|
Về kinh MILINDA VẤN ĐẠO
Milinda Panha
của Long Thọ là một trong những bộ luận quan trọng của Phật giáo. Không chỉ v́
giá trị nội tại của bản kinh mà c̣n v́ đây là một cây cầu nói liền giữa luận
Đông phương và luận Tây phương. Hấp lực của bản kinh đối với những người có chút
duyên với nề nếp tư tưởng Tây phương, bất luận đó là triết học, siêu h́nh học,
luận lư học, hữu thể học... là ở chỗ bản kinh giúp người ta thoát khỏi thế bất
đắc dĩ phải lựa chọn hoặc lư trí bế tắc, hoặc đức tin nô lệ thụ động.
Nhu cầu luận lư của Phật giáo có vẻ như
đă bắt đầu với hành động lặng yên của Phật truyền tâm ấn cho Ca Diếp.
Chỉ có chết mới thoát khỏi ngôn từ.
Nhưng nói cũng chết, không nói cũng chết như t́nh cảnh mà Hoà Thượng Hương
Nghiêm kể trong Vô Môn Quan. Cũng bởi v́ người Phật tử h́nh như dùng lời kiếm
t́m ư và khi gặp thấy ư rồi th́ phải bỏ lời, như người ta dùng thuyền qua sông,
đến bờ bên kia th́ phải ‘bỏ thuyền bỏ lái bỏ ḍng sông’… Truyền thống Tây phương
th́ ôm cứng ngôn từ, mỗi chữ của giáo chủ của lănh tụ là luật, là chân lư tuyệt
đối. Như con đười ươi nắm cứng hai ống tre híp mắt cười mà tưởng là đă vồ được
người tiều phu. H́nh như một số Phật tử cũng lây căn bệnh sùng thượng ngôn từ
của Tây phương mà không hay? Mở miệng ra là kinh này nói thế này, kinh kia nói
thế kia, Phật nói trong kinh này thế này, Bồ Tát nói trong kinh kia thế nọ, cứ
rôm rốp như cái máy cassette. Mà quên rằng đi vào đường đó th́ trước sau rồi
cũng sa vào thảm cảnh Luther và Calvin nổi loạn v́ muốn tự ḿnh đọc Thánh Kinh
mà không cần cái kính lúp của Vatican, hoặc Ayatolla Khomeini ra thánh lệnh bêu
đầu Salman Rhusdie v́ tội đă viết Satanic Verses, hay đám Hồng Vệ Binh tay cầm
Hồng Thư tay cầm búa tung hoành.
Trần Trúc-Lâm nhắc đến nhiều bản Việt
dịch Milinda Panha. Thú thật, chúng tôi chỉ mới có cơ duyên đọc bản dịch
của Đoàn Trung C̣n có tên NA-TIÊN TỲ-KHEO KINH, được in chung với một kinh khác
là Sigavalada Sutra, Việt dịch là Thi-Ca-La Việt Kinh.
Bài học của Milinda Panha là bài
học dùng lời t́m ư, t́m được ư rồi th́ phải quên lời. Milinda Panha được
h́nh thành trong hoàn cảnh nào, đó là câu hỏi Trần Trúc-Lâm thử trả lời qua bài
khảo luận công phu sau đây.
Chuyển Luân
(Trong bài có
một số bức h́nh nữa của tác giả chuyển đến nhưng chúng tôi không khôi phục được,
xin cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc)
KHUNG CẢNH LỊCH SỬ
QUANH
BỘ KINH
MILINDA VẤN ĐẠO
Trần Trúc-Lâm
Thông thường ai cũng nghĩ rằng đạo Phật chỉ mới được
truyền sang tây phương trong các thế kỷ gần đây mà thôi, mà quên rằng trong
nhiều thế kỷ trước tây lịch PG đă thấm nhuần vùng Tiểu Á và tây Bắc Ấn, rồi ảnh
hưởng trên cả nền triết học Hy-lạp và giáo lư của vài tôn giáo lớn có nguồn gốc
tây phương. Phật tử Việt nam vốn chịu ảnh hưởng sâu đậm giáo pháp truyền từ
Trung quốc nên ít biết đến sự giao ḥa của hai nền văn hóa Hy-lạp và PG khởi đầu
rất sớm ở vùng đất này.
Ngay cả khi đức Phật Thích Ca c̣n tại thế, vùng đất
xa xôi này đă tiếp xúc với PG rồi. Trong một bộ kinh của Thượng tọa bộ
(Theravada) có ghi câu chuyện hai thương nhân, tên Tapassu và Bhallika từ xứ
Bactria t́m đến viếng đức Phật và đă trở thành đệ tử. Lúc về xứ họ đă xây dựng
nhiều đền đài thờ Phật.
Khi Alexander xâm chiếm
Bactria vào 329-327 TTL (cùng khỏang với
thời Chiến quốc bên Tàu: 403-221 TTL), th́ vùng này đă thuần PG. Đến thời
của Ḥang đế Asoka Maurya (từ 269 đến 232 TTL), th́ biên cương của Ấn Độ được mở
rộng bao gồm luôn vùng
Gandhara nhờ đuổi được quân Hy lui về bên
kia dăy núi Hindu-Kush. Ông cũng đă gởi nhiều đ̣an truyền giáo được ra hải ngọai
để truyền bá Phật pháp, do đó PG đă được lan tràn mạnh mẽ hơn.
Chính từ những hạt giống PG do Ḥang đế Asoka gieo
ở vùng này dần lớn mạnh và
đă để lại ảnh hưởng khá sâu đậm trong vùng tây bắc
Ấn, và c̣n lưu măi đến nay như ảnh tượng đức Phật theo mỹ thuật Hy-lạp, những ư
niệm manh nha của PG đại thừa phát sinh từ những trung tâm văn hóa PG có một
thời rất rực rỡ, và một bộ kinh không kém phần quan trọng, đó là bộ
Milinda-Panhà, đă được Việt dịch là "Di Lan Đà vấn kinh" hay dưới nhiều tên
tương tự.
Bài khảo luận này không bàn sâu vào giáo nghĩa của bộ
kinh, vốn đă có nhiều tác giả đă luận giải, mà chỉ chú trọng vào lược sử thời
đại của hai nhân vật chính của bộ kinh đă sống, đó là vua Mi-Lan-Đà và Tỳ kheo
Na-Tiên.
Vương quốc Bactria và xứ Gandhara
ở đâu?
Đối với dân Aryans đă tràn vào đất Ấn (Arya-Varta)
hơn 15 thế kỷ TTL, th́ vùng tây bắc Ấn là đất của Gandharvas hay chư thiên với
ngọai h́nh tuyệt hảo, rành về âm nhạc, giỏi về thần thông, vốn thường được nói
đến trong Kinh Rig-Vedas (Vệ đà), một bộ lịch sử cổ nhất của nhân lọai, cho nên
dân Ấn gọi vùng này là xứ
Gandhara với kinh đô Taxila, nay thuộc
Afghanistan và Pakistan, nơi ph́ nhiêu với 5 con sông chảy qua nên Hán văn c̣n
gọi là vùng Ngũ Hà, chính là phụ lưu của con sông Indus bắt nguồn từ
Hy-mă-lạp-sơn. Sau khi nền văn minh của thung lũng sông Indus bị tàn lụi th́
vua Darius (522 to 486 TTL) dẫn quân Persia chiếm vùng này.
Vào thời bấy giờ lối giao thương chủ yếu dựa vào
đường bộ, và vùng ấy lại nằm trên tuyến chiến lược từ châu Âu ở phía tây qua
châu Á ở phía đông, từ Trung Á ở phía bắc xuống lục địa Ấn ở phía nam, cho nên
dân t́nh vùng này không bao giờ được yên ổn lâu dài v́ các thế lực đế quốc luôn
luôn xâm lăng nó để làm bàn đạp tiến xa hơn.
Ngày nay, các tư liệu về gai đọan lich sử này đă được
công bố rất dồi dào, và bài này đă chọn lọc, so sánh và tổng hợp từ rất nhiều
nguồn khác nhau như sử liệu cổ của các nước trong vùng Pakistan, Afghanistan và
Trung đông do các tác giả hiện đại biên sọan, từ những cổ vật do các nhà khảo cổ
ngừơi Pháp đào xới được, từ răi rác trong thánh điển Pali và đại thừa, các ảnh
tượng đức Phật tồn tại đến nay vv… Ở đây cũng xin được lưu ư đọc giả đến nguồn
sử liệu quí giá về các vị vua gốc Hy-lạp ở vùng Tiểu Á đă được hai nhà sử học
danh tiếng Hy-lạp cổ là Strabo và
Plutarch ghi lại.
Strabo
(sinh
63 hay 64 TTL, mất khoảng
24 TL), một sử, triết và địa lư gia
Hy-lạp. Tác phẩm nổi danh của ông là Geographia, gồm 17 cuốn viết vào
khỏang năm 7 hay 18 TL về nhân vật, địa danh, trên thế giới Hy-La vào thời ông.
Plutarch, tên đầy đũ là
Mestrius Plutarch,
một nhà sử học và tiểu sử danh nhân học, cũng
là người Hy-lạp sau Strabo (khỏang
45-125
TL). Ông sinh vào thời của ḥang đế La mă
Claudius. Ông tham quan rộng răi vùng Địa
trung hải, và về sau giảng dạy tại Rome, kết giao với nhiều nhân vật chính trị
uy quyển trong Thượng viện. Cuối đời, ông quay về sinh quán là
Chaeronea ở Hy-lạp, trở thành một trong
hai tu sĩ chính trong đền thờ
Apollo ở Delphi, chuyên giải những lời sấm
của thần Pythia. Ông c̣n được ḥang đế Trajan cử làm thái thú tại vùng Achaea.
Trong thời gian này ông viết nhiều bộ sử quan trọng.
Tác
phẩm nổi danh của ông là “Cuộc đời của những danh nhân Hy-lạp và La mă (Lives
of the Noble Greeks and Roman)”; nhưng bộ sách c̣n được chú trọng khác
là “Những cuộc đời tương đồng” (Parallel Lives)
so sánh 23 cặp danh nhân Hy và La; và “Cuộc đời của
Alexander”(Life of.
Alexander). Nói chung những tác phẩm của ông đă ảnh hưởng rất nhiều đến
nền văn học và kịch nghệ tây phương, ngay cả Shakespeare cũng thường tham
chiếu.
Trước đấy, vua Darius I (521-486 TTL) của Persia cũng
đă sai người xứ Carian tên Scylax thám hiểm vùng tây bắc Ấn, và đă ghi lại trong
cuốn ``Peripulus''. Không lâu sau Hectaeus (500 TTL) và Herodotus (483-431 TTL)
cũng có viết về các thái thú (Satrapy) người Persia ở vùng này.
Đến thời vua Alexander, những cuộc khảo sát cũng đă
được ghi lại bởi Strobe, Ptolemy, Pliny, Arrian và nhiều người khác. Họ cho biết
5 phụ lưu của sông Indus là Hydaspes (Jehlum), Akesines (Chenab), Hydroatis
(Ravi), Hyphasis (Satluj) và Hesidros (Beas); làm biên giới cho 4 vương quốc
trước khi Alexander xâm lăng.
Núi Tu-di:
C̣n
gọi là Meru hay Meros. Trong văn chương và các tôn giáo gốc Ấn đều xem nó như là
một ngọn núi thần thọai và là trụ chống của quả đất, và theo Ấn giáo th́ đó cũng
là trú xứ của vị thần Shiva hay Vishnu.
Nhưng đạo quân xâm lăng của của vua Alexander sau khi
tiến vào vùng Gandhara, đă tin là họ đă khám phá ra ngọn núi Meros và thành Nysa
trên ấy, nằm khỏang giữa hai thành Kapisa và Peucelaotis. Cũng theo thần thọai
Hy-lạp th́ đó là nơi sinh của thần Dionysus (đồng hóa với thần Shiva).
Philostratus (khỏang 175-245) đă thuật lại
trong cuốn “Life
of Apollonius of Tyana”chuyện chàng Apollonius viếng thăm Gandara
và sau nhiều nổi thăng trầm trèo đèo vượt suối đă lên đến đỉnh ngọn Meros, nơi
có đền thờ thần Dionysus với tượng đá trắng mang dáng vẻ người thanh niên Ấn.
[Philostratus, Live of Apollonius of Tyana 2.8; dịch bởi F.C. Conybeare]
Sự Hưng Thịnh của triều đại
Maurya ở Ấn:
Khỏang TK 4 TTL kinh đô Pataliputta (Thành hoa thị -
nay là thành phố Patna) của nước Magadha (Ma-kiệt-đà) trở thành trung tâm quyền
lực của Ấn. Ngay trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, hệ Pali (Maha-parinibbana sutta)
nói về những năm sau cùng của đức Phật tại thế, Ngài đă ước đóan sự phồn thịnh
của thành Pataliputta về mọi mặt. Phật dạy: “ … Này Ananda, chỗ nào các vị
Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương măi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một
thành thị bậc nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương măi. Nhưng này
Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước hay chia rẽ bất ḥa.”
[Trong Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya): Tập 1; Kinh số 16; Tụng phẩm 1; Đọan 28 –
bản dịch của HT. Thích Minh Châu]. Bấy giờ có vua Mahàpadma Nanda thay thế triều
đại Haryanka cai trị một vùng rộng lớn từ sông Brahmaputra ở phía đông đến Beas
ở phía tây.
Năm 327 TTL, Đại đế trẻ tuổi của Hy-lạp Alexander đă
bành trướng đất đai, đem quân đánh bại quân Persia và thâu tóm luôn vùng Tiểu Á.
Hai năm kế, ông ổn định vùng Hindu Kush và Bactria (Baluchistan - bắc
A-phú-hản), thiết lập lên nhiều thành phố như Samarkand, Leninabad (thuộc Nga
ngày nay) và Chankar (phía bắc Kabul), tái dựng cố đô Kapisa và đổi tên là
Alasandra gần Caucasus (để khỏi bị nhầm với Alexandria ở Ai-Cập) vv...
Thừa thắng ông định vượt sông Indus năm 325 TTL để tiến chiếm Ấn th́ bị chận lại
ở sông Jhelum (hay Hydaspes), vùng Taxila (Takkasala) bởi một tiểu vương Paurava
biết dùng voi trận, và rồi sự chống trả mănh liệt của tướng Chandragupta Maurya;
Alexander đành rút về Babylon và chết ở đấy v́ bệnh sốt rét. Ngay sau khi
Alexander mất vào ngày 10 tháng 6, năm 323 TTL, các tướng tùy tùng (diadochi hay
diadochoi) liền chia cắt đế quốc thành những vương quốc để tự ḿnh cai trị.
Seleukos I Nicator kế vị Alexander năm 323
TTL đóng đô ở
Babylon, lập nên triều đại Seleukos cai
trị một đất nước rộng lớn bao gồm các nước ngày nay là
Syria,
Lebanon,
Jordan,
Mesopotamia,
Persia, và
Bactria. Phần đất ở Ai-cập th́ hậu duệ của
tướng
Ptolemy Soter thay nhau trị v́; và ở
Hy-lạp th́ do
Antigonus Monopthalmos nắm giữ. Những năm
chiến tranh dành quyền lực kế tiếp của các ḍng họ này đă làm dân t́nh vùng Tiểu
Á và Tây bắc Ấn bị khổ nạn triền miên.
Trong khi đó ở Ấn vào năm 321 TTL. Chandragupta lật
đổ Nanda và lập ra triều đại Maurya.
Ḥang đế Seleukos I Nicator
Năm
304 TTL Seleukos I lại cố xâm lăng Ấn lần nữa, nhưng cũng bị đẩy lui bởi
Chandragupta Maurya. Sử cho rằng
Chandragupta đă xử dụng đến 100,000 lính và 9,000 voi trận. Sau cùng Seleukos I
đành lập ḥa ước nhượng vùng Baluchistan và gă con gái cho Chandragupta để đổi
lấy 500 thớt voi. Seleukos I c̣n gởi sứ thần là Magasthenes đến ngụ ở kinh đô
Panaliputta (Thành hoa thị) dưới triều Chandragupta, mà đến nay những tấu chương
của ông vẫn c̣n tồn tại để hậu thế biết được sinh họat chính trị của xứ Magadha
thời bấy giờ.
Chandragupta tri v́ được 23 năm, người con trai kế vị là Bindusara ở ngôi được
25 năm và mất năm 273 TTL. Vua
Bindusara cũng có một sứ thần Hy-Bactria
tại triều tên là Deimachus (Strabo
1–70), và luôn giao hảo tốt đẹp với vua
Antiochus I Soter thuộc ḍng
Seleukos.
Sau khi vua Bindusara băng hà, trong ṿng 4 năm có sự
tranh dành ngôi giữa thái tử Tissa đang làm phó vương ở Ujjeni phía nam và một
ḥang tử khác tên là Asoka làm phó vương ở Taxila. Sau rốt thái tử bị giết trong
trận và Asoka lên ngôi ḥang đế năm 269 TTL, cai trị một lănh thổ rộng lớn từ
Bengal đến Afghanistan, oai hùng nhất trong lịch sử Ấn. Chỉ sau khi cuộc xâm
lăng đẩm máu nước Kalinga (bang Orissa ngày nay) 8 năm sau khi lên ngôi, vua
Asoka mới hối hận và thành tâm qui y Phật giáo, đă dốc ḷng khuyếch trương đạo
Phật ra khắp nơi. Ông cũng đă gởi nhiều đ̣an truyền giáo ra hải ngọai, trong số
đó có đại sư
Dharmaraksita (về sau là sư phụ của tỳ
kheo Nagasena) họat động rất tích cực ở vùng tiểu Á. (Mahavamsa,
XII).
Asoka có một mối quan hệ đặc biệt với vùng tây bắc
Ấn, bởi ông đă từng làm phó vương ở đấy và đóng dinh tại Taxila (tiếng Sankrit
là Takshasila, gần Rawalpindi thuộc Pakistan bây giờ). Taxila bấy giờ đă là một
trung tâm danh tiếng về thương măi, triết và thần học, đặc biệt là Ấn giáo và
PG. Nhiều tư tưởng gia nổi danh đương thời đă lui tới tầm đạo, và ông đă từng
gọi thần dân gốc Hy-lạp ở vùng ông cai trị là Yavanas. Đến khi ông trở thành
ḥang đế và ủng hộ PG th́ vùng này trở thành một trung tâm PG nổi danh.
Ngày nay người ta biết đến rất nhiều pháp dụ khắc
bằng đá do ông sai dựng lên khắp đế quốc; trong số đó những bia kư ở thung lũng
Kabul được ghi bằng tiếng Hy-lạp và Aramaic, và nội dung c̣n cho biết là ông đă
cho truyền bá chánh pháp đến các nước Ai-cập, Syria, Macedonia, Greece, Cyprus,
Bactria, Kashmir, Gandhara, Himalayas, Sindh (Gujarat), vv.
Sau
khi Asoka mất vào năm 227 TTL th́ đế quốc Maurya bắt đầu tan ră. cùng với cái lư
tưởng tâm nguyện của ông là dharmarajya (thuận trị theo Chánh Pháp), mặc
dù các con của ông ráng giữ ngôi vị thêm khỏang nữa thế kỷ nữa. Năm 185 TTL, vị
vua cuối của ḍng Maurya là Brihadratha, bị tướng Pusyamitra Sunga truất phế và
lập ra triều đại Sunga (185-78 TTL). Vua Pusyamitra Sunga liền thi hành chính
sách ủng hộ Ấn giáo và tàn hại PG.
V́
thế kể từ năm 180 TTL các vua xứ Bactria từ Demetrios I, Demetrios II đến
Menander vốn tôn sùng PG đă liên tục xâm lăng Ấn nhân danh giải cứu PG.
Sự hưng thịnh của Vương quốc
Bactria và cuộc chinh phục đất Ấn:
Vào năm 281 TTL vua Seleukos I bị ám hại, và sau khi
ông chết th́ đế quốc Seleucid cũng bị chia thành 2 xứ: Syria (với vua Antiochos
I, ḍng dơi của Seleukos) và Parthia (với vua Arsaces).
Vua Antiochos I cử Diodotos làm thái thú ở xứ Bactria
(Kinh sách Hán văn gọi là nước Đại Hạ, vùng bao gồm Pakistan và Afghanistan bây
giờ).
Bactria (hay Bactriana - tiếng
Iran cổ là Paktra) là một xứ
màu mở
nằm giữa dăy núi xanh Hindu-Kush (Paropamisus) và con sông Amu Darya (Oxus).
Khi thấy Syria và Parthia măi lo tiêu diệt lẫn nhau,
Diodotos tự xưng làm vua vào năm 255 TTL, đóng đô ở Bactra - nay là Balkh, tên
cũ là Taxila – rồi chiếm luôn xứ Sogdiana ở phía bắc. Tuy vậy vua Antiochus III
của Syria lại xua quân tái lập nền thống trị lên Bactria.
Măi đến khi Antiochus III bị quân La-mă đánh bại th́
ở Bactria, Euthydemos vốn là một đại thần của Diodotos, lên ngôi năm 227 TTL và
đẩy lui được những đợt tấn công của vua Antiochos III. Năm 205 TTL. Euthydemos I
đă chống cự được cuộc vây hảm thành Bactra sau hơn hai năm, rốt cuộc Antiochos
III đành giảng ḥa rút quân và gả con gái cho con trai của Euthydemos I là
Demetrios. Từ đó vương quốc Bactria mới ḥan ṭan độc lập, và các vị vua cai trị
được sử gọi là vua Hy-Bactria.
|
 |
|
Vua Diodotos |
Về sau, Euthydemos I c̣n bành trướng đất đai măi đến
vùng Tiểu Á. Strabo đă viết “họ bành trướng vương quốc xa đến vùng Seres và
Phryni” (Strabo XI.II.I). [Chú thích thêm: Có lẽ Phryni ở đây
phải được viết là Phrygia].
|
 |
|
Vua
Demetrios I (khỏang 200-180 TTL) Người
chinh phục Ấn. (chân dung trên đồng tiền cổ). |
Sau
khi Euthydemos I mất năm 200 TTL, con là
Demetrios I kế vị và năm 180 TTL kéo quân
xâm lăng đất Ấn sáp nhập thung lũng Indus (vùng Ngũ Hà) v́ chính sách bách hại
PG của vua Ấn là Sunga. Từ đó các vua Bactria được gọi là Hy-Ấn. Đến năm 170 TTL
đời vua Demetrios II quân Bactria tiến được đến miền đông vây hăm lâu dài
kinh đô Ấn là thành Pataliputra, sau khi chiếm bán đảo Surastra (Kathiavar),
Gandhara, và Vahika (Punjab bây giờ). Vương quốc Ấn của triều Sunga bị thu hẹp ở
phía đông.
Năm
169 TTL, trong khi vua Demetrios II đang hành quân ở miền đông Ấn th́ tướng
Eucratides I cướp ngôi ở kinh đô Bactra tự lập làm vua. Trên đường trở về kinh
dẹp lọan th́ vua Demetrios II bị tử thương. Em là Apollodots I lên thay, nhưng
không bao lâu sau cũng bị Eucratides I tấn công hạ sát vào năm 165 TTL. Vương
quốc của Eucratides I cũng bị tan ră nhanh chóng sau khi ông bị giết năm 150
TTL.
Vua
Menander lên kế vị, dời đô về Sagala (Xá Kiệt) và ngưng cuộc vây hảm
Pataliputra. Khi rút quân về lại Sakala, ông mang theo về cái lư tưởng thuận
trị theo Chánh Pháp của Asoka. Nhờ vậy Phật pháp lại được tiếp tục
truyền bá mạnh đến cố đô Taxila rồi vùng Trung Á và c̣n xa hơn nữa. Ông trị v́
được 35 năm, nhưng sau khi ông mất th́ vương quốc rộng lớn của ông bắt đầu bị
chia xẻ thành nhiều tiểu quốc.
Sagala (bây giờ là Sialkot ở
Punjab), kinh đô mới của nước Bactria, nơi
có cuộc đàm đạo giữa vua Menander và tỳ kheo Nagasena tại chùa Sankheyya, là một
vùng rất ph́ nhiêu, nằm giữa hai con sông Chenab và Ravi gần biên giới của
Kashmir, mà trong bộ kinh (Miln. trang 83 – câu 5, Chương 7) đề cập đến là cách
Kashmir 12 do-tuần (yojanas) tức khỏang 84 miles.
Tổng cộng có cả thảy hơn 30 vị vua Hy-Ấn trong vùng đă cai trị trong ṿng 2 thế
kỷ từ 323 đến 10 TTL. Các triều đại huy ḥang của Hy-Ấn bị suy tàn kể từ 130 TTL
và sau rốt bị người Kushan chiếm đọat. Vua cuối cùng là Strato II, tại vị từ
40-10 TTL.
Những vị vua
của vương quốc Bactria với các năm trị v́:
Vương quốc Hy-Bactria:
Sophytes hay Seleukos (305-294 TTL)
Diodotos I (khỏang 250 – 230 TTL)
Diodotos II
Euthydemos I; lật đổ Diodotos (khỏang 230-200 TTL)
Vương quốc Hy-Ấn:
Demetrios I (khỏang 200-180 TTL) Con của
Euthydemos I. Người đă chinh phục được Ấn.
Euthydemos II (190-171 TTL) Con của
Demetrios I
Pantaleon (190-180 TTL) Con của Demetrios
I
Demetrios II (175-170 TTL)
Apollodotos I (khỏang
174–165
TTL) Em của Demetrios II, sau bị phản lọan Eucratides I giết.
Antimachos I (171-160 TTL):
Agathokles (171-160 TTL) Con của Demetrios
I đồng trị với
Antimachos I
Menandros (khỏang
173–130
TTL) kế vị Apollodotos I.
Eucratides I (171-145 TTL)
Eucratides II (145-140 TTL)
Epander (135 - 130 TTL)
Strato I (125 - 110 TTL)
Zoilos I (130 - 120 TTL)
Lysias (120 - 110 TTL)
Antialcidas (115 - 95 TTL)
Heliokles II (110 - 100 TTL): Vị vua sau cùng của
vương quốc Bactria.
Philoxenus (khỏang
100–95TTL)
Demetrios III & Aniketos (khỏang 100 TTL)
Diomedes (95 - 90 TTL)
Amyntas (95 - 90 TTL)
Theophilos (khỏang 90 TTL)
Peukoloas (khỏang 90 TTL)
Nicias (khỏang
90–85
TTL)
Menander II & Dikaios (90 - 85 TTL)
Archebios (90 - 80 TTL)
Hermaeus (khỏang
90–70
TTL)
Apollodotus II (80 - 65 TTL)
Hippostratos (65 - 55 TTL)
Dionysios (65 - 55 TTL)
Artemidoros (60-40 TTL)
Zoilos II (55 - 35 TTL)
Apollophanes (35 - 25 TTL)
Strato II (40 - 10 TTL)
Hermaeus (10-1 TTL) (Có vẽ không thực trị mà chỉ được
truy phong sau khi mất).
Vua Menander
hay Menandros:
Chân dung Vua Menander, vương quốc Bactria, được khắc
trên đồng tiền cổ. (National Museum, New Delhi)
Vua
Menander (có chỗ khác viết là Menandros, Minedra hay Menadra; tiếng Pali là
Milinda) trị v́ khỏang từ 160 – 135 TTL, là vị vua vĩ đại trong những vua Hy-Ấn,
đă cai trị một vùng rộng lớn ở tây bắc Ấn, được gọi là vương quốc Bactria thụôc
bán lục địa Ấn, chạy dài hướng tây đông từ thung lũng Kabul đến sông Ravi, hướng
bắc nam từ thung lũng Swat (Pakistan ngày nay) đến Arachosia (thuộc
Afghanistan ngày nay), và vịnh Arab.
Menander sinh năm 183 TTL ở “Alasandra” (mà ngày nay
được biết là Alexandria của vùng Caucasus hay
Alexandria trên sông Oxus), vốn là kinh đô
Kapisa của vùng Gandhara cổ đă bị Alexander đổi tên vào năm 329 TTL, cách 150 km
phía bắc Kabul ngày nay; và theo bộ kinh Milinda-Panha th́ cách Sagala 200
yojanas, và lớn lên ở thung lũng Kabul. Có học giả cho ông là cháu của vua
Demetrios II; khi lớn lên trở thành một bộ tướng anh dũng của Bactria, đă từng
theo pḥ vua Demetrios II đánh đuổi quân Parthians ở phía tây và uy hiếp
Pataliputra, kinh đô của Ấn ở phía đông.
Menander đă được thần dân ngưỡng mộ v́ tư cách đạo
đức, có tài điều binh khiển tướng, cách trị quốc công minh, lối đối xử b́nh đẵng
với các truyền thống Hy, PG, Ấn giáo và Bái Hỏa giáo (Zoroastrianism), làm cho
nước mạnh dân giàu. Ông c̣n được mọi người kính trọng xem như là Vua Công Chính,
Dharmaraja. Khi về già ông lại thường hay chú trọng đến việc thảo luận về
triết và thần học. Ông hay tranh biện với những tư tưởng gia của nhiều đạo phái
khác nhau và thường làm cho họ sững sốt về những sự hiểu biểt rất thâm sâu của
ông. Trong một cuộc gặp mặt như thế với tỳ kheo Nagasena, vua Menander đă bái
phục và xin quy y theo PG. Ông đă cho xây một tăng viện lớn cho Nagasena tại
kinh đô Sagala gọi là Milindavihara. Sau đó ông đă nhiệt tâm hổ trợ PG.
PG
dưới triều Menander có một địa vị rất quan trọng. Một đọan trong bộ Mahavamsa
của Sri-Lanka đă ghi: “Nhân có lễ đặt đá cho việc xây Đại Tháp tại
Anuradhapura ở Sri-Lanka, một phái đ̣an tăng già Hy-lạp (tiếng Pali: Yona) gồm
30 ngàn người dẫn đầu bởi đại sư Mahadhammarakkhita (Sanskrit:
Mahadharmaraksita) đă đến từ Alasandra” (Mahavamsa - XXIX).
Sử gia La-mă Trogus Pompeius đă đề cập đến các vua
Apollodotus và Menander trong bộ sử dày cộm của ông. Hai nhà sử học danh tiếng
Hy-lạp là Strabo và
Plutarch cũng viết khá nhiều về công trạng
của vua
Menander, đă cho thấy ông không những nổi
danh ở vùng Tiểu Á và tây bắc Ấn mà c̣n được đề cao ở thế giới Hy-La về sau.
Strabo (XI. 516) cho rằng Menander đă chinh phục nhiều bộ lạc hơn cả Alexander,
khi ông vượt dăy Hypanis về phía đông để đến Isamus. Ông ta c̣n chiếm xứ
Patalene ở đầu lưu vực sông Indus, đến bờ biển Saraostes, và bành trướng đến
Seres (Trung quốc) và Phryni.
Bộ sưu tâp cổ vật của Mir Zakah gồm 521 đồng tiền
dưới triều Menander đă được công bố gần đây chứng tơ triều đại lâu dài của ông
và sự buôn bán thịnh vượng trong nước. Nhiều đồng tiền đào xới được trong vùng
từ
Afghanistan đến trung Ấn dưới triều
Menander đều có khắc h́nh ông qua nhiều thời kỳ, lúc trẻ và lúc già cùng với
bánh xe pháp. Những đồng tiền khác với chân dung của vua
Menander mang ḍng chữ “Vua cứu độ
Menander” bằng chữ Hy-lạp Basileos Sothros Menandroy ở một mặt, và
mặt kia mang ḍng "Maharajasa Dharmika Menandrasa" (Vua vĩ đại Menander
truyền bá PG) bằng chữ
Prakrit và
Kharoshthi.
Vua cứu độ
Menander (khỏang
173–130
TTL).
Theo văn học truyền thống của PG th́ ông đă nhường ngôi cho con để lui về ở ẩn ở
tăng viện, nhưng Plutarch đă ghi là ông chết trên chiến trường trong cuộc viễn
chinh tái chiếm Bactria bất thành khỏang 130 TTL. Plutarch (Praec. reip. ger.
28, 6) đă viết về vua Menander như sau: ”Ông là một vị vua nổi danh rất chính
trực và được ḷng dân dến độ khi ông mất ở trận tiền, nhiều thành phố đă tranh
nhau tro cốt của ông; sau cùng đă đồng ư chia đều để mang về tôn thờ trong các
ngôi tháp lớn”.
Tỳ Kheo
Na-Tiên (Nagasena):
Nagasena,
theo tiếng Sanskrit có nghĩa là “đ̣an quân rồng”. Tư liệu hiện lưu truyền về
tiểu sử của ngài đă ít lại rất mơ hồ, lắm khi c̣n mâu thuẫn nhau nữa. Có khá
nhiều lư do để giải thích việc này: 1) Có thể v́ truyền thống PG không coi trọng
bản ngă và danh vọng nên đă không lưu lại nhiều chi tiết. 2) Đối với các nhân
vật tôn giáo nổi danh ở vào thời đại của Nagasena, chuyện thật nhiều khi được
thần bí hóa bởi tín đồ để thành huyền thọai. 3) Cũng vào thời đại ấy, sử liệu
chỉ được chú trọng vào các nhà vua, và đă được lưu truyền nhờ vào những dấu tích
xây dựng lâu dài của họ. 4) Các dữ kiện nếu có về Nagasena có thể đă bị tiêu hủy
bởi những biến động chính trị và tôn giáo đối kháng trong vùng; vv…
Theo bộ kinh Milinda-panha th́ ngài sanh tại làng
Casangala (Kajangala), dưới chân Hy Mă Lạp sơn, ở vùng Tây bắc Ấn Độ, trong một
gia đ́nh Bà La Môn mà thân phụ tên là Soñuttara, các sư phụ gồm đại sư Rohana và
Assagutta của tăng viện Vattaniya, Dharmarakshita của tăng viện Asoka Ārāma ở
kinh đô Pātaliputta. Chính đại sư Dharmarakshita đă từng được đại đế Asoka phái
đi truyền đạo ở Aparanta phía tây nước Ấn. Một vị thầy khác là đại sư Āyupāla
của tăng viện Sankheyya gần
Sāgala. Khi vua Menander đến vấn kinh th́
ngài đang trụ tŕ tăng viện Sankheyya có đến 80 ngàn tỳ kheo lưu trú.
George Woodcock sau khi t́m hiểu hệ thống truyền thừa
của PG trong vùng đă cho rằng Nagasena có thể là vị sư gốc Hy ở Bactria.
(Woodcock 95).
Cuộc xâm lấn
của dân Scythian Và Kushan:
Vào
khỏang giữa thế kỷ thứ 3 TTL, Tần Thỉ Ḥang thống nhất Trung quốc vào năm 221
TTL, và đă đuổi được rợ Hung Nô ra xa bờ cơi.
Rợ
Hung Nô (Xiongnu:
Huns), v́ thế di dân sang phía tây đánh
đuổi những bộ tộc
Yuezhi (Nguyệt Chi hay Nhục Chi) sinh sống
ở lưu vực Tarim (Xinjiang
và
Kansu ngày nay) đến vùng sông Ili vào
khỏang 175 TTL. Đến lược họ lại đẩy các bộ lạc
Sakas (mà tiếng Hy-lạp gọi là Scythians),
có nguồn gốc Mông cổ, di dân về phía nam và tây vào các xứ
Parthia khỏang 138-124 TTL, rồi năm 130
TTL vào
Bactria. Các bộ lạc
Yuezhi tiếp tục xâm lấn vào
Bactria, và đuổi dân Scythians vào
Afghanistan và bắc Pakistan trong thung lũng sông
Indus.
Các
giống dân mới chịu đồng hóa với văn hóa Hy. Ban đầu dân Scythians sống ḥa b́nh
với các triiều đại Ấn-Hy, nhưng đến khỏang cuối của TK 1 TTL th́ họ xâm chiếm
ṭan vùng dưới triều vua Azes II và chấm dứt các tiểu vương quốc Ấn-Hy, lập nên
vương quốc Indo-Scythian từ 90 TTL đến 12 TTL. Sau khi vua Indo-Scythian cuối là
Aze II mất th́ vương quốc Indo-Scythian bị giống
Kushans, vốn là một bộ phận của rợ
Yuezhi, chiếm lập nên Đế quốc Kushan (nên
sử Tàu hay gọi lẫn lộn là xứ Khuất Chi hay Nhục Chi) kéo dài vài thế kỷ, chỉ bị
tạm dứt khỏang một thế kỷ khi bị dân Parthians xâm lăng từ 20 TL đến 75 TL, rồi
phục hồi trở lại.
Đế quốc Kushan tồn tại từ TK thứ I đến TK 3 TL, trăi
dài từ
Tajikistan đến biển
Caspian và
Afghanistan, cho măi đến thung lũng sông
Ganges. Trong nhiều thế kỷ, đế quốc này là
trung tâm giao dịch giữa đông và tây. Các triều đại huy ḥang nhất là từ 100 đến
250 TL có
Kanishka I (100-126 AD),
Huvishka (126-164 AD),
Vasudeva I (164-200 AD),
Kanishka II (200-222 AD) và
Vashishka (232- 246 AD).
Nhưng đến TK thứ 3 TL th́ đế quốc Kushan bắt đầu tan
ră. Sau khi vua Vasudeva I chết th́ đế quốc Kushan bị phân làm 2 xứ đông và tây.
Đến năm 224-240 TL Các triều đại Kushan bị Shapur I cầm đầu dân Sassanides lật
đổ, rồi lên làm vua. Shapur I cũng đă đánh bại quân La-mă và bành trướng rất
mạnh trong vùng. Các triều đại Sassanides cai trị vùng này từ 224 đến 651 TL.
Dưới thời Sassanides Bái Hỏa giáo lại trở thành quốc
giáo, nhưng cũng rất nương tay với những tôn giáo khác, nên PG vẫn có cơ hội
phát triển mạnh. Chính vào thời kỳ này hai bức tượng Phật đồ sộ lớn nhất ṭan
cầu đứng cao 177 bộ đă dược tạc vào núi đá ở Bamiyan, Afghanistan, mà gần đây đă
bị bọn cuồng tín Hồi giáo Taliban phá hũy.
Bái Hỏa giáo (mà tây phương hay gọi theo Hy ngữ là
Zoroastrianism) là tôn giáo độc thần thờ Ahura Mazda, và trong nghi lễ xem lửa
như là nguồn sáng tạo tinh khiết, là ánh sáng thánh thiện đối chọi với dục vọng
đen tối độc ác, do nhà tiên tri Zoroaster tạo dựng (thực ra tên gốc Iran là
Zarathushtra Spitama), và một thời nó đă là quốc giáo của đế quốc Persia. Nhiều
học giả cho là Zoroaster sống trong khỏang 628 – 551 TTL, và được thiên khải rồi
nổi danh ở Bactria ở tuổi 30. Ở đó ông đă sáng tạo nên những thánh kệ trong
quyển Gathas thuộc bộ kinh Zand Avesta.
Một điều thú vị khác là vài chục năm trước đây Kim
Dung, một nhà viết tiểu thuyết vơ hiệp trứ danh của Đài Loan trong cuốn “Ỷ thiên
Đồ long kư”đă đề cập đến sáu thanh Thánh hỏa lệnh của Bái hỏa giáo Ba Tư, và
Trương Vô Kỵ trở thành giáo chủ Minh Giáo tức Bái hỏa giáo Trung Quốc. Thực ra
Minh giáo (Manichaeism), có giáo thuyết gần giống Bái Hỏa giáo xuất hiện nhiều
thế kỷ sau, do Mani (khỏang 216-76 TTL) ở Babylonia sáng lập, nhưng lại bị giết
bởi giới tăng lữ đạo Zoroastrianism v́ ra mặt đối kháng. Lúc c̣n thanh niên, ông
đă từng đến Taxila học đạo và chịu ảnh hưởng PG. Trong vài trăm năm Minh giáo đă
đối đầu với Ki-tô giáo trong vùng Trung đông.
Đến TK thứ 5 th́ đế quốc Sassanides bị tan rả bởi sự
xâm lăng khác của rợ Hung nô mới và sau đó là sự lớn mạnh của đế quốc Gupta ở Ấn
theo Ấn giáo, rồi đến lượt các thế lực Hồi giáo. Theo đó PG cũng bị tàn lụi dần.
Ḥang Đế Kanishka I:
Là
một ông vua qui y theo PG, và nhiệt tâm chẳng kém các vị ḥang đế khác như
Asoka, Menander I, và Harshavardhana (606-47 TL).
Ḥang đế Kanishka I (100-164 TL) kế vị vua Vima
Kadphises, đóng đô ở Purushapura (Peshawar) là vị vua vĩ đại của vương quốc
Kushan. Lănh thổ của đế quốc Kushan rất rộng dưới thời Kanishka I, bao gồm và
kiểm sóat con đường tơ lụa, là vùng giao lưu của các nền văn minh lớn của thế
giới bấy giờ, tây có La-mă (trong thời của các ḥang đế Trajan và Hadrian:
98-138 TL), đến đông có Trung-hoa. Dưới triều đại của ông, nghệ thuật PG-Hy đạt
đến tột đỉnh tạo nên nền văn minh Gandhara. Nhiều đồng tiền dưới triều Kanishka
I, khỏang năm 120 TL, có khắc h́nh đức Phật theo mỹ thuật Hy-lạp, và mang ḍng
chữ Hy "Boddo" (đức Phật).
|
 |
Cũng giống như Asoka, ḥang đế Kanishka I xây dựng
rất nhiều đền đài, ví dụ như đại tháp Peshawar thờ xá lợi Phật được cất bằng gổ
cao 400 bộ, khu Sirsukh ở Taxila, thành ở Kashmir vv.. nay vẫn c̣n dấu tích. Vua
Kanishka đă tổ chức kết tập kinh điển ở Jālandhar Kashmīrthat, Kashmir, mà trong
văn học PG hay gọi là Ô Trường (Udỳana). Lần kết tập này đă đánh dấu sự h́nh
thành của Phái Đại thừa Mahayana, tách rời ra khỏi phái Thượng tọa bộ Nikaya.
Ông cho lưu giữ nhiều bản kinh đại thừa viết bằng thổ ngữ ở Gandhara là tiếng
Prakrit, sau này được dịch sang ngôn ngữ văn chương Sanskrit và từ đó được
truyền sang đông phương theo con đường tơ lụa. (Foltz – “Religions on the
Silk Road”),
Cũng trong thời kỳ huy ḥang này có sự xuất hiện của
những đại luận gia PG như Nagarjuna, Asvaghosha and Vasumitra. Charaka, được
xem như cha đẻ của nền y học của Ấn khởi sự là ngự y trong triều Kanishka.
PG Hy-lạp
(Graeco-Buddhism)
hay sự giao
ḥa giữa PG và văn hóa Hy-lạp:
Có thể nói các vương quốc Bactria rồi Kushan
là mối nối kết giữa vùng Địa trung hải, lục địa Ấn và Trung quốc – khởi đầu cho
sự liên lạc giữa hai nền văn minh tây và đông phương.
Sự giao ḥa mọi mặt, nhất là văn hóa giữa Hy và PG
đang hưng thịnh trong vùng kéo dài nhiều thế kỷ đă lưu lại một sắc thái đặc thù
cho nền văn hóa mới ở vùng này, sử hay gọi là PG Hy-lạp, kéo dài gần 8 thế kỷ
(từ TK 4 TTL dến TK 5 TL), mà ảnh hưởng vẫn c̣n kéo dài cho đến ngày nay.
Đơn cữ một vài thành tựu:
1. Kiến trúc Hy-lạp. Nhiều thành
phố lớn trong vùng như Taxila, Ai-Khanoum, Uddiyana, Sindh vv… mang thêm những
đặc điểm của nền văn minh Hy-lạp qua các cấu trúc như rạp hát, đấu trường và
hàng cột đá ở những dinh thự vv.
2. Kiến thức về khoa học, thiên văn, y học và triết học của Hy-lạp ḥa nhập với
văn hóa bản xứ và đạo Phật, đă tạo nên một nền văn hóa mới và phát triễn rực rỡ
vài thế kỷ từ vùng Gandhara, măi đến sau khi các vương quốc Hy-Ấn biến mất đă
lâu. Taxila đă trở thành một trung tâm học vấn quốc tế nổi danh.y-ẤnHy
2. Kỷ thuật tiến bộ trong việc đúc tiền bằng kim lọai. Các nhà vua của vương
quốc Bactria khỏang đầu TK 2 TTL, như Euthydemos II, Agathokles và Pantaleon đă
cho đúc những đồng tiền gồm đồng và bạc, rồi đặc biệt kẻm mạ kền (nickel) được
xem như là lần đầu của nhân lọai. Người ta cho là nickel đă được du nhập từ
Trung quốc hoặc từ những thiên thể (meteorites) rơi xuống đất. Kỷ thuật sản xuất
đồng nickel này bỗng biến mất cho măi đến TK 19 TL mới được tái dụng. Điều đáng
nói là tỷ lệ hợp kim này, 25% nickel 75% đồng, ngày nay lại được dùng trong đồng
xu của Mỹ. H́nh tượng đức Phật đă được khắc lên trên những đồng tiền này lần
đầu.
3. Nghệ thuật điêu khắc tả chân thật tân kỳ. Các đồng
tiền vàng và bạc mang chân dung của các vị vua Hy-Ấn được điêu khắc rất sống
động c̣n tĩ mĩ hơn xa những tác phẩm đồng thời của những vương quốc phương tây.
4. Riêng đối với PG th́ trước thời kỳ này, vâng theo
lời dạy của đức Phật trong kinh Digha Nikaya (Trường Bộ Kinh), không muốn đồ đệ
lưu luyến qua ảnh tượng thế gian vốn sinh diệt của ngài nên hậu thế thường tượng
trưng đức Phật bằng h́nh ảnh của một ngai vàng bỏ trống, cây bồ đề hoặc bánh xe
pháp chứ không tạo theo h́nh dáng con người, bởi cho như thế là phạm thượng. Đến
khi PG được thấm nhuần ở Bactria th́ tượng đức Phật lịch sử mới được tạc bằng đá
hay trên đồng tiền lần đầu theo truyền thống Hy với thế đứng và áo cḥang dài
phủ hai vai để tôn thờ, chẳng hạn như tượng đức Phật đứng ở Gandhara vào TK 1, 2
TL.
Và những h́nh tượng đức Phật chịu ảnh hưởng Hy vào
giai đọan ấy đă diễn tả được nét mặt thanh tịnh và tâm cảnh giác ngộ giải thóat
của ngài, một đấng giác ngộ rất gần gũi với người thường, nên có sức thu hút tín
đồ mănh liệt hơn, và được phổ biến rộng răi hơn.
Vài h́nh tượng bồ tát PG có thể đă chịu ảnh hưởng
Hy-lạp; ví dụ thần Heracles (hay Hercules) với áo da sư tử đă được làm mẫu cho
thần Thủ kim cương (Vajrapani),
một vị hộ pháp; mà về sau ở Trung quốc và Nhật đă biến thành các hộ thần đứng
trấn ở các cổng chùa.
PG Hy-lạp và sự hưng thịnh của
phái Đại thừa:
Không ít th́ nhiều, chính sự chung sống khắng khít
lâu dài giữa hai nền văn hóa PG và Hy-lạp trong vùng đă ảnh hưởng lên hệ thống
triết học của nhau. PG lên trên nền triết học của Hy; và Hy lên trên sự manh nha
của học phái Đại thừa, trước cả giai đọan ảnh hưởng của Trung Á hoặc đông bắc
Á.
Theo nhiều học giả th́ những bản kinh đại thừa chủ
yếu đă được sáng tập khỏang năm 100 TTL, khi có sự khác biệt trong sự luận giải
lời dạy của đức Phật giữa phái thủ cựu (Thượng tọa bộ) và phái canh tân (Đại
thừa), và nhất là sự tranh luận về ứng thân (humanity) hay pháp thân (superhumanity)
của đức Phật và về A-t́ đạt-ma tạng (metaphysical
essentialism). [McEvilly, "The
shape of ancient thought"]. Phái đại thừa bao dung và chấp nhận những ư niệm
tiến bộ hơn ng̣ai những kinh bộ truyền thống Nikaya, vượt xa hơn ư niệm về giác
ngộ giải thóat cá nhân của Thượng tọa bộ, để thờ phượng đức Phật gần như
nhân-thần linh thiêng (man-god status) tương tự như quan niệm thần linh
hóa nhà vua (god-king) của Hy-lạp, và sự xuất hiện một lọat các chư thánh
bồ tát muốn cứu độ chúng sinh (pantheon of deities -
bodhisattva).
Theo Katsumi Tanabe, giáo sư tại Chuo University, Nhật, trong cuốn "Alexander
the Great.East-West cultural contact from Greece to Japan" th́ ảnh hưởng
Hy-lạp trong PG c̣n được truyền sang Nhật bản và lưu nhiều dấu tích, ví dụ thần
gió
Fujin là gợi ư từ thần
Boreas, hay thần mẹ Hariti hoặc
Kishibojin từ thần
Tyche.
Đến triều Kanishka I th́ phái đại thừa càng được khởi
sắc thêm. Tiếng Pali được dùng trong văn học thay thế tiếng Sankrit và đặc điểm
nổi bậc nhất là sự trưởng thành tột đỉnh của nghệ thuật Gandhara. Nghệ nhân vùng
này đă khéo léo trộn lẫn hai truyền thống Ấn và Hy-lạp trong các tác phẩm một
cách hài ḥa. Rơ rệt nhất là các tượng Phật và chư bồ tát mà hiện nay vẫn c̣n
tồn tại. Foltz trong cuốn “Religions on the Silk Road” cho rằng sự giao
lưu đa văn hóa trong vùng trên “con đường tơ lụa” đă đóng góp vào sự phát triển
và lớn mạnh của phái đại thừa và Tịnh độ tông.
Tượng đức Phật Thích Ca lúc khổ hạnh; t́m thấy ở
Taxila và hiện lưu ở
Bảo tàng viện Lahore.
Nhiều tượng Phật tạc theo nghệ thuật Gandhara c̣n mang vẻ thần mặt trời
Apollo. Bentley trong cuốn "Old
World Encounters" cho rằng có thể triết lư khắc kỷ (stoicism) của
Hy-lạp đă có chút ảnh hưởng đến sự nh́n nhận khả năng b́nh đẳng giác ngộ của mỗi
cá nhân (ai cũng có Phật tính).
Đáng tiếc là sự tương sinh này đă chấm dứt vào khoảng TK 5 TL, khi vùng bắc Ấn
bị rợ Hung xâm lấn, và kế tiếp là sự phục hồi của Ấn giáo và sau cùng là sự bành
trướng của Hồi giáo làm cho ảnh hưởng Hy vào PG đă phai tàn nhường chỗ cho ảnh
hưởng của Trung Hoa về sau.
Ảnh hưởng đến các tôn giáo khác ở
phương tây:
Xa hơn nữa, sự giao thoa PG - Hy-lạp cũng đă gây ảnh
hưởng đến sự h́nh thành của nhiều tôn giáo khác trong vùng Địa trung hải, đặc
biệt là Ki-tô giáo.
Bentley, trong sách dẫn thượng đă khẳng định rằng
khái niệm luân lư của PG vào thời đại của Menander, dựa vào lư tưởng thuận
trị theo Chánh Pháp của Asoka được truyền qua phương tây đă ảnh hưởng đến
giáo lư của Ki-tô xuất hiện khỏang 2 thế kỷ sau, như ư niệm về hiếu sinh, b́nh
đẳng, thương xót kẻ yếu đuối, tránh bạo lực, biết dung ḥa và tha thứ vv…
Những thành phố Hy-lạp quan trọng ở vùng Trung đông như
Antioch và đặc biệt là
Alexandria, về sau đă trở thành những
trung tâm phát triển Ki-tô giáo và đóng vai tṛ không nhỏ trong sự kết tập giáo
lư của Ki-tô giáo.
Ảnh hưởng của PG c̣n được thấy phảng phất trong vài
phần khác của Thánh Kinh Ki-tô, ví dụ sự thiên ứng về sự ra đời của Phật và
Jesus; sự báo trước của các nhà tiên tri Asita và Simeon về đứa bé sơ sinh sẽ là
đấng cứu thế; Phật bước trên hoa sen, Jesus đi trên nước; việc chữa lành cho
người bệnh; việc nhịn đói nhiều tuần trước khi thành đạo; sự cám dỗ của Mara và
Satan; ư niệm về tam bảo và ba ngôi; đời sống độc thân trong tu viện, vv…(Sedlar
281).
Trong cuốn “Intertextuality, Buddhism, and the
Infancy Gospels,” Zacharias P. Thundy khẳng định không phải là do sự trùng
hợp mà cho rằng văn hóa và văn học PG và Ấn đă cung cấp nhiều yếu tố trong văn
chương Thánh Kinh Ki-tô (Thundy 18). Thời kỳ ấy, tín đồ PG đă từng sinh sống ở
Alexandria. Origen qua cuốn “Commentary on the Book of Ezekiel,” c̣n cho
là PG cũng đă có mặt ở Anh quốc. Giáo sư Hajime Nakanura c̣n bảo là ông đă t́m
thấy dấu tích của các tăng viện PG ở vùng bắc Âu. (Ikeda 74).
Trong Cựu ước kinh, phần Thánh vịnh, bộ “Các sách
giáo huấn”, đặc biệt là quyển thứ 4 “Ecclesiastes” (Truyền Đạo, có người dịch là
Giảng Viên), vốn được biên soạn ở thế kỷ 3 TTL, nhưng lại ngụ ư là do vua
Salomon của Do-Thái. Tác giả vô danh suy ngẫm về ư nghĩa cuộc sống và cho rằng
tất cả đều là phù vân, sau khi đă quan sát về ṿng sinh tử, luân hồi của đời
sống. Ngay trong câu mở đầu của cuốn sách Qohelet (Thầy giảng) phán: “Hư
không, tất cả đều là hư không” (emptiness, everything is emptiness).
Ư này c̣n được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong cuốn kinh. Ông vốn có đủ quyền
lực và khả năng để thử nghiệm đời sống một cách tận cùng về trí thức, rồi các
thú vui vật chất, t́nh tiền, nhưng rồi cũng thất vọng và đau khổ v́ cái giới hạn
của cuộc sống. Rốt lại ông cho rằng chỉ có cuộc sống tâm linh thánh thiện mới là
nguồn an lạc lâu dài. Năm 1894, nhà thần học E. J. Dillon vốn thấy nó rơ ràng là
đă chịu ảnh hưởng của PG, nên muốn lọai cuốn này ra khỏi Thánh Kinh Ki-tô
(Dillon 153-76).
Cũng trong giai đọan này triết gia Pyrrhon đă tháp
tùng đại đế Alexander vào vùng tây bắc Ấn và khi trở về Hy-lạp đă lập nên trường
phái Cynic, sau khi chịu ảnh hưởng của Kỳ na giáo và PG. Hiển nhiên sự bành
trướng của trường phái này trong thế giới Hy-lạp đă có ít nhiều ảnh hưỡng đến
cuốn Ecclesiastes.
Bộ kinh Milinda Vấn Đạo:
Người ta tin rằng bộ kinh Milindapanha đă được khẩu
tập không lâu sau khi vua Menander băng hà. Thời gian ấy các người kế vị là
Ḥang hậu Agathocleia rồi vua Strato I Soter ở ngôi khỏang 40 năm nữa trước khi
xứ Bactria bị chia ra nhiều tiểu vương quốc. Nội dung kể lại những câu hỏi và
đáp giữa vua Milinda và tỳ kheo Nàgasena. Sau đó bộ kinh này đă được kết tập ở
vùng bắc Ấn khỏang giữa TK 1.
V. Trenckner cho rằng nguyên bản được viết bằng chữ
Sanskrit, v́ khi ông dịch bản Pali vào những năm 1860 nhận xét thấy bộ kinh được
bắt đầu bằng ḍng “Tam yathà nusuyatà” (được truyền lại như sau), chứ
không theo lối kinh gốc Pali thông thường được khởi đầu bằng “Evam me sutam”
(tôi nghe như vầy). Điều ngạc nhiên nữa là câu mở đầu này cũng đă được dịch
ra trong bản chữ Hán, như thế tơ rằng hai bản dịch đều bắt nguồn từ nguyên bản
chữ Sanskrit. Các dịch giả Sylvain Levy và Specht cũng khẳng định là các bản
dịch ra Hán văn của bộ Milinda-panha có nguồn gốc không từ bản Pali, mà có thể
từ bản kinh cổ hơn.
Nhiều học giả như W. W. Tarn, George Woodcock, và
Rabindra Nath Basu đă gợi ư rằng có một
bản (có thể là gốc) viết bằng Hy ngữ của
Milinda-panha với tựa đề là “the Letter of Pseudo–Aristeas”đă xuất hiện ở
Alexandria trong ṿng 50 năm sau khi vua Menander từ trần. Điều này đă hổ trợ
cho thuyết bảo rằng bộ kinh đă được khẩu tập dưới thời Menander. (Basu 3;
Woodcock 113).
Đến nay người ta vẫn không rơ ai là tác giả bộ kinh
này, nhưng xem ra phải là người đă từng sống ở vùng tây bắc Ấn xa xôi hay vùng
Punjab, bởi v́ ngài đă không hề nhắc nhở đến những thành phố nổi danh thời bấy
giờ ở nội địa Ấn phía nam sông Hằng. Có học giả, như tỳ kheo Pesala sau khi
nghiên cứu bộ kinh Milinda-panha, rất ngạc nhiên với sự hiểu biết thâm thúy về
PG của vua Menander đă cho rằng có thể tác giả ẩn danh vốn là một đại sư, khi
thuật lại cuộc gặp mặt của hai nhân vật lịch sử trong kinh đă điểm xuyết thêm
vào sự liễu ngộ Phật pháp của ḿnh để kéo dài câu chuyện và làm đẹp ư nhà vua,
đồng thời làm sáng tơ giáo pháp của đạo Phật và bác bỏ những ngộ nhận từ các
giáo phái khác chống PG.
Bộ kinh thường được truyền tụng ở tây phương đến nay
là bản Pali; và đây cũng là bộ kinh khởi thủy thuộc hệ nam tông đă không xuất
phát từ Tích-Lan. Theo đó th́ cuộc đàm đạo giữa vua Milinda và thánh tăng
Nagasena xảy ra vào khỏang từ 400 đến 500 năm sau khi đức Phật nhập diệt. Về sau
đă đươc đại đức Pitakaculàbhaya, ở trung Ấn độ biên tập lại bằng tiếng Pàli từ
những khẩu truyền.
Theo bản Hán dịch hiện lưu hành th́ cho rằng soạn giả
là Bồ tát Long Thọ (Nagarjuna), vị đại luận sư của phái Đại thừa, xuất hiện
khỏang đầu của thiên niên kỷ TL. Có 3 bản dịch ra Hán văn lần lượt xuất hiện vào
các thế kỷ III, IV, và V. Bản hiện lưu hành là bản thứ nh́, dịch trong khoảng từ
năm 317 đến năm 420, nhan đề là "Na Tiên Tỳ Kheo Kinh", có lẽ từ bản Pràkrit.
Vào thế kỷ thứ V, đại luận sư Phật Âm (Buddhaghosa)
cũng thường trích dẫn kinh nầy để dùng làm luận cứ chứng minh cho các tác phẩm
của ngài. Ngài Thế Thân (Vasubandhu) cũng nhắc đến kinh Milindaphanhà trong khi
soạn bộ luận trứ danh của ngài là bộ A tỳ đạt ma Câu xá luận (Abhidharmakosa).
Trong bộ Mahavamsa của Tích Lan, vốn do Mahànàma viết
vào đầu thế kỷ thứ 6 TL, nhắc đến tiểu sử của Moggaliputta Tissa, đă sống khỏang
trăm năm trước Nagasena, nhưng lại giống với câu chuyện về Nagasena được đề cập
đến hai lần trong bộ kinh [Miln. pp 3-71]. Như thế rơ ràng là Mahànàma đă mượn ư
từ bộ kinh Milinda-panha, v́ lúc bấy giờ bộ Milinda-panha đă là thánh điển được
Buddhaghosa (Phật Âm) sao lục. Trong cuốn Milinda Tika, luận về bộ Milinda
Panha, cho biết là đọan mở đầu và đọan kết của bộ kinh là do Buddhaghosa viết.
Trong phần giới thiệu của bộ kinh, có đọan nói rằng
vua Menander đă từng đàm đạo với Purana Kassapa, Makkhali Gosala và những vị đạo
sư khổ hạnh khác th́ được xem như là hư cấu, bởi chư vị này sống đồng thời với
đức Phật Thích Ca. Câu chuyện có lẽ mượn từ cuốn Sàmana Phala Sutta của bộ Digha
Nikàya.
Ngày nay th́ bộ kinh, cũng như tam tạng kinh điển PG,
đều đă được dịch ra rất nhiều ngôn ngữ khác. Ở châu Âu, bộ kinh Milinda-panha đă
được nhiều học giả dịch ra và nghiên cứu lần đầu vào TK 19; đơn cử: 1) V.
Trenckner, Milinda-panho (London, 1880). 2) Rhys Davids, Questions of King
Milinda (2 vols., Oxford, 1890-1894). 3) R. Garbe, Beitrdge zur indischen
Kulturgeschichte (Berlin, 1903, ch. 3, Der Milinda-panha).4) Milinda Prashnaya,
in Sinhalese, (Colombo, 1877). 5) R. Morns, in the Academy (Jan. II, 1881). 6)
Sylvain Levy, Proceedings of the 9th International Congress of Orientalists
(London, 1892), i. 518-529, and Journal of the Royal Asiatic Society (1891), p.
476. (T. W. R. D.)
Phần đối thoại phản ảnh giáo pháp Kinh bộ Nikaya như
bàn về vô ngă, luân hồi, tái sanh của danh sắc, trạng thái của La Hán, bản thể
của Niết Bàn, sự xuất thế của Phật, tính cách vô thượng của Phật v.v. Trong cuộc
đối thoại nầy, có một điều làm cho vua Menander hài ḷng nhất là câu giải đáp
của ngài Nàgasena về sự lợi ích của đời sống tu hành mà từ trước nhà vua chưa
được nghe, đó là “người xuất gia chắc chắn đạt được thánh thiện, và đạt được
mau chóng hơn kẻ tại gia.”
Đặc điểm của Bộ Kinh:
Đặc điểm của nó là được xem như một cuộc giao thoa
Âu-Á đầu tiên, một cụộc học đạo giữa một người tây phương (vua Menander) với văn
hóa Hy lạp muốn học hỏi giáo pháp uyên áo của đạo Phật ở đông phương qua sự giải
đáp của một vị tăng (Tỳ kheo Nàgasena) ở thung lũng sông Indus. Qua đó Phật pháp
đă được tŕnh bày một cách đầy thuyết phục và dễ nhớ.
Vốn ḍng dơi Hy-lạp, vua Menander đă hỏi khá nhiều
câu hỏi mà người tây phương thường thắc mắc về những đề tài rất cấp thiết đại
lọai như “Nếu không có linh hồn th́ cái ǵ sẽ tái sanh?” hoặc “Nếu không có cái
ta th́ ai đang chuyện tṛ với ngài?”, cho nên bộ kinh Milindapanha rất gần gũi
với người tây phương muốn t́m hiểu về PG. Thực
ra lối đàm thọai này đă từng được đức Phật sử dụng trong Kinh Tăng Chi Bộ
(Anguttara Nikàya); Bài giảng cho người Kàlàmà. (Phẩm 5-7; Đọan 65).
Mọi câu hỏi được đặt ra từ một kẻ ngạo mạn đầy uy
quyền với óc đa nghi, sắc bén đều đă được giải đáp ḥa nhă, thỏa đáng kèm với
nhiều tỉ dụ cụ thể và giản dị bởi một vị thánh tăng. Cũng v́ thế mà vua Menander
liễu ngộ Phật pháp mà qui y rồi ủng hộ PG mạnh mẽ dưới triều ông.
Văn phong trong bộ Milinda-panha hao hao lối đối
thọai của Socrates (470-399 TTL) / Plato (428 – 347 TTL; học tṛ của Socrates và
thầy của Aristotle). T.W. Rhys Davids, một nhà ngữ học Pali đă cho đó là một
kiệt tác văn chương cổ của PG và cũng của nền văn học Ấn.
Bộ kinh cũng cho thấy ẩn chứa những điểm tế nhị ảo
diệu manh nha của tư tưởng đại thừa. Có lẽ chính v́ đặc điểm này mà ngài Long
Thọ (xuất hiện hơn 2 thế kỷ sau) cũng trước soạn lại bộ kinh Na Tiên để mở màn
cho giáo lư trung quán xuất hiện. Xét ở khía cạnh này, có thể xem tư tưởng
Nàgasena là tư tưởng chuyển tiếp giữa Tiểu thừa và Đại thừa. V́ thế địa vị của
bộ kinh trong tam tạng kinh điển không kém phần quan trọng.
Vài điểm khác biệt giữa hai bản
dịch Pali và Hán văn:
Đại khái chúng ta có thể nêu vài điểm khác biệt như
sau:
1. Bản Hán văn lấy tên tỳ kheo làm tựa đề là
Nàgasena-bhikshusutra (Na-tiên tỳ kheo kinh) chia làm 3 phần. Bản Pali lại tên
vua làm đề là Milinda-Panha (Milinda Vấn Kinh), phân làm 7 quyển.
2. Nội dung của một phần quyển I, trọn quyển
II, và quyển III của hai bản giống hệt nhau. Nhiều học giả cho rằng bốn quyển
c̣n lại, từ quyển IV đến quyển VII, là do phái Thượng tọa bộ Nam tông thêm dần
vào từ thế kỷ thứ V, cho hợp với lập trường giáo nghĩa của phái ḿnh.
3. Bản Pali có dư trội 12 câu hỏi. Đây là do sự
sắp xếp khác nhau của những lần biên tập về sau, nên có sự khác biệt. Bản Pali:
có 6 quyển, 22 chương gồm 262 câu hỏi, mà nay chỉ c̣n 237 câu hỏi. Bản Hán văn
có 250 câu hỏi.
4. Giữa hai bản, chuyện tiền thân của Nàgasena
và Milinda không giống nhau.
5. Trong bản Hán văn không thấy đề cập đến
Abhidhamma (A-t́-đạt-ma: Thắng Pháp), vốn thường được nhắc đến trong bản Pali.
6. Trong phần sắp xếp Bodhipakkhiya Dhammas
(Bồ-đề Phần), người dịch ra Hán văn xem ra không quen với bản Pali.
7. Bản Pali nói rằng súc vật có suy tính nhưng
thiếu khôn ngoan; bản Hán văn th́ bảo súc sinh có khôn ngoan nhưng cái tâm th́
khác nhau.
Lời Kết:
Nhân t́m hiểu lịch sử của giai đọan quanh thời kỳ
xuất hiện bộ kinh Milindapañha, chúng ta thấy đă có nhiều chứng cớ để kết luận
rằng: Cuộc đàm đạo giữa vua Menander (hay Milinda, Di-Lan-Đà) và Tỳ kheo
Nàgasena (hay Na-Tiên) là một sự kiện lịch sử, đă từng xảy ra ở tăng viện
Sankheyya, thuộc kinh đô Sagala của nước Bactria vào khỏang giữa thế kỷ thứ 2
TTL.
Sử liệu cũng cho thấy vùng tây bắc Ấn sau khi bị
người Hy-lạp xâm chiếm đă có một thời thấm nhuần PG được truyền từ lưu vực sông
Hằng. Có thể bảo đấy là thành quả sớm nhất của các cuộc truyền pháp của PG sang
phương tây, c̣n trước cả phương đông. Sự giao ḥa giữa hai nền văn hóa và triết
học của PG và Hy-lạp trong vùng đă tạo nên một sắc thái đặc thù của đất thánh
Gandhara, nơi phát xuất và đóng góp ư niệm đại thừa vào PG về sau.
Nhưng nh́n vào sự thăng trầm sinh diệt nhanh chóng
của các nền văn hóa trong vùng cũng làm cho người đọc chạnh ḷng. Với tham vọng
đế quốc thống trị ṭan cầu, nhất là từ tây phương kể từ thời Alexander, th́ sức
mạnh của bạo lực là chủ yếu. Mạnh được yếu thua. Họ chẳng cần đếm xỉa ǵ đến đạo
lư. Đạo lư chỉ được tạo dựng sau khi đă ḥan tất sự khống chế để biện giải cho
việc giết người cướp của của họ; v́ thế mà vai tṛ của tôn giáo và giới tăng lữ
vẫn luôn có giá trị lợi dụng cho kẻ xâm lược.
Suốt ḍng lịch sử nhân lọai hơn hai ngàn năm, tham
vọng ấy của tây phương vẫn liên tục được tiến hành với chiêu thức có thay đổi
tùy theo thời đại kỷ thuật mới. Đến nay th́ họ không cần chiếm đất mà chỉ muốn
áp đặt quyền lực lên các nước nhược tiểu. Dĩ nhiên song hành với tham vọng này,
họ vẫn là xữ dụng “vũ khí mềm” là bành trướng tôn giáo Ki-tô lợi hại, “mở mang
nước Chúa” để đạo và đời cùng có lợi như đă từng làm trong quá khứ qua các chế
độ xâm chiếm thực dân.
Đă có biết bao nhiêu tiểu quốc, bao sắc dân, bao nền
văn hóa và tôn giáo của thế giới đă bị hũy diệt bởi những tham vọng này. Từ đó
ta thấy thêm rằng chỉ những tôn giáo nào được kẻ mạnh xử dụng là hy vọng tồn
tại, và v́ thế tôn giáo nào muốn độc tôn trên thế gian đều phải dựa vào lưởi
gươm của thế lực, chứ chẳng phải từ thần linh hay giáo lư mà giới tăng lữ thường
kêu gọi tín đồ tuân phục. Thần quyền luôn liên kết với thế quyền để cùng hưỡng
lợi. Tín đồ càng nhiều, cộng đồng càng lớn th́ vai tṛ của giới tăng lữ mới càng
quan trọng để bảo vệ quyền lợi kinh tế và vật chất cho nhau. Giáo chủ xưa th́
sống trong thanh bần áp bức để làm sáng thiện tâm, nhưng giáo hội nhân danh họ
được dựng lên th́ sống trên xa hoa, dư dật của vật chất và quyền lực. Hóa ra
những lời thuyết giảng chỉ là những xăo ngôn lừa mị. Nhưng tín đồ th́ chẳng mấy
bận tâm với những điều trái khuấy ấy khi quyền lợi kinh tế của họ được bảo đảm
bởi giáo hội.
Riêng PG, với bản chất từ bi, nhẩn nhục, hiếu sinh và
thanh tịnh, giới tăng già th́ nghiên về thóat tục (nhưng chưa hẳn ḥan ṭan đă
thế), xem ra thiếu khả năng tổ chức và lănh đạo khối tín đồ trở thành một lực
lượng kinh tế và chính trị quan trọng trong từng quốc gia (ngọai trừ một vài
nước theo phái Tiểu thừa), chứ đừng nói đến một trung tâm hoằng pháp chỉ đạo
quốc tế. V́ thế PG chỉ thích nghi với những xă hội nông nghiệp ít biến động, chứ
không có đủ sức mạnh để kháng cự khi bị ngọai xâm. Khi bị tấn công đàn áp, th́
tín đồ PG lại hay chọn thái độ dĩ ḥa vi quí, co rút, tự diệt hơn là chống lại
một cách đại hùng đại lực.
Do đó mà ta thấy PG sau nhiều thế kỷ sáng lạng huy
ḥang ở Ấn và vùng tây bắc Ấn đă bị ḥan ṭan tiêu diệt một cách dễ dàng bởi
những tôn giáo mới vốn chỉ dựa vào bạo lực và o ép kinh tế để truyền đạo. Hiện
nay nhiều Phật tử cảm thấy phấn khởi khi chùa chiền đua nhau mọc lên, nhất là ở
hải ngọai, nhưng xét kỷ lại th́ mới thấy rằng gốc rễ PG đă lung lay ngay tại
những xứ thường tự hào là đất Phật như Tây tạng, Trung Hoa và Việt-nam. Những
bài học lịch sử này có gây được sự xét lại đường lối sinh họat và truyền giáo
của giới tăng ni hiện nay hay không? Bởi v́ cứ tiếp tục thái độ thụ động, xa rời
quần chúng tín đồ, thiếu tổ chức, thiếu uyển chuyển thích nghi với thời đại và
thiếu đ̣an kết của giới lănh đạo th́ vai tṛ của PG trong xă hội, vốn là động
lực của dân tộc, e một ngày kia sẽ bị mai một. Hối th́ đă muộn.
Trần Trúc-Lâm
Seattle, Mùa thu 2004.
|