Giới thiệu sách:
Văn vật - ẩm thực đất Thăng Long

 

 

Sách dày 240 trang khổ 13 x 19 cm, chia làm hai phần: “Văn vật” và “Ẩm thực” của nhà văn Lư Khắc Cung. Ở phần Văn vật  có 33 bài, giới thiệu thành cổ Hà Nội, ngôi đ́nh làng, nghệ thuật chạm khắc ở các đ́nh, chùa.  

Tác giả nói cái hay, đẹp của tranh sơn mài, tranh Đông Hồ, đồ vật thường dùng trong mỗi gia đ́nh xưa - từ cái quạt, cái vơng, cái giường nằm đến trang phục của đàn ông, của con gái Hà Nội đầu thế kỷ trước. Đă có nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu viết về cái cổng làng, mỗi người một cách cảm, cách nghĩ. Lư Khắc Cung khắc họa cổng làng Đông, cổng làng Hồ, cổng làng Thọ ở vùng Bưởi quê ông theo cách riêng: “Có những cổng làng được xây dựng thật hoành tráng với ba cổng ṭ ṿ liền nhau. ở những làng có người làm quan to, bên cạnh cổng làng có bia “hạ mă”. Làng có nhiều người đỗ đạt, nhiều quan văn, treo bức hoành để ngợi ca và khuyến học. Có những cổng làng đắp quả bầu trên nóc. Quả bầu này là quả bầu chứa tinh hoa của vũ trụ. Có h́nh hai con cá hóa long chầu hai bên quả bầu. Bức hoành thường đề chữ Tiểu vi đại (cái nhỏ chính là cái lớn) hoặc hàng chữ Trực đạo nhi hành (đi đường thẳng). Ngắm cái cổng làng, có lúc ta thấy nó dịu dàng như t́nh mẹ, lúc đỏ rực lên ráng chiều, lúc đăm chiêu dằn vặt. Có lúc nó lại mơ màng sương khói. Cái cổng làng quan sát những điều thánh thiện và cả những điều ma quỷ trong cộng đồng”. 

Lư Khắc Cung dành nhiều trang để nói về đời sống văn hóa phong phú của con người, đặc biệt là  Trang phục của phụ nữ Hà thành.  Chính những bộ trang phục nền nă đă tạo chuẩn mực cho cái đẹp của con gái thời trước “ngực nở, bụng thon, chân dài, đùi ếch” và cuộc thi “Sắc đẹp Hà thành” năm 1932 tại nhà Đấu Xảo. Ngày ấy người ta không được dùng các từ  hoa khôi, hoa hậu. Lần này, người đẹp số 1 là Nguyễn Thị Tân được b́nh là tố mỹ, nhă mỹ. Người đẹp thứ hai là cô Síu được b́nh là khôi mỹ, tráng mỹ. “Thời nào, lúc nào Hà Nội nói riêng và Việt Nam nói chung cũng có quá nhiều người đẹp và phục trang của ta ngày càng đẹp hẳn lên. Đó là một phần mà người ta không thể không say mê Hà Nội được”. 

Phần ẩm thực, có 18 bài về các chuyện b́nh dị trong cuộc sống thường nhật, từ cái dưa cái cà, tục ăn trầu, đạo uống trà, một bữa yến xưa, bún thang, phở, đến chiếc bánh bèo tiến vua của người làng Thịnh Yên và tiểu sử bà họ Đỗ, tổ sư của nghề bún ốc ở làng Khương Thượng. Ông kể lai lịch món chả cá: “Vào thế kỷ XVIII, đất phố Chả Cá bây giờ c̣n nằm giữa sông Tô Lịch, người ta đi lại bằng đ̣. Hai bên bờ sông là chợ bán cá đủ loại. Ăn cá luộc măi cũng chán, người ta nghĩ đến món cá nướng. Quả là có ngon thật. Dần dà, một số lái buôn đưa món cá nướng vào trong những lều cá ở giữa sông cho kín đáo và tiện mặc cả. Thứ đến các khách văn chương và các cô gái vào loại giai nhân cũng ra các lều nướng cá và ăn trong lều. Chính họ là những người nâng món cá lên đẳng cấp cao hơn: Chả Cá.  

Giờ đây, ai có dịp qua các nhà hàng sang trọng, các khách sạn 3-4 sao thấy có món “Cơm niêu” tưởng là “đặc sản” mới, kỳ thực, vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, dân Hà thành sài sang thường dùng “nước lọ cơm niêu”. Ông viết: “Thực ra gọi nước lọ cơm niêu cho có vẻ thương cảm một chút. Khách trả cho bữa cơm này hết 7 hào trong khi một đĩa cơm rang thập cẩm gọi là cơm Hoa Kỳ ăn no được ở quán ăn Mỹ Kinh hoặc Đông Hương Viên tại Hàng Buồm th́ phải trả có 3 hào”. 

Nhà văn Lư Khắc Cung vốn người làng Yên Thái. Mảnh đất ở phía Tây của Hồ Tây lấp lánh huyền thoại, gợi cảm hứng thi ca và bồi đắp cho ông vốn văn hóa phong phú. Đó chính là cái nền vững chắc giúp ông viết nên những trang văn b́nh dị mà tinh tế. Qua mỗi ḍng, mỗi chữ ở tập sách này, ta đều thấy hiện lên những kiến thức về văn hóa, lịch sử, địa lư. Chuyện ông viết thật quen thuộc, vậy mà ở mỗi bài viết đều có phát hiện bất ngờ và bổ ích, có thể coi là thành công.

 Nguồn Báo Hà nội mới