Churchill viết thư cho Eisenhower, đề nghị thành lập một
chiến tuyến chống Cộng trong vùng Thái B́nh Dương [“establishing
a firm front against Communism in the Pacific sphere]. Churchill
cũng tán thành việc thành lập một Liên Pḥng Đông Nam Á, giống như
Liên Pḥng Bắc Đại Tây Dương tại vùng Đại Tây Dương và Âu châu [We
should certainly have a SEATO, corresponding to NATO in the Atlantic
and European sphere]. Churchill nhấn mạnh: “In no foreseeable
circumstances, except possibly a local rescue, could British troops
be used in Indochina, and if we were asked our opinion we should
advise against United States local intervention except for rescue;”
FRUS, 1952-1954, XIII:1728-1729.
127. Sau đó, có
tin đồn Cường Đểẩ về Bangkok, được một cán bộ CS tên Quy hết sức
chiều đăi. Tuy nhiên, hiện chưa có tài liệu nào minh chứng việc này.
128. FRUS,
1950, VI:884-886. Tối ngày 25/10/1950, Acheson điện cho Heath về
việc thành lập QĐGVN. Theo Acheson, viên chức Pháp nghĩ rằng có thể
đưa các lực lượng giáo phái vào, tổng số chừng 75,000 người. Thục,
Chi và Diệm cũng muốn biến lực lượng Ki-tô Giáo thành một phần quân
đội; Ibid., VI:909-10. Ư kiến của Thục, thực ra, chẳng có ǵ mới lạ.
Từ năm 1947, quan tướng Pháp đă khéo léo sử dụng các sứ quân tôn
giáo, và ngay cả băng đảng, để ngăn chặn Việt Minh. Các Đơn Vị Lưu
Động Bảo Vệ Ki-tô Giáo [UMDC] của Leroy hoạt động không xa giáo phận
của Thục. Tháng 7/1950, Bộ Chỉ Huy UMDC rời về tỉnh lÿ Bến Tre.
Trung tá Leroy được làm Tỉnh trưởng tỉnh này [cho tới ngày
25/11/1952; SHAT (Vincennes), 10H 643.
129. Ngày Thứ Tư,
24/1/1951, XLTV Đại sứ Mỹ Gullion báo cáo là Bảo Đại đă nhận được
thư của Diệm. Nhưng Bảo Đại không ưa Diệm v́ Diệm từng nhiều lần từ
chối hợp tác. Phần anh em Diệm và Thục chủ trương giải pháp lập Bảo
Long lên ngôi, với Nam Phương và Cường Để làm Nhiếp Chính; FRUS,
1951, VI:359-61.
130. FRUS,
1951, VI:348.
131. Ngày
21/6/1954, Diệm nói với Đại sứ Heath: “I am best known figure in
Vietnam after Ho Chi Minh;” FRUS, 1952-1954,
XIII:1727. Khi
đại ngôn điều này, Diệm quên mất Bảo Đại, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn
Tường Tam, v.. v... Phê b́nh về lời hợm hĩnh của Diệm, một viên chức
ngoại giao Mỹ nhận xét Diệm là “nhân vật thứ hai, cách rất xa, HCM
Chí Minh.”
132. FRUS,
1952-1954, I:134-41.
133. FRUS,
1952-1954, I:522-523.
134. Thương
thuyết bắt đầu từ ngày 8/3/1954. Ngày 4/6/1954 [28/4/1954], Laniel
và Nguyễn Trung Vinh kư thoả hiệp “kiện toàn [perfection] nền độc
lập của Việt Nam.” Hiệp ước này chỉ được “paraphé” [kư tắt]; SHAT (Vinvennes),
1K 233, d. 40.
135. Xem chi
tiết về tổ chức này trong Chính Đạo, VNNB, Tập I-C: 1955-1963
(Houston: Văn Hóa, 2000) & Tập II-B: Các tổ chức chính trị
(Houston: Văn Hóa, đang in). Xem thêm Phạm Văn Liễu, Trả Ta Sông
Núi, I:333-342. Nên lưu ư, trong Chính Cương của Cần Lao, không
hề đề cập đến thuyết “sáng tạo” hay “tạo hóa” mà đôi lần đề cập đến
thuyết “tiến hóa.” Điều này chứng tỏ Nhu có thể là một tín đồ Ki-tô,
nhưng “chống Giáo sĩ” [anti-clerical] như Nhu thú nhận với Phái đoàn
điều tra LHQ vào ngày 28/10/1963; UNGA, Agenda Item 77, Doc. A/5630,
7/12/1963. |
|