|
VĨNH BIỆT MỘT GIẤC
MƠ
Anthony Darlic
Thứ Năm 11/11/2004 – Tin xác nhận Chủ Tịch Arafat đă
từ trần tại một quân y viện của Pháp ở Paris sau tám ngày hôn mê. Arafat là
người thường tự hào nói: “Núi ơi, gió nào đánh bạt núi được mà lo.” [Oh
montagne, le vent ne t'ébranlera pas.] Gió không làm rung núi nhưng cát bụi vô
thường đă chấm dứt một giấc mơ. Giấc mơ của một tổ quốc Palestine mà Arafat đă
ôm ấp từ hơn bốn mươi năm qua. Arafat là một Quốc
Trưởng không có Quốc Gia từng quấy đảo chính trị Trung Đông và thế giới ngót nửa
thế kỷ và hiện đang là chất keo kết nối các quốc gia Hồi giáo lại với nhau. Bởi
giấc mơ của Arafat ít ra cũng là một động năng cho cuộc cách mạng Hồi giáo đang
nằm trong tay những kẻ mà Tây phương đồng rập gọi là “khủng bố quốc tế”.
Yasir Arafat tên thật là Muhammad Abd-al-Rauf al-Qudwah
Arafat. Yasir là bí danh. Arafat cũng có một bí danh khác là abou Ammar. Arafat
sinh ngày 24/8/1929, thuộc một gia đ́nh Hồi giáo phái Sunni. Arafat bảo sinh
quán ông ở Jerusalem nhưng thiên hạ lại bảo ông hoặc sinh ở Cairo hoặc trên dải
Gaza.
Arafat đă làm quen với thế giới qua h́nh ảnh cái khăn trùm
đầu ca-rô và bộ đồ trận màu ô-liu. Đó cũng là h́nh ảnh quen thuộc của một chiến
sĩ can trường trong tim óc của những người Palestine đang mơ ước một quê hương
đă mất. Arafat mồ côi mẹ từ năm 4 tuổi, ở với chị nuôi cho ăn học. Năm 1992,
Arafat lập gia đ́nh với Souha Tawil, phụ tá của ông, trẻ hơn ông 34 tuổi. Ba
năm sau hai người có một người con gái tên Zawah.
Do Thái lập quốc là Palestine vong quốc và cuộc chiến đấu
của Arafat khởi sự từ đó. Cuộc chiến đấu đó hôm nay vừa dứt, chẳng phải v́ ước
nguyện của Arafat và dân Arafat đă thành mà v́ thuận thế vô thường, Arafat đă
chuyển nghiệp sau 75 tại thế và hơn nửa đời đấu tranh cho một quê hương.
Ṿng oan nghiệt là tam giác Palestine-Do Thái-Hoa Kỳ.
Nhẩm lại những điều đă viết, Anthony tôi bỗng thấy th́ ra tôi đúng là… ba phải.
V́ trên căn bản t́nh quê hương tổ quốc gần như mù ḷa, Do Thái tôi thương,
Palestine tôi cũng thương, mà Hoa Kỳ tôi cũng thương luôn. Đây là một tóm lược
những cái ba phải mà tôi từng ghi lại chỗ này một chút chỗ kia một chút lâu nay
đó.
Làm Sao Cắt Nghĩa Được T́nh Yêu Quê
Hương?
Với tôi, chuyện yêu nước là một thứ lo con ḅ trắng răng,
suy bụng ta ra bụng người thế này…
Dù đứng ở điểm nào đi nữa, cuối cùng
cũng phải thấy rằng, đụng đến chuyện tự chủ tự quyết, ngoại quốc nào cũng là
ngoại quốc thôi. Cảm nghĩ đó có vẻ ngược với ư thức đại đồng của Khổng, với
quan điểm vô sản quốc tế của Marx, với ư niệm cứu rỗi toàn nhân loại của Jesus
hay ư niệm Phật tính không có Nam có Bắc của Phật giáo, và với khuynh hướng thời
thượng Toàn Cầu Hóa hôm nay. Nhưng một người Việt muốn làm đồ đệ chân chính của
Khổng, của Marx, của Jesus, của Phật, của nhà băng thế giới IMF và quỹ tiền tệ
quốc tế WTO th́ trước tiên người đó phải là một người Việt “thật”, ít ra cũng
“thật’ như con chó ghếch chân tưới vào gốc cây để “giữ” gốc cây, hay sủa để
“giữ” nhà?
Ừ nhỉ! cảm nghĩ đó khiến tôi liên tưởng
đến một sự cố có thể coi là “định phận”. Thật vậy, thời c̣n học Tiểu học, tôi
được bạn bè tặng cho hỗn danh Thằng-N-Chó-Đái chỉ v́ một đôi lần tôi bị thầy
giáo thân yêu “thương cho roi cho vọt” v́ tội... viết chữ N như con chó đứng...
tè từ sau nh́n tới! Ôi, chuyện nước non thường là nghiêm túc đứng đắn nhưng
cũng có khi lẩm cẩm đứng... đái như thế đó! Ư thức dân tộc lắm khi nếu không là
một bản năng th́ ít ra cũng là một xung động hữu kiện, tương tự như ư thức tư
hữu của con chó. Với ư thức tư hữu đó, con người thương gốc đa đầu làng thế nào
th́ con chó nhớ gốc cây mà nó đă đái vào để “đánh dấu” thế ấy, con người bảo vệ
quê cha đất tổ thế nào th́ con chó cũng sủa cắn người lạ để giữ nhà thế ấy. Ít
ra là như thế...
T́nh yêu nước không chỉ là lư trí,
không phát xuất từ một nhận định khách quan khoa học. Cái lư của con tim thường
phấn kích đam mê hoan lạc hay chịu đựng khổ đau hy sinh hơn là những chân lư
hiển nhiên phổ biến. Galileo biết rơ trái đất quay nhưng khi bị dọa đem lên
giàn hỏa là nói ngược ngay cái rụp! Trong những thời kỳ đất nước bị đọa đày
ngoại thuộc, không thiếu ǵ trí thức khoa bảng Việt Nam lần lữa cả đời để chứng
minh cho được tội ác của ngoại nhân là hiển nhiên khách quan khoa học như 2+2=4
rồi mới bắt đầu yêu nước - nghĩa là bắt đầu nghĩ đến chống lại ách ngoại
thuộc... Cho nên họ đă b́nh nhiên tọa thị một cách khách quan lạnh lùng hay bàng
quan khoa học như khi nói chuyện Hitler khởi động Đại Chiến thứ hai, hay Tần
Thủy Hoàng xây vạn lư trường thành, các vua Ai Cập xây kim tự tháp. Thế nên,
phần đông số đó đă trễ tàu yêu nước để vừa an nhiên với cuộc sống phúc lợi an
toàn, hạnh phúc êm ấm, vừa được tiếng là khách quan, ôn ḥa, đề huề, không cực
đoan quá khích, vừa khỏi lao vào đường nhục nhằn tù tội đọa đày. Ai chết mặc
ai, ai ngu ráng chịu.
Đôi Mắt Hớp Hồn Tôi
Tại sao người Do Thái đáng thương?
Mỗi khi nhớ nước nhớ nhà, tôi lại muốn nh́n về những người
Do Thái lập quốc để mong t́m ra một đôi điều an ủi vỗ về cơn đau nhức không
nguôi.
Với tôi, tiến tŕnh dựng nước của người Do Thái là một
kinh nghiệm tuyệt vời. Và vớ vẩn nữa. Thật vậy, không ai như tôi, chỉ v́ khoái
chuyện Do Thái mà tôi đă khư khư ôm h́nh ảnh một đôi mắt xanh vô danh ngót một
phần tư thế kỷ. Phải, một đôi mắt vô danh gần như trừu tượng! Người có đôi mắt
đẹp đó có đẹp không? Và người đó tên ǵ? Tôi không biết. Tôi thấy đó là đôi
mắt đẹp, tôi nghĩ đó là đôi mắt đẹp, tôi quả quyết đó là đôi mắt đẹp và tôi nhớ
măi. Thế thôi! Chấm hết! Đôi mắt làm tôi yêu người Do Thái hơn, đôi mắt làm
tôi yêu nước Do Thái hơn.
Trí nhớ cùn mằn mỏi ṃn cho phép tôi nói rằng đôi mắt đó
đến với tôi từ một cuốn phim đen trắng được chiếu khoảng năm 1950 hay 1951 ǵ
đó, nghĩa là lúc tôi mới xấp xỉ một con giáp! H́nh như phim có tên là La
Bataille de Sable? Phim kể chuyện những anh hùng dựng nước Do Thái đánh
chiếm một đồn lính Anh trên mảnh đất là Do Thái hôm nay. Tôi mang máng nhớ
chuyện phim có vậy. Nhưng thích chuyện phim và thương những chiến binh Do Thái
th́ ít mà v́ người nữ du kích có đôi mắt đẹp th́ nhiều. Thế hệ tôi, những đàn
chị sắc nước hương trời thường được nhắc đến là Greta Garbo, Marlene Dietrich,
Lana Turner, Greer Garson. Với tôi, những người đó vẫn thua xa nữ tài tử trong
La Bataille de Sable. Ngặt một nỗi là tôi quên mất tên người nữ tài tử
đó! Quên mất tên, nhưng không bao giờ quên đôi mắt, mặc dù bây giờ, nếu có ai
bảo tôi tả đôi mắt ấy ra th́ tôi cũng chịu chết nên chỉ lửng lơ, lơ tơ mơ... giữ
măi một ư tưởng rất kiên định về đôi mắt không tên ấy ngót một phần tư thế kỷ.
Cho đến năm 1975 khi được share khách sạn Đô Thành với Nguyễn Tú, và sau đó về
share Pḥng 9 khách sạn T4 với Lê giáp Đệ th́ tôi mới may mắn biết được tên chủ
nhân đôi mắt huyền hoặc ấy. Marta Toren! Đúng rồi, Marta Toren! Điều an ủi là
cả hai đều đồng ư với tôi rằng đôi mắt Marta Toren thuộc vào hạng đẹp nhất!
T́nh nghĩa ban sơ của tôi với Do Thái là thế đó. Lớn lên một chút nữa, tôi lại
có dịp yêu Do Thái hơn qua quyển Exodus của Leon Uris. Đọc tiếng Anh
chậm nên tôi quyết mua cho được bản tiếng Pháp. Tôi trốn học một tuần, tụng một
mạch hết quyển sách và sau đó đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần nữa. Mỗi
khi buồn chán, hàn thử biểu tâm tư tuột dốc v́ chuyện vớ vẩn ǵ đó tôi lại lôi
Exodus ra tụng năm mười trang, một hai chương thế là... buồn ơi tạm biệt! Đọc
Exodus th́ được nhưng xem phim Exodus là cả một thất vọng tột cùng. Tương
tự như cái hố tâm tư của người mê Kim Dung khi xem mấy phim kiếm hiệp Kim Dung.
Exodus là một anh hùng ca, trường thiên như Odyssey của Homer hay hào
hùng ngắn gọn như câu /Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ của Lư thường Kiệt.
Chuyện lập quốc của người Do Thái trong thế kỷ nầy là một
bài học đáng đồng tiền bát gạo về ḷng yêu nước. Quê hương tổ quốc bàng bạc
phiêu hốt, nhưng quê hương cũng cấp thiết như dưỡng khí cho phổi, nước cho cá,
bầu trời cao rộng cho chim muông. Không có quê hương là mất đi nửa cuộc đời.
Những người Do Thái lập quốc đă tiếp sức cho tôi yêu đất nước, yêu đồng bào, yêu
Việt tính, yêu nhân cách Việt Nam và yêu tôn giáo đă gắn liền với mệnh nước. V́
thương người Do Thái bị người Anh đọa đày nên tôi cũng... thương lây tổ tiên ông
bà và đồng bào tôi khi phải sống trong cảnh đô hộ Tàu, Tây. /Sống mỗi người một
nhà, chết mỗi người một mồ/. Nhà đó là nhà Việt Nam, mồ đó là mồ Việt Nam.
Phải làm bất cứ điều ǵ có thể làm được để cướp lại, để giữ lấy quê hương ḿnh
như những anh hùng trong La Bataille de Sable hay Exodus.
Trong lúc /khóc cười theo vận nước nổi trôi/, ư tưởng và
h́nh ảnh của những người Do Thái lập quốc vẫn là một phấn kích lớn cho tôi khỏi
ngă ḷng bỏ cuộc. Thần tượng ngoại lai của tôi thời đó là Ben Gourion, Golda
Meir, Moshe Dayan, bên cạnh những Adenauer, Yochida... Họ là những kẻ xa lạ đă
thúc đẩy tôi khắn khít với một quê hương hiện tại khốn khổ lồng trong một quê
hương muôn đời tươi đẹp. Đây cũng là thời tôi yêu T́nh Nước của Vũ ḥa Khanh,
T́nh Ca của Phạm Duy, Hải Ngoại Thương Ca và Hàng Hàng Lớp Lớp của Nguyễn văn
Đông... Tôi chưa thấy Việt Nam ḿnh có một phim nào như La Bataille de Sable,
không có một quyển sách nào như Exodus. Tôi yêu Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Nha Trang,
Sài G̣n, Cà Mau, U Minh v́ những kinh nghiệm bản thân chứ không phải qua sách vở
chữ nghĩa. Trái lại tôi đă chết lên chết xuống v́ yêu Hà Nội, yêu miền Bắc cũng
chỉ v́ Hà Nội Băm Sáu Phố Phường của Thạch Lam, Mối T́nh Đầu của Hoàng công
Khanh và yêu miền ngược qua câu ca dao
Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa
Có nàng Tô Thị có Chùa Tam Thanh
Palestine! Ôi, Palestine!
Tại sao người Palestine đáng thương?
Năm 1944 trước viễn tượng lấn đất cắm dùi Do Thái-
Palestine, T.T Roosevelt cam đoan với vua Ibn Saud của Saudi Arabia rằng Mỹ sẽ
không để cho dân Palestine mất một tấc đất nào vào tay Do Thái. Năm 1991, T.T
Bush bố hứa hẹn cho Palestine 'một ốc đảo an b́nh' ở Trung Đông để ve văn khối Á
Rập ủng hộ Mỹ trong chiến tranh chống Iraq. Thế đó mà năm 2001 Palestine trở
thành tiếng trống trận thúc đẩy những người muốn biến Hồi giáo thành một ư thức
hệ chống Tây phương và chống Mỹ.
Do Thái và Palestine đều nhận ḿnh là con cháu của Tổ phụ
Abraham và Moses, đều tin vào một Thượng Đế toàn năng mà Palestine gọi là Allah,
Do Thái gọi là Jahweh hay Jehovah. Điều lạ lùng trớ trêu là Thượng Đế toàn năng
đó đă chỉ vùng đất Palestine hôm nay cho những người Do Thái, và bảo họ rằng:
Ngươi và con cháu ngươi là dân tộc ta chọn để sinh sôi nảy nở nơi đây để làm
sáng danh ta. Trong khi cũng Thượng Đế toàn năng đó lại chỉ y nguyên phần đất
Palestine sỏi đá đó cho người Palestine và bảo rằng: Đây là quê hương của ngươi,
đứa nào láng cháng đến th́ đuổi nó đi để làm sáng danh ta. Cả người Do Thái lẫn
người Palestine đều tin lời đó là thật cho nên nhất quyết theo đúng lời Thượng
Đế toàn năng dạy phải ăn miếng trả miếng, mắt đổi mắt, răng đền răng bằng cách
riêng và bằng phương tiện riêng của ḿnh. Cuộc xung đột Do Thái-Palestine trở
thành cuộc chiến giữa hai giáo chủ Moses và Mahomet, giữa thánh thư Talmud và
Koran.
Palestine là vùng đất mà cả người Do Thái, Hồi giáo và các
hệ phái Thiên chúa giáo đều coi là thánh địa của riêng ḿnh. Đến thế kỷ thứ hai
th́ coi như không c̣n người Do Thái nào hiện diện trên vùng đất đó nữa. Qua thế
chiến 1914-1918, Palestine thuộc Thổ Nhĩ Kỳ và rồi bị Anh cướp mất mở đường kích
thích người Do Thái lưu vong bắt đầu trở về. Họ phải chiến đấu chống người Anh
để bám đất, và đồng thời với dân bản địa Palestine. Năm 1947, LHQ phân chia
Palestine thành hai phần cho người Palestine và Do Thái dưới quyền giám định của
Anh. Năm 1948, Anh chém vè rút khỏi Palestine. Người Do Thái lợi dụng khoảng
trống đó tuyên bố thành lập quốc gia Israel và bắt đầu xua đuổi người Palestine
như những kẻ cư ngụ bất hợp pháp khỏi quốc gia Israel, ngay cả những người
Palestine ở trên phần đất được LHQ phân chia cho họ năm 1947. Bốn triệu người
Palestine phải tha phương cầu thực khắp các quốc gia đồng đạo vùng Trung Đông.
Trong khi 750.000 người Palestine bị tống khỏi những vùng đă được phân chia cho
họ trở thành những kẻ không đất cắm dùi lui về cố bám lấy vùng Tây ngạn sông
Jordan và dải Gaza. Năm 1967, Do Thái lấn vào hai vùng này và người Palestine
bị dồn vào chân tường phải vùng lên. Danh từ Intifada, Jihad bắt đầu được thế
giới nhắc đến từ đó. Cuối cùng Do Thái đă nhượng cho Palestine 17% vùng Tây
ngạn sông Jordan và 60% dải Gaza. Người Do Thái tiếp tục dành đất, và hiện có
400.000 Do Thái trên những phần đất thuộc quyền quản trị của Palestine. Trước
1967, mật độ chung Do Thái là 278 người trên một cây số vuông trong khi ở dải
Gaza, mật độ đó là 3.138 người. Nguồn nước uống, những đường thông thương ra
biển, đa số công ăn việc làm và chuyện học hành của Palestine đều do Do Thái
kiểm soát. Kinh tế của Palestine giảm 1/3 trong giai đoạn 1992-1996, số thất
nghiệp lên đến 20%. Lợi tức đồng niên của người Do Thái là 36.000 MK, cao gấp
12 lần cao hơn người Palestine trong khi đó viện trợ Mỹ hàng năm cho Do Thái là
1.000 MK cho mỗi đầu người, ở các nơi khác vùng Phi Châu 6 MK cho mỗi người.
Năm 1991, khối Cộng Sản sụp đổ cộng thêm chiến tranh với Iraq, liên minh Mỹ-Hồi
giáo h́nh thành nhưng rồi các đồng minh Hồi giáo của Mỹ dần dần rút lui v́ Mỹ
không giải quyết xong những đau khổ của Palestine và Iraq.
Thương Hoa Kỳ Như Con Trâu Kẹt Giữa Hai Con Ruồi
Từ ngày Do Thái lập quốc, Mỹ trở thành một hậu cứ cho Do
Thái và Do Thái là căn cứ tiền phương của Mỹ giữa biển cát Hồi giáo mênh mông ở
Trung Đông. Trong khoảng thời gian 1964-1970, Mỹ đổ vào Do Thái 221.782.000 MK
vũ khí, gần gấp đôi số vũ khí đổ vào Iran và gấp 50 lần số bán cho Saudi Arabia
vốn là đồng minh thân thiết của Mỹ thời đó. Đă hẳn, người Palestine chẳng nhận
được một viên đạn nào mà cũng chẳng mua được một khẩu súng nào của Mỹ. Ở Mỹ có
5.600.000 người Do Thái xấp xỉ bằng dân số chính quốc, trong khi chính quốc Do
Thái chỉ có khoảng 4.500.000 người theo Do Thái giáo. Trăm dâu đổ đầu tằm, mọi
oán than thù hận của người Hồi giáo đều đổ lên đầu Mỹ, ít ra cũng là từ ngày Do
Thái lập quốc năm 1948 đến nay.
Về phương diện đối ngoại, Hoa Kỳ đă chịu quá nhiều tai
tiếng trong chuyện bênh ai bỏ ai. Có khi điên điên tôi nghĩ vớ vẩn, ừ phải chi
cả Do Thái và Palestine đều biến thành những Tiểu Bang của Mỹ th́ khỏe biết
mấy? Chẳng c̣n lư do hại nhau, chẳng c̣n súng đạn để giết nhau. Cứ cái đà anh
uưnh tui găy răng, tui bẻ răng anh, anh chọc mù mắt tui, tui móc mắt anh thế này
th́ không khéo cả Palestine và Do Thái đều sẽ trở thành xứ sở của những người mù
húp cháo. Đến nước đó th́ lư thuyết N-Chó-Đái của tôi ở trên c̣n đúng không?
Một điều chắc chắn là Arafat hẳn vui mừng gặp lại Thủ
Tướng Do Thái Yitzhak Rabin, kẻ đă cùng ông kư Thỏa Ước Oslo 1993 và rồi chia
nhau giải Nobel Ḥa B́nh năm đó. Thỏa ước Oslo yểu tử sau khi Rabin bị một đồng
bào ḿnh bắn hạ v́ tội bán đứng Do Thái cho Palestine.
Đâu đó, trong tam thiên đại thiên thế giới, Arafat và
Rabin nghĩ ǵ khi nh́n xuống quê hương đồng bào, nh́n xuống bạn thù của ḿnh?
Họ nghĩ ǵ? Họ vĩnh biệt một giấc mơ và đón chào một giấc mộng.
Anthony Darlic.
|
|