|
THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI VATICAN
VÀI SUY NGHĨ TỪ GÓC ĐỘ TRIẾT LƯ NGOẠI GIAO CỦA VIỆT
NAM
Phạm Phú Bổn
Ngày 27 tháng 6 năm
2005, ông Ngô Yên Thi, Trưởng ban của Ủy ban Tôn giáo Nhà nước Việt Nam, đă cầm
đầu một phái đoàn chính thức viếng thăm Vatican 5 ngày để thảo luận về mối quan
hệ giữa Việt Nam và Vatican. Đại diện của hai bên đă soát xét lại “quan hệ giữa
Việt Nam và Holy See với hy vọng rằng hai nước sẽ mau chóng tiến đến việc b́nh
thường hóa quan hệ nầy”. Thông Tấn xă Việt Nam cũng loan báo bên lề rằng hai bên
đă đạt được một đồng thuận nhằm “tăng cường liên lạc để đẩy mạnh sự hiểu biết
lẫn nhau, chỉnh đốn những vấn đề cùng lợi ích và làm cho mối quan hệ song phương
được tốt đẹp hơn”. Phái đoàn đă làm việc với Hồng y Tổng Giám mục Ngoại trưởng
Giovani Lajolo và Giám mục phụ tá Pietro Parolin, Hồng y Crescenzo Sepe, và lănh
đạo của các Thánh bộ Công lư và Ḥa b́nh, Thánh bộ Đối thoại giữa các Tôn giáo,
thăm viếng Đài Phát thanh Vatican và các chủng sinh Việt Nam đang theo học tại
Đại học Urbanian ... Đặc biệt vào ngày 29, phái đoàn Việt Nam đă tham dự một
Thánh lễ Misa do chính Giáo hoàng Benedicto XVI chủ lễ và, trước sự chứng kiến
của phái đoàn Việt Nam nầy, Giáo hoàng đă choàng lên Hồng y Hà Nội Joseph Ngô
Quang Kiệt một pallium trắng chính thức khẳng định uy quyền và trách nhiệm của
Hồng y Joseph Kiệt trong giáo phận Hà Nội của ḿnh. Qua hành động đầy tính
biểu tượng nầy, Giáo hoàng Benedicto XVI đă gián tiếp gửi đến giới lănh đạo Việt
Nam một thông điệp về đặc quyền tuyệt đối của Giáo hội trung ương (La Mă) trong
việc điều hành các Giáo hội địa phương (Việt Nam). Nhưng song song với thông
điệp đó, Giáo hoàng cũng đồng thời gián tiếp công khai xác nhận rằng đảng CSVN
là lực lượng lănh đạo, quản lư và làm chủ quốc gia Việt Nam.
Chi tiết về nội dung và
kết quả của những buổi họp đàm phán tại Vatican lẽ dĩ nhiên đă không được công
khai hóa. Tuy nhiên, ta có thể dễ dàng thấy được một trong những kết quả cụ thể
của lộ tŕnh đàm phán bang giao đó là đúng 5 tháng sau, vào ngày 28 tháng 11
cùng năm, Hồng y Crescenzio Sepe, Tổng trưởng Thánh bộ Rao giảng Tin mừng cho
các Dân tộc, đă cầm đầu một phái đoàn viếng thăm Việt Nam trong 9 ngày theo lời
mời của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hồng y Crescenzio Sepe là vị giáo phẩm
Vatican cao cấp nhất đến Việt Nam kể từ chuyến viếng thăm năm 1990 của Hồng y
Card Roger Etchegaray. Trong 9 ngày lưu trú tại Việt Nam, Hồng y Crescenzio Sepe
đă gặp và làm việc với các giáo phận Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh. Hồng
y cũng đă chủ lễ thụ phong Linh mục cho 57 tân Linh mục Việt Nam ở miền Bắc, và
ban phép lành cho tân giáo phận Bà Rịa vừa được tách ra từ giáo phận Xuân Lộc (là
giáo phận có số giáo dân đông nhất Việt Nam, gần 1 triệu người, mà đa số có
nguồn gốc từ miền Bắc trước 1954), nâng tổng số Giáo phận tại Việt Nam lên thành
26 đơn vị. Dù nguồn tin tại Vatican xác định rằng chuyến viếng thăm nầy “th́
hoàn toàn chỉ có tính cách thăm viếng tôn giáo (strictly pastoral)” nhưng tại
Hà Nội, Hồng y Crescenzio Sepe cũng đă được Phó Thủ tướng Vũ Khoan tiếp kiến và
phái đoàn đă có những buổi làm việc với các quan chức Việt Nam.
Sau gần 15 năm đông
lạnh các quan hệ, mà quá tŕnh liên lạc với nhau đă chỉ là những nỗ lực dang dở,
điểm xuyết bằng các đối đầu căng thẳng và/hoặc ve văn lạnh lùng, th́ sáu tháng
vừa qua thật sự đă đánh dấu một chuyển đổi sâu sắc và ngoạn mục trong quan hệ
giữa hai nước. Một nước th́ phất cao ngọn cờ Hữu Thần, và được xem như “thống
lănh” của các tôn giáo thờ chỉ một Chúa (monotheism). Và một nước th́ đánh dịu
lại hồi trống Vô Thần (atheism), và được xem như “thành đồng” đă đổi mới của
các nước theo Xă hội chủ nghĩa Duy vật.
V́ khúc ngoặt quan
trọng đó, và trước viễn tượng của một sự thiết lập quan hệ ngoại giao b́nh
thường giữa Việt Nam và Vatican City, ta thử xét biến cố nầy từ góc độ triết lư
ngoại giao của Việt Nam và trên cơ sở quyền lợi lâu dài và bền vững của dân tộc.
Thế giới bỗng nhỏ
lại như một ngôi làng ...
Theo thống kê của Cục
T́nh báo Trung ương Mỹ CIA th́ cho đến tháng 12 năm 2005, trên toàn thế giới có
tất cả 6,446,131,400 người dân, sinh sống trong 239 quốc gia. Và để có thể bao
gồm được toàn thể nhân loại, CIA đă định nghĩa một quốc gia căn cứ trên 4 tiêu
chuẩn tuy cơ bản nhưng lỏng lẻo sau đây: (a) có một lănh thổ, (b) có một tập hợp
dân chúng, (c) có một chính phủ, và (d) có một văn kiện pháp lư làm cơ sở vận
hành dân chúng và chính phủ trong lănh thổ đó. Với bốn tiêu chuẩn nầy, và chỉ
căn cứ trên dân số mà thôi, ta có những nước cực lớn như Trung quốc (1,306, 313,
812 dân), hoặc cực nhỏ như Pitcairn Islands (45 dân). Riêng Việt Nam th́ đứng
thứ 15 với 83,535, 576 dân (trên nước Đức và dưới Phi-Luật-Tân), c̣n “nước”
Vatican City th́ xếp hạng thứ 235 với 932 “dân”.
Ngoài các quan hệ song
phương, giữa các quốc gia c̣n thiết lập những quan hệ đa phương với nhau trong
một hệ thống chằng chịt những tổ chức (như Tổ chức Lao động Thế giới ILO), liên
minh (như Tổ chức Minh ước Bắc Đại Tây dương NATO), hiệp hội (như Hiệp Hội các
Quốc Gia Đông Nam Á ASEAN), chương tŕnh (như Chương Tŕnh Thực Phẩm Thế Giới
WFP) , diễn đàn (như Diễn Đàn Châu Á Thái B́nh Dương APEC) và nhiều h́nh thái tổ
chức khác trên cơ sở hợp tác đồng đẳng, đồng quyền và đồng lợi. Tùy bản chất của
mối liên hệ và tùy tương quan quyền lực khu vực cũng như toàn cầu, mỗi quốc gia
có thể gia nhập một hay nhiều tổ chức; thậm chí trong những quan hệ song phương,
một quốc gia nhiều khi c̣n thiết lập bang giao với một nước nầy mà không quan hệ
với một nước khác (điển h́nh như trường hợp Vatican chọn bang giao với Đài Loan
thay v́ Trung Quốc).
Liên Hiệp Quốc là tổ
chức quốc tế tập hợp nhiều quốc gia hội viên nhất, nhưng cũng chỉ có 191 nước
gia nhập, nghĩa là 79% tổng số tất cả quốc gia trên toàn thế giới. Và như vậy là
có đến 48 quốc gia (21%) không gia nhập tổ chức quốc tế nầy v́ nhiều lư do khác
nhau. Việt Nam gia nhập tổ chức quốc tế nầy vào ngày 20 tháng 9 năm 1977. Hai
nước mới gia nhập gần đây nhất (2002) là Đông Timor và Thụy Sĩ. C̣n Vatican City
th́ chưa bao giờ là hội viên chính thức của Liên Hiệp Quốc cả.
Trong những thập niên
vừa qua, mỗi quốc gia, thông qua chính sách đối ngoại của ḿnh, đều đă phải đối
diện để xử lư những cuộc khủng hoảng ở mức độ toàn cầu như ô nhiễm môi sinh,
bùng nổ thông tin, bạo lực khủng bố và bạo lực chống khủng bố, dịch tể thú vật
và dịch tể trên người, phân bố tài nguyên bất đồng đều, suy cạn năng lượng và
thực phẩm, giảm tốc kinh tế, kiểm soát vũ khí hạt nhân, tranh chấp biên giới,
mâu thuẫn tôn giáo, v.v...Tất cả làm cho cấu trúc và vận hành thế giới thêm phức
tạp, thêm khó khăn. Thế giới bổng nhỏ lại như một ngôi làng, mọi gia đ́nh đều
quan hệ với nhau, mọi sự cố đều ảnh hưởng đến cả làng. Do đó mà mỗi quốc gia đều
phải liên tục điều chỉnh lại chính sách ngoại giao để vừa bảo vệ quyền lợi của
chính ḿnh trong một thế giới tương thông nhiều bất trắc, nhưng cũng đủ uyển
chuyển để đóng góp vào sự thịnh vượng và nền ḥa b́nh chung của nhân loại.
Ngoại giao của
Vatican City – Một chức năng duy nhất
Vatican City là một
quốc gia đặc biệt trong cộng đồng thế giới v́ bản chất thần quyền và thế quyền
của nó đan quyện vào nhau bất khả phân ly. Tư cách lưỡng tính đó (dual status)
cho phép quốc gia nầy vừa hành xử như một nước (state) với những quy định quốc
tế rơ ràng, vừa như một thánh địa tôn giáo với những quy ước uyển chuyển trong
đối ngoại. Cho nên tuy lănh địa quốc gia rất nhỏ (0.44 cây số vuông), “công dân”
rất ít (932 người), ngân sách quốc gia được công bố không đến 180 triệu Mỹ kim
(2004), nhưng v́ sự hiện diện của hơn một tỉ giáo dân trên toàn thế giới, nên
hoạt động đối ngoại của Vatican đă phủ chụp lên toàn nhân loại và lên mọi lănh
vực, kể cả những lănh vực rất ít liên quan đến, hoặc thuộc thẩm quyền của, tôn
giáo như vũ khí hạch nhân, nguyên tử năng, hàng không dân dụng, dược phẩm quân
dụng, nông phẩm, vận tải đường biển, vệ tinh viễn thông, phân bố di dân, ngoại
thương, sản xuất công nghệ, công pháp quốc tế, du lịch và khí tượng.
Holy See (Thánh Địa) là
định chế pháp lư chính thức có trách nhiệm lănh đạo và điều hành quan hệ ngoại
giao cho Vatican City. Định chế nầy, cho đến năm 2005, đă thiết lập quan hệ với
174 nước có chủ quyền (sovereign states), Cộng đồng Âu châu và Malta. Trong số
nầy, 69 nước có phái bộ ngoại giao thường trực tại Vatican City, kể cả Nga và
PLO (Tổ chức Giải phóng Palestine), và là nước Âu châu duy nhất công nhận Đài
Loan thay v́ Trung quốc. Holy See c̣n là thành viên của 31 tổ chức quốc tế: 12
với tư cách hội viên, và 21 với tư cách Quan sát viên.
Hoạt động đối ngoại của
Holy See được điều hành bởi một Hồng y Ngoại trưởng (Cardinal Secretary of
State) và bao gồm 179 phái bộ ngoại giao có trụ sở thường trực trên thế giới.
Chức năng của Holy See th́ nhất quán, triệt để và xuyên suốt: Là công cụ đối
ngoại để yểm trợ cho mục vụ truyền giáo của Vatican trên toàn thế giới. Cho nên
mọi chính sách đối ngoại của nó phải phục vụ cho ưu tiên số một của Vatican là
củng cố và phát triển ảnh hưởng thần quyền và thế quyền của Ṭa thánh Công giáo
La Mă. Điều nầy th́ dễ hiểu và chấp nhận được. Tuy nhiên, cũng từ đó, ta thấy
nổi cộm một khác biệt rất quan trọng, đó là Công giáo La Mă là tổ chức tôn giáo
duy nhất trên thế giới có một công cụ ngoại giao để tập trung vào việc truyền
đạo phúc âm hóa (evangelization) . Các tôn giáo lớn khác, kể cả 5 tôn giáo cùng
thờ một Chúa với Vatican (như Hồi giáo, Do Thái giáo, Tin Lành giáo, Anh giáo
và Chính Thống giáo), và nhất là các tôn giáo không tin vào Chúa (như Phật giáo,
Ấn Độ giáo, Bà La Môn giáo), chủ yếu chỉ truyền đạo bằng chính các cá nhân tu sĩ
và tín đồ thông qua những tổ chức tôn giáo rời rạc, tự phát và khiêm nhường mà
thôi.
Nếu trong quá khứ, khi
Giáo hoàng có uy quyền tuyệt đối trên vua chúa và có thể cỡi trên các đợt sóng
chinh phục đất đai của các đế quốc (Ư, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp, Bỉ, Ḥa
Lan, ...) để mở rộng “vương quốc của Chúa”, thậm chí có thời kỳ c̣n lồng vào
các cuộc chiến tranh xâm thực đó một nội dung tôn giáo (8 cuộc thánh chiến ở
châu Âu, chiến tranh thực dân ở ba châu Á, Phi và Nam Mỹ) th́ ngày nay , Vatican
City chỉ bằng sự hiện diện trong các tổ chức quốc tế, bằng ưu quyền chỉ đạo hàng
dọc xuống các Hội đồng giám mục cấp quốc gia, bằng hệ thống tài chánh ngân hàng
siêu biên giới, bằng mạng lưới truyền thông đại chúng toàn cầu, bằng những liên
minh chính trị kinh tế, và nhiều khi c̣n bằng quan hệ cá nhân với các lănh tụ
kinh tế chính trị, để tiến hành chính sách nhất điểm lưỡng diện (ngoại giao để
truyền đạo) của ḿnh.
Có nắm bắt được chức
năng nầy của nền ngoại giao của Holy See th́ ta mới có thể giải thích được những
quyết định ngoại giao cực kỳ nghịch lư của Ṭa thánh Vatican như không kêu gọi
ḥa b́nh tại Đông Timor, im lặng trước Hiệp ước tài giảm binh bị START II, hợp
tác và khuyến khích Đức Quốc xă tiêu diệt dân Do Thái, ủng hộ chính quyền
Eiseinhower về dự định ném bom nguyên tử chiến thuật tại Điện Biên phủ, hợp tác
với Mỹ để khuynh loát Ba Lan, chống đối “phải đạo” quyết định Mỹ xâm lăng Irak
của tổng thống Georges Bush, ... Tuy nghịch lư, nhưng xuyên suốt các thái độ khó
hiểu nầy như “một sợi chỉ đỏ” là chủ trương hại đạo người, lợi đạo ḿnh nhất
quán.
Tông huấn Á châu –
Thủ tiêu văn hóa bản địa
Tại Á châu (nơi số tín
đồ Công giáo chiếm 2.2% trên tổng số 3.3 tỉ người), chính sách ngoại giao của
Holy See nằm trong một sách lược truyền đạo tổng thể được chỉ đạo bởi văn kiện
“Ecclesia in Asia” (Tông Huấn Giáo Hội Tại Châu Á ), do chính Giáo hoàng
Gioan-Phaolồ II chính thức ban hành nhân chuyến công du mục vụ tại Ấn Độ vào
tháng 11 năm 1999.
Trong số các quốc gia Á
châu, Việt Nam sẽ là đối tượng hàng đầu của Tông Huấn nầy v́ ba lư do chính đă
tạo hoàn cảnh chín mùi cho kế hoạch truyền đạo của Vatican:
(i) Lịch sử gần
400 năm h́nh thành đầy oan trái của giáo hội Việt Nam địa phương, đặc biệt lên
đến cao điểm dưới chế độ kỳ thị tôn giáo Ngô Đ́nh Diệm, vẫn c̣n hằn in những vết
thương sâu dài chưa kết thành sẹo mà dân tộc Việt Nam không thể nào quên được.
(ii) Số lượng
tín đồ cuồng tín đứng hàng thứ nh́ tại châu Á (sau Phi Luật Tân), nhưng lại đứng
hàng thứ nhất thế giới về số 117 “thánh tử đạo” do chính cố Giáo hoàng Gioan
Phaolồ II gấp rút tấn phong hàng loạt chỉ trong ṿng một năm.
(iii) Chế độ
chính trị Xă hội Chủ nghĩa “vô thần” đương quyền đang tiếp tục “đổi mới” kinh tế
với tất cả những yếu kém hoặc sơ hở xă hội và cạm bẫy văn hóa để t́m cách hội
nhập theo cung cách Tây phương vào xu thế toàn cầu hóa.
Ta biết rằng “Tông Huấn”
là văn kiện mang tính chất giáo huấn của Giáo hoàng (vị “chăn dắt chủ chiên”)
cho các vị chức sắc giáo phẩm và tín đồ (“con chiên”) tuân theo mà làm. Nội dung
của Tông Huấn Á châu đề cập đến từ những vấn đề lớn như kinh tế, chính trị, xă
hội đến những vấn đề nhỏ như nợ nước ngoài, thông tin đại chúng, môi trường.
Thậm chí cả những vấn đề nhỏ như AIDS, mại dâm, ma túy ...cũng được nhắc đến.
Tuy nhiên, trọng điểm của Tông Huấn dĩ nhiên là vấn đề văn hóa, nhấn mạnh một số
tiền đề lư luận, các nhận thức văn hóa chỉ hướng, và những phương thế tiếp cận
với văn hóa Á châu để thủ tiêu, rồi thay thế, những nền văn hóa bản địa nầy:
• Ngay từ
phần nhập đề, bất chấp hệ quy chiếu lịch sử – nhân văn rằng cách đây 2000 năm
chưa có một thực tại địa lư gọi là “Á châu”, Tông Huấn đă xác nhận chắc nịch một
tiền đề nửa thần học nửa lịch sử rằng Thật vậy, chính tại châu Á, ngay từ đầu,
Thiên Chúa đă mặc khải và thực hiện ư định cứu độ của Ngài ... Ngài sai con duy
nhất của ḿnh xuống, là Đức Giêsu Cứu Thế mang h́nh hài người Á châu. Tiền đề
khiên cưởng nầy rất cần thiết cho Tông Huấn, sau nầy, đóng chốt một kết luận rất
hàm hồ nhưng cũng rất hấp dẫn vừa cho cả “dân Chúa” lẫn “dân ngoại”: Chúa đă có
mặt nơi các dân tộc ấy một cách nào đó rồi . . . mà chỉ có Chúa mới biết (Số
21). Tiền đề đó cũng là một lời hiệu triệu động viên và kích thích các thừa sai
rằng Không cá nhân nào, không dân tộc nào, không văn hóa nào có thể dửng dưng
trước tiếng gọi của Đức Giêsu (Số 14).
• Cũng trong
phần nhập đề nầy, đoạn số 1 với tiêu đề Kế hoạch kỳ diệu của Thiên Chúa tại châu
Á, Tông Huấn mô tả quá tŕnh truyền đạo và vạch ra mục tiêu của Giáo hội tại Á
châu như sau: Nếu trong thiên niên kỷ thứ nhất, thánh giá đă được trồng trên
đất Âu châu, trong thiên niên kỷ thứ nh́, thánh giá được trồng trên đất Mỹ châu
và Phi châu, th́ chúng ta có thể cầu xin trong thiên niên kỷ thứ ba, Giáo hội sẽ
gặt được một mùa gặt lớn trên lục địa vừa rộng lớn vừa tràn trề sức sống nầy. (Số
1). Điểm đáng nói là Tông Huấn đă tránh không đề cập đến quá tŕnh trồng thánh
giá đó đă diển ra bằng những cuộc thánh chiến đẫm máu, bằng những ṭa án dị giáo
độc ác, bằng những giáo triều dâm loạn và hiếu sát ... đă đẩy Âu châu vào Thời
đại tăm tối (Dark Age) và đă tiêu diệt văn hóa, cưởng chiếm đất nước của bao
nhiêu dân tộc tại Nam và Trung Mỹ. Lại càng không nhắc ǵ đến t́nh trạng suy sụp
và khủng hoảng nội sinh hiện nay của Giáo hội Công giáo La Mă tại Bắc Mỹ và Âu
châu mới thật sự là lư do chính để Giáo hội ... di tản chiến thuật qua châu Á
nghèo nàn về kinh tế nhưng phong phú và sung măn về tôn giáo !
• Sau đó,
bằng thái độ ngạo mạn của tâm cảnh đế quốc thần quyền của thế kỷ thứ 17, Tông
Huấn đánh giá t́nh trạng tôn giáo tại Á châu như sau: Do Thái giáo, Hồi giáo, Ấn
giáo, Phật giáo, Lăo giáo, Khổng giáo, Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism), đạo Giaina
(Jainism), đạo Sikh và Thần đạo (Shintoism). Các giá trị tôn giáo mà các đạo ấy
giảng dạy th́ đang chờ được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô (Số 6); và xác định
một khả thể rằng Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo thật sự đều đang khai sáng mọi
người ... điều ấy không loại trừ việc họ được kêu gọi đến nhận lănh đức tin và
phép Rữa như Chúa hằng mong muốn hết cho mọi người (Số 31). Hai đánh giá hoang
tưởng đó là để Tông Huấn đi đến một kết luận khiên cưỡng khác rằng ẩn sâu trong
các dân tộc, các nền văn hóa và các tôn giáo Á châu nầy luôn luôn có một sự khao
khát “nước hằng sống”, một sự khao khát do chính Chúa Thánh Thần khơi dậy và chỉ
ḿnh Đức Giêsu Cứu Thế mới có thể thỏa măn (Số 18). Trắng trợn hơn, đoạn số 2
của Tông Huấn c̣n viết:Đức Kitô là trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài
người. Ngài là đấng cứu chuộc duy nhất của thế giới, khác hẳn vói các vị sáng
lập các tôn giáo khác. (Số 2) ... Các giá trị tôn giáo mà các đạo ấy giảng dạy
đang chờ được hoàn thành trong Đức Giêsu Kitô (Số 6).
• C̣n về mặt
chính trị th́ Tông Huấn phân tích rằng Tại Á châu ngày nay, t́nh h́nh chính trị
vô cùng phức tạp, với đủ mọi ư thức hệ, từ những h́nh thức chính phủ dân chủ đến
những h́nh thức cai trị thần quyền, các chế độ độc tài quân sự và các ư thức hệ
vô thần đang có mặt rất rơ ... tại một số nơi, Kitô hữu không được phép giới
thiệu Đức Giêsu cho người khác (Số 8) để, từ đó và do đó, cất lên lời hiệu triệu
xuất quân chính trị rằng ...khắp nơi tại châu Á, càng ngày người ta càng ư thức
hơn rằng ḿnh có khả năng thay đổi những cơ chế bất công đó ... ngày càng có
nhiều người đ̣i hỏi tham gia chính phủ ... Chúa Thánh Thần luôn giúp đở và hổ
trợ các nỗ lực của dân chúng muốn thay đổi xă hội nhằm thỏa măn khát vọng của họ
là được sống dồi dào hơn như Chúa hằng mong muốn (Số 8).
• Sau đó,
trên cơ sở quyền năng của Chúa Thánh thần biến đổi , tái tạo xă hội và văn hóa
loài người ... gieo hạt giống chân lư vào các dân tộc, tôn giáo, văn hóa và
triết lư của họ (Số 15) và, đi xa hơn, Chúa Thánh thần thống nhất mọi hạng người
với những phong tục tập quán khác nhau (Số 17) ... Chúa Thánh thần từng hoạt
động tại châu Á (Số 18), Tông Huấn nh́n nhận rằng Vấn đề cho Kitô giáo gặp gở
các văn hóa và tôn giáo lâu đời của địa phương đă trở nên cấp thiết. Đây là một
thách đố lớn đặt ra cho việc phúc âm hóa, nhưng là loại thách đố dễ giải quyết
v́ các hệ thống tôn giáo ở đây như Phật giáo, Ấn Độ giáo đă mang tính chất cứu
độ rơ rệt. Đánh đồng ư niệm (mỗi người) tự độ của Phật giáo với (chỉ Thiên Chúa
mới) cứu độ của Công giáo, cũng như cố t́nh quên đi rằng nội dung cốt lỏi của
Phật giáo là giải thoát chứ không phải cứu độ (Phật thuyết: “Cũng như nước đại
dương chỉ có một vị mặn, giáo pháp của ta chỉ có một vị là giải thoát”), Giáo
hội Công giáo La Mă đă nhập nhằng đánh đồng các giá trị của tôn giáo Á châu với
giá trị của Kitô giáo để dễ ... truyền đạo ! Ta đă thấy sự nhập nhằng gian dối
nầy nơi một số Linh mục và giáo dân Việt Nam trong nỗ lực đồng hóa Thiên Chúa
với khái niệm “Trời” và “Ngọc hoàng Thượng đế” của tín ngưỡng dân gian Việt Nam,
cũng như một Linh mục giáo sư Việt Nam đoan quyết rằng thi hào Nguyễn Du đă được
gợi hứng từ Kinh thánh để sáng tác ra ... Truyện Kiều !
• Cuối cùng
là phương pháp tiến hành mùa gặt lớn: Về chính trị th́ vung lá bài hai mặt đánh
đánh – đàm đàm vừa đ̣i hỏi tham gia chính phủ nhưng lại vừa phát động việc thay
đổi cơ chế , về tôn giáo th́ liên tôn để cải đạo người dân trên quan điểm Kitô
giáo, đối thoại liên tôn không phải chỉ là một cách để giúp các bên hiểu biết
nhau và làm giàu cho nhau, mà c̣n là một phần trong chính sứ mạng phúc âm hóa
của Giáo hội (Số 31), về xă hội th́ núp sau chiêu bài đấu tranh có điều kiện cho
công bằng xă hội, Giáo hội phải làm hết sức ḿnh để khắc phục những tệ đoan ấy,
để hành động thay mặt những người bị bóc lột nhiều nhất và để t́m cách dẫn những
con người nhỏ bé ấy đến với t́nh yêu của Đức Giêsu (Số 34). Quyết tâm của Tông
Huấn đă rơ: Sẽ san bằng đám cỏ văn hóa bản địa để trường kỳ bắt đầu mùa gặt lớn
v́ Trái tim Giáo hội sẽ không bao giờ nghỉ ngơi bao lâu toàn bộ châu Á chưa t́m
được sự nghỉ ngơi trong Đức Kitô (Số 10)
Rơ ràng là nói ǵ th́
nói, làm ǵ th́ làm, Tông Huấn Á châu đă không những vi phạm chủ quyền của các
quốc gia Á châu mà c̣n trịch thượng xem thường các giá trị văn hóa, tôn giáo,
triết lư Á châu, và xem tất cả các giá trị nầy như là chướng ngại vật cần thủ
tiêu cho tiến tŕnh phúc âm hóa toàn bộ châu Á. Nói như Mac Kher, “Tông huấn Á
châu là một lời tuyên chiến chống nền văn hóa Á đông, các tôn giáo Á đông, và xă
hội Á đông nói chung, Ấn Độ giáo nói riêng”
Ư đồ của Tông Huấn đă
rơ, các mặt trận ngoại giao của Holy See đă bắt đầu, Việt Nam đối trị ra sao ?
Ngoại giao Việt Nam
– Một motto ba vế
Dù những nghị quyết về
đổi mới được khai sinh từ năm 1986 trong khuôn khổ của Đại hội VI, nhưng những
nghị quyết nầy chỉ thật sự đi vào cuộc sống và phát huy được hiệu quả khi đảng
Cọng sản Việt Nam, từng bước một trong 5 năm sau đó, mạnh dạn triển khai một
loạt các chính sách về kinh tế tài chính xă hội, và nhờ đó đă nâng tiến độ phát
triển kinh tế trong suốt thập niên 90’s lên cao để trở thành một quốc gia phát
triển nhanh và bền vững nhất trong vùng Đông Nam Á.
Song song với, và hỗ
trợ cho, công cuộc hóa thân gian lao và triệt để đó là một chính sách ngoại giao
có thể tóm tắt trong một motto ba vế, được công bố chính thức cho bạn củ và thù
xưa đều biết: “Đóng lại quá khứ, hướng về tương lai – Đa diện hóa và đa phương
hóa nhưng không can dự vào nội t́nh của nhau – Làm bạn với tất cả mọi người để
phát triển quốc gia và xây dựng ḥa b́nh và thịnh vượng trên toàn thế giới”.
Chính sách nầy đă giúp Việt Nam phá vỡ được ṿng vây ngoại giao của Mỹ và các
đồng minh Tây phương trong giai đoạn đầu và, sau đó, đă biến Việt Nam trở thành
đối tác ngoại giao cần thiết và b́nh đẳng của chính hai kẻ cựu thù Pháp và Mỹ
.
Trong khung cảnh tái
phân bố địa chính toàn cầu sau chiến tranh lạnh với sự ra đời của nhiều nước mới,
hiện nay (12/2005), Việt Nam đă thiết lập quan hệ ngoại giao với 164 nước. Với
ưu tiên hàng đầu quyết bảo đảm an ninh lănh thổ quốc gia, Việt Nam đă, trước hết,
đặt trọng tâm vào việc kiện toàn những mối quan hệ tốt đẹp với ba nước láng
giềng Lào, Cambốt và Trung quốc. Sau đó là các nước vùng Đông, Nam và Đông Nam Á,
cũng như mở rộng ra vùng Châu Á Thái B́nh Dương. Đồng thời, Việt Nam cũng tiến
đến việc thắt chặt lại quan hệ với các nước trong khối Xă hội Chủ nghĩa cũ, các
nước mới thuộc khối Tư bản Tây phương, và nhất là tham gia tích cực vào các tổ
chức quốc tế. Việt Nam đă trở thành hội viên chính thức (hoặc quan sát viên
thường trực) của 42 tổ chức vùng và quốc tế . Đó là chưa kể sự tham dự của Việt
Nam (dưới h́nh thức “ngoại giao nhân dân” – people diplomacy) vào hàng trăm tổ
chức khác như thể thao, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, xă hội, giáo dục, khoa
học, công nghệ, …... ở tầm khu vực hoặc quốc tế. Đặc biệt, Việt Nam đă trở thành
hội viên chính thức của Tổ chức Liên Hiệp Quốc năm 1977 (và được bầu làm Phó Chủ
tịch Hội đồng khoáng đại LHQ năm 1997), Công ước Bali năm 1992, ASEAN và AFTA
năm 1995. Cũng từ năm nầy, Việt Nam hoàn toàn hội nhập vào cộng đồng quốc tế khi
b́nh thường hóa quan hệ ngoại giao với Mỹ và kư Hiệp định khung (Framework
Agreement) với Cộng đồng Âu châu.
Triết lư đối ngoại
của Việt Nam
Nh́n lại lịch sử nước
ta kể từ thời lập quốc cho đến nay (mà quá tŕnh của nó chủ yếu mang nội dung
quân sử), các chính sách và hoạt động ngoại giao đă luôn luôn là một công cụ
hiệu quả, một thành tố bất khả phân ly trong cuộc đấu tranh toàn diện chống
ngoại xâm để bảo toàn độc lập dân tộc và toàn vẹn lănh thổ. Ngay cả trong thời
b́nh, các chính sách ngoại giao nầy cũng được huy động để hổ trợ cho công cuộc
phát triển đất nước và mở rộng biên cương. Lư Thường Kiệt, Trần Nhân Tông,
Nguyễn Trăi, Nguyễn Huệ, Minh Mạng, Hồ Chí Minh ... đă là những kiến trúc sư
kiệt xuất thiết kế nên những chiến lược ngoai giao tuyệt vời trong những giờ
phút tổ quốc đối mặt với họa xâm lăng.
Những chiến lược ngoại
giao nầy, tuy thay đổi theo thời đại và điều kiện lịch sử nhưng đều là phần thể
hiện sinh động và sáng tạo của một triết lư ngoại giao (diplomacy philosophy)
tùy duyên mà bất biến, mang trong người ba đặïc tính nhân bản, dân tộc và ḥa
b́nh. Triết lư nầy c̣n phóng ra cho bạn và thù năm châu bốn biển h́nh ảnh của
một dân tộc Việt Nam hiếu ḥa nhưng không chủ bại, quyết thắng nhưng không hiếu
chiến, hội nhập nhưng không ḥa tan. Triết lư nầy có thể tóm tắt trong năm
truyền thống nội sinh của lịch sử và văn hóa Việt Nam:
• Lấy dân làm
gốc, nương dựa vào dân để tiến hành một nền ngoại giao nhân dân.
• Nắm chắc
nguyên lư độc lập dân tộc và toàn vẹn lănh thổ để đối phó với mọi t́nh huống.
• Phất cao
ngọn cờ yêu nước và công lư để đoàn kết dân tộc và những lực lượng yêu chuộng
ḥa b́nh và tiến bộ trên thế giới.
• Xiễn dương
nền nhân bản truyền thống của văn hóa Việt Nam, ḥa hiếu không hận thù để đóng
lại quá khứ hướng về tương lai.
• Xem Việt
Nam là một thành phần của nhân loại, kết hợp sức mạnh của tổ quốc với sức mạnh
của thời đại để giải quyết nhu cầu từng giai đoạn mà quyền lợi quốc gia đ̣i hỏi.
Giai tầng lănh đạo quốc
gia của nước ta, từ các triều đại phong kiến thuở xa xưa cho đến thời đại toàn
cầu hóa ngày nay, nói chung đều lấy một vài hay toàn bộ cả năm nguyên lư chỉ đạo
nầy để triển khai thành chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đó là những nguyên lư
nằm trong cẩm nang dựng nước và giữ nước vốn đă được tôi luyện để dẹp thù trong,
ngăn giặc ngoài, mà nghiệm thu chói lọi nhất là Việt Nam vẫn tồn tại vững vàng
để cùng với bạn bè năm châu nhịp nhàng bước vào thiên niên kỷ mới. Cho đến năm
2005 ...
Năm 2005, Việt Nam đă
quyết định nối lại đàm phán với Vatican ở cấp cao trong một bối cảnh mới. Mới về
cả mục đích đàm phán, nội dung đàm phán, và tiến độ đàm phán. Tuy nhiên, trong
lúc ư đồ và sách lược của Vatican th́ đă khá rơ ràng th́ về phía Việt Nam, như
thường lệ, chúng ta vẫn không có được những thông tin rơ ràng ngoài các văn bản
và tuyên bố chung chung bằng ngôn ngữ ngoại giao vô thưởng vô phạt.
Dầu vậy, bản thân quyết
định nầy, tự nó, cũng đă có thể cho ta thấy rằng chính sách ngoại giao của Việt
Nam (đối với Vatican) đă đi chệch khỏi, nếu không muốn nói là đi ngược lại,
triết lư nền móng của nó. Điều nầy có phản ánh một thay đổi sâu rộng ngay cả
trong triết lư trị nước của đảng CSVN, lực lượng lănh đạo quốc gia hiện nay
không ?
• Nói là “lấy
dân làm gốc” th́ làm sao đảng CSVN có thể bang giao với một Vatican vốn chỉ muốn
biến “dân Việt” thành “dân Chúa”, thành “tôi tớ hèn mọn của Chúa” trong mùa gặt
lớn, chỉ muốn bứng cái gốc rễ 4000 năm văn hiến về trồng tại vườn bách thảo La
Mă và chỉ muốn tṛng lên cổ nhân dân ta một dấu thập ác làm căn cước nô lệ suốt
đời.
• Nói là “độc
lập dân tộc” th́ làm sao đảng CSVN có thể bang giao với một Vatican vốn chỉ muốn
thọc sâu vào nội t́nh nước ta để thay đổi thể chế, thay đổi xă hội, và thay đổi
cả văn hóa (tức là cách sống) của nhân dân Việt Nam.
• Nói là
“phất cao ngọn cờ yêu nước” th́ làm sao đảng CSVN có thể bang giao với một
Vatican vốn đă toa rập với hết thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, tạo ra một đạo quân
thứ năm tay sai bản xứ, để xâm lăng, tàn phá và đô hộ đất nước ta, gây ra những
tội ác tầy trời với dân tộc ta.
• Nói là
“xiễn dương nền nhân bản của truyền thống văn hóa” th́ làm sao đảng CSVN có thể
bang giao với một Vatican đă và đang áp đặt một nền thần học bắt tín đồ cúi rạp
ḿnh run sợ trước Thiên Chúa, tước bỏ bản vị con người, và lấy tội lỗi con người
làm cơ sở sống đạo.
• Nói là “kết
hợp sức mạnh của tổ quốc với sức mạnh của thời đại” th́ làm sao đảng CSVN có thể
bang giao với một Vatican vốn đă và đang bị thời đại cho vào sọt rác, đang bị
các nước Tây phương phế thải, v́ đang bị khủng hoảng toàn diện về giáo lư, giáo
quyền, giáo chế và giáo sản trước những tiến bộ của thời đại .
Như vậy, rơ ràng là
bang giao với Vatican th́ phản bội lại với cả năm nguyên lư chỉ đạo của triết lư
ngoại giao, cũng là năm triết lư trị nước, mà nhờ đó tổ quốc đă vượt thắng bao
thử thách để c̣n vinh quang tồn tại cho đến ngày nay.
Bang giao với
Vatican – Một thách thức văn hóa
Hiện nay, Việt Nam và
Holy See vẫn c̣n đang trong quá tŕnh đàm phán, nội dung thảo luận không được
phổ biến, do đó chúng ta không thể biết được mỗi bên sẽ “được” ǵ và “mất” ǵ?
Thậm chí không biết việc thiết lập bang giao có kết quả hay không? Nhưng ít nhất
là trong 6 tháng vừa qua, tuy chưa chính thức bang giao nhưng Vatican đă “được”
một ít, và trên bàn đàm phán, ngoài những “được” trong chính sách vĩ mô, chắc là
có những vấn đề cụ thể phải giải quyết như thiết lập một Ṭa Khâm sứ của Ṭa
thánh tại Hà Nội, nới rộng địa bàn hoạt động của “thánh địa” LaVang, mở thêm
nhiều giáo phận mới trên toàn bộ ba miền, xây dựng thêm nhiều chủng viện đào tạo
linh mục, và quan trọng nhất, thế đứng và hoạt động của hai chân đạo và đời của
Giáo hội Công giáo Việt Nam.
C̣n về phía Việt Nam,
đảng CSVN sẽ phải đối diện với một số thách thức không thể không giải quyết một
khi bang giao được thiết lập:
• Làm sao
biện minh được những nghịch lư lịch sử và văn hóa cho một số bộ phận đông đảo
trí thức, văn nghệ sĩ và quần chúng Việt Nam về sự hiện diện của kẻ cựu thù văn
hóa trên đất nước. Đúng là trong chính trị, và nhất là trong kinh tế, không ai
bạn muôn đời cũng không ai thù muôn kiếp. Nhưng cũng đúng là trong văn hóa th́
khác, nhất là kẻ cựu thù đó vẫn tiếp tục nuôi ư đồ khống chế đời sống tâm linh
và văn hóa của dân tộc.
• Làm sao
biện minh được những mất mát đau thuơng của các chiến sĩ đă bỏ ḿnh trong hai
cuộc chiến 30 năm chống xâm lăng dành độc lập để được sống trong nề nếp văn hóa
dân tộc, mà giờ nầy khói hương tưởng nhớ họ vẫn c̣n nghi ngút trên các bàn thờ
từ Bắc chí Nam. Hàng triệu nạn nhân do chính sách đối xử bất công để cướp của
cướp đất của Giáo hội Công giáo cũng sẽ cần được thanh lư.
• Làm sao
giải tỏa được mối nghi ngờ của Trung Quốc, người láng giềng Xă hội Chủ nghĩa to
lớn và khó chịu ở phương Bắc, quốc gia quyết tâm dân tộc hóa Công giáo, về mối
giao hảo với một đồng minh thân cận của Mỹ, đă từng góp phần đắc lực vào việc
làm sụp đổ lực lượng Cọng sản quốc tế.
• Làm sao
ngăn chận được đợt tấn công mới của các thế lực “diễn tiến ḥa b́nh” quốc tế,
người Việt Công giáo “chống Cọng” nước ngoài, và thành phần “đối lập chế độ” bên
trong, nương vào “chiến thắng” mới mẽ của Ṭa thánh, để thừa thắng xông lên vận
động quần chúng trong và ngoài nước đ̣i dứt điểm chế độ.
• Làm sao
kiểm soát được sự thao túng của đội quân “chất xám” và “chất xanh dollar” phản
động t́m cách xâm nhập vào cơ cấu của chính hệ thống đảng CSVN, bộ máy Nhà nước,
Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc và hàng trăm tổ chức đoàn thể nhân dân ngoại vi của
đảng ... để thi hành kế hoạch kỳ diệu của Vatican đang muốn biến Việt Nam thành
mùa gặt lớn với những hệ lụy vô lường của nó.
• Làm sao
giải quyết được việc hoàn trả rất nhiều địa ốc và cơ sở Công giáo mà Nhà nước đă
hóa giá cho các cơ quan chính phủ và tư nhân chiếm hữu từ 30 năm qua. Đồng thời,
cũng phải lấy các biện pháp hoàn trả tương tự cho các tôn giáo khác để đoàn kết
dân tộc, tránh t́nh trạng kỳ thị tôn giáo.
• Làm sao đối
phó được t́nh trạng gia tăng tệ nạn xă hội khi cặp bài trùng “đạo Chúa” và “Tây
phương hóa không chọn lựa” công phá nền tảng đạo đức và an ninh xă hội trên toàn
cơi Việt Nam. Hăy đọc phúc tŕnh thê thảm của chính người Tây phương theo đạo
Chúa cảnh báo về tác hại ghê gớm của cặp bài trùng nầy:
Tháng 10 năm 2005, khoa
học gia về tiến hóa Gregory S. Paul đă tŕnh bày trong một nghiên cứu khoa học
cho tạp chí Journal of Religion and Society thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo
của đại học Creighton (Nebraska) về mối tương quan hai chiều giữa “sự phổ quát
của tính tôn giáo” (popular religiosity) và “sự lành mạnh có thể định lượng của
xă hội” (quantifiable societal health) trong 18 quốc gia dân chủ theo đạo Chúa,
trong đó có cả Mỹ. Sự “phổ quát tôn giáo” được căn cứ trên 3 yếu tố: số bách
phân của tín đồ tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, tần số cầu nguyện Thiên Chúa
và tần số chịu các thánh lễ. C̣n “sự lành mạnh có thể định lượng được” th́ căn
cứ trên 5 tệ đoan xă hội: số lượng các tội sát nhân, bệnh truyền nhiễm sinh lư,
trẻ vị thành niên bị mang thai, phụ nữ phá thai và tử vong của trẻ em. Bản
nghiên cứu cho thấy quốc gia nào càng tin Chúa th́ xă hội càng nhiều tội ác. Và
Mỹ, quốc gia sùng bái Chúa và tin tưởng vào Kinh thánh đông nhất và cuồng nhiệt
nhất, th́ đứng đầu bảng về 4 (trong 5) lănh vực nghiên cứu là tội sát nhân,
bệnh truyền nhiễm sinh lư, trẻ vị thành niên mang thai, và phá thai.
Đó mới chỉ là một số
trong nhiều thách thức vừa có tính nguyên tắc vừa có tính hiện thực mà đảng CSVN
và Nhà nước Việt Nam phải giải quyết. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất của đảng
CSVN là một khi đă công nhận Vatican th́ làm sao để duy tŕ được tính chính
thống của đảng trong vai tṛ lănh đạo đất nước như điều 4 Hiến pháp quy định.
Tính chính thống đó, khác với tính hợp hiến và hợp pháp, th́ không do văn bản
quy định mà bắt nguồn từ vai tṛ và trách nhiệm lịch sử của đảng trong hai cuộc
chiến tranh dành độc lập khi đảng xả thân hoàn thành sứ mạng hợp ḷng dân hợp
thời đại nầy. Đó là hai cuộc chiến tranh, mà ở nội dung sâu thẳm nhất, là hai
cuộc chiến tranh văn hóa. Thắng lợi lẫy lừng của đảng trao lại cho dân tộc, do
đó, là thắng lợi văn hóa. Nay, bang giao với Vatican, đảng CSVN có c̣n tính
chính thống đó nữa không? Và điều 4 Hiến pháp có c̣n giá trị ǵ nữa không?
Để kết thúc bài viết,
xin bạn đọc trở về giũa ḷng thủ đô Hà Nội ngàn năm văn vật, trái tim Thăng Long
của cả nước. Tại góc đường Nguyễn Lương Bằng và Đặng Tiến Đông, có tượng đài vua
Quang Trung được trang trọng xây dựng trên g̣ Đống Đa cũ của mùa Xuân năm Kỷ Dậu
1789. Trong khuôn viên tượng đài uy nghi nầy có đặt một tảng đá lớn, khắc lại
câu nói quyết liệt nhất trong hịch xuất quân của người anh hùng áo vải cờ đào
Nguyễn Huệ trước khi tiến đánh quân Thanh xâm lược: “Đánh cho để dài tóc, đánh
cho để đen răng. Đánh cho chúng chinh luân bất phản, đánh cho chúng phiến giáp
bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.
“Để dài tóc” và “để đen
răng” là để được làm người Việt Nam sống với văn hóa của chính dân tộc ḿnh. Cẩm
nang khôn ngoan giữ nước của người xưa c̣n gởi gắm lại đó, nhưng không biết
người nay, giữa ḷng thủ đô Hà Nội và cả nước, có c̣n ai quan tâm đến một hiểm
họa to lớn sắp xảy đến cho Tổ quốc Việt Nam không?
California, 12/2005
|
|