NGHĨA ĐEN VÀ NGHĨA BÓNG CỦA TỪ CHỈ SỐ

Đào Thản

 

Số từ có chức năng chính là biểu thị số lượng. Khi dùng để biểu thị số lượng đơn thuần, nó chỉ có giá trị như những con số. Những con số th́ thường dễ gây ấn tượng khô khan, lạnh lùng, thế nhưng lại không phải không có khả năng làm nảy sinh những giá trị thẩm mỹ khác.

Có thể có những con số làm nức ḷng người. Chẳng hạn là những kỷ lục về năng suất, về kết quả mùa màng bội thu (kiện tướng ngh́n cân, phong trào năm tấn, mười tấn v..v...). Cũng có những con số gây cho ta nỗi đau đớn, ḷng căm thù… Tuy nhiên cái tác động đến con người ở đây chủ yếu là các sự kiện thực tế được biểu thị bằng những con số chứ chưa phải là giá trị bản thân của chúng.

Số từ bắt đầu chứng tỏ tác dụng gợi cảm của ḿnh khi nó xuất hiện trong câu, trong lời, ít nhiều với tư cách là trọng tâm ngữ nghĩa của điều thông báo:

Ờ đă chín năm rồi đấy nhỉ

Kháng chiến ba ngàn ngày không nghỉ…

(Tố Hữu)

“Ba ngàn ngày” th́ cũng là thời gian chín năm, nhưng lại được coi như là một phát hiện mới, nhờ nó tác giả nhấn mạnh được một cách rất có hiệu quả điều ḿnh muốn nói. Dường như với “ba ngàn ngày”, chúng ta mới thấm hết ư nghĩa cũng như tầm vóc thời gian của sự nghiệp trường kỳ!

Một thí dụ khác tương tự, một trong những câu ca dao đầu tiên của cuộc kháng chiến:

Một đồng là một trăm xu,

Tiễn chàng lên chốn chiến khu ngàn trùng.

Chị vợ nghèo tiễn anh chồng vệ quốc quân lên chiến khu, về vật chất vẻn vẹn chỉ có chút tiền càm tay ít ỏi ngần ấy. Nhưng với chị, đây là tất cả tấm ḷng, tất cả nghĩa t́nh sâu nặng. Chỉ là một đồng thôi, nhưng giá trị của nó lại có thể so sánh với cả trăm cả ngh́n. “Một đồng là một trăm…”, phải rồi, số một phải được nhân lên thành số trăm cho xứng với nơi khó khăn ngàn trùng mà người chồng đang trên đường đi tới.

Số từ như vậy là đă có tham dự vào các yếu tố biểu cảm. Tuy nhiên những con số này c̣n gắn liền với sự kiện, vẫn chưa thấy có sự khác biệt về chẩt với những con số làm nức ḷng người ở trên. Hơn nữa, chúng vẫn là những con số “thật thà”, nghĩa là vẫn c̣n biểu thị một số lượng thực. Một đồng bằng một trăm xu, một tá bằng mười hai, một chục bằng mười đơn vị; con số biểu cảm đâu có thật thà, chính xác đến như vậy. Cũng gọi là một chục , nhưng chục trái cây từ tay người bán đến tay người dùng lại không chỉ mười quả, mà là mười hai, mười ba, thậm chí có khi tới những mười lăm quả. Đó mới là con số đặc biệt, con số của ḷng thơm thảo, nhân hậu vốn đă thành một thứ thuần phong mỹ tục của xứ sở này. Đó cũng chính là chiều sâu văn hoá, văn minh trong nội dung biểu cảm của những con số.

Cho nên, phải ở những số từ hoàn toàn chỉ được dùng và hiểu với nghĩa bóng th́ giá trị đặc biệt của chúng mới được bộc lộ một cách đầy đủ.

“Trăm người như một”. “trăm hoa đua sắc”, “trăm ư một ḷng”, “trăm mắt trăm tay”, “trăm dâu đổ đầu tằm”, “một trăm chỗ lệch”, “vất vả trăm đường”, “trăm nỗi lo toan”…trăm đây không nhất thiết phải là một con số tăm cụ thể và chính xác. Đây chỉ là số từ biểu trưng cho số nhiều theo sự đánh giá và cách nói có tính chất phóng đại. Và rồi như sợ rằng con số trăm hăy c̣n quá gần với con số thực, có thể bị hiểu lầm là số thực, người ta bèn tiến xa thêm một bước trên con đường ngoa dụ, để dung nạp thêm đến cả từ ngh́n, vạn, muôn, triệu, trong những trường hợp khác, cũng vói ư nghĩa và cách nói tương tự. “Một ngh́n lần không”, “qua vạn nẻo đường”, “t́nh yêu muôn thuở”, “muôn đời không quên”, “góp triệu bàn tay” v..v…Tất cả là những con số ngoa dụ, con số biểu trưng, chỉ có nghĩa là số nhiều với giá trị biểu cảm tuyệt đối.

Một điều đáng lưu ư về mặt phong cách là do có giá trị biểu cảm tuyệt đối ấy, cho nên những cách dùng số từ như vậy, ta thường bắt gặp nhiều hơn cả trong h́nh thức ngôn ngữ thơ:

“Trăm năm bia đá th́ ṃn

Ngàn năm bia miệng vẫn c̣n trơ trơ”

(Ca dao)

“Dùng dằng khi bước chân ra

Cực trăm ngh́n nỗi, dặn ba bốn lần”

(Nguyễn Du)

Cả hai câu thơ đều dùng biện pháp đối sánh một cách có dụng ư các cặp số từ biểu thị giá trị thực với số từ có giá trị biểu cảm tuyệt đối. Nhờ vậy, ở câu ca dao chúng ta có cái đối lập sắc sảo giữa bia đá với bia miệng, c̣n ở câu thơ của Nguyễn Du, nỗi cực thân của nàng Kiều phài bán ḿnh đi khi kể lại với chàng Kim đă được tô đậm thêm cái khía cạnh đấu tranh nội tâm day dứt.

 

Trong dăy số đếm thông thường có quan hệ trực tiếp tới cuộc sống hàng ngày của con người, th́ các số trăm, ngh́n, vạn…cũng đă là những con số đủ lớn. Cho nên khi chúng được dùng để biểu trưng cho số nhiều với giá trị khái quát và biểu cảm như trên, không có ǵ là khó hiểu. Điều đáng ngạc nhiên hơn là c̣n có những con số khác, cũng được dùng với chức năng và giá trị tương đương, nhưng lại là con số rất bé. Số tám chẳng hạn, tuy không thật phổ biến, nhưng cũng để lại cho chúng ta một thí dụ khá tiêu biểu về  cách nói hài hước dân gian, mang tính chất khẩu ngữ thông tục: “xong từ tám đời”. “tám tổng ăn cũng không hết”. “lỗ mũi em tám gánh lông” (Ca dao). Đặc biệt với số chín, chúng ta có cả một loạt dẫn chứng phong phú trong tài liệu tục ngữ ca dao vào loại xưa nhất:

-         Ba ḅ chín trâu,

-         Chín đụn mười trâu,

-         Ba ch́m bảy nổi chín lênh đênh,

-         Một nghề th́ kín, chín nghề th́ hở

-         Một sự nhịn là chín sự lành…

Thực ra, nếu chỉ dùng quan hệ so sánh với một th́ các số ba, năm, bảy cũng có lúc biểu thị được số nhiều như vậy, chứ không riêng ǵ số chín:

Một cây làm chẳng nên non

Ba cây chụm lại nên ḥn núi cao

(Ca dao)

Ba đầu sáu tay, ba ch́m bảy nổi, ba chốn bốn nơi, năm lần bảy lượt v..v… Điều đáng chú ư là số chín c̣n được dùng như là tự nó có một giá trị độc lập, không cần phải so sánh với những số ít hơn:

-         Họ chín đời c̣n hơn người dưng

-         Ba gian nhà rộng loà xoà,

Phải duyên th́ tựa chín toà gỗ lim.

-         Khi không th́ chẳng ai nh́n

Đến khi đỗ trạng, chín ngh́n chị em.

-         Chiều chiều ra đứng cửa sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều.

-         Nhất cao là chín từng mây…

Quả nhiên số chín đă từng mang ư nghĩa là số nhiều tuyệt đối, giống như số trăm, số ngh́n trong cách nói ngày nay. Và mặt dù chưa thể rút ra được một kết luận ǵ sâu hơn về vai tṛ của số chín trong hệ thống số đếm của người xưa cũng như trong phong tục tập quán và cả trong tôn giáo tín ngưỡng nữa- bí ẩn của số chín c̣n cần được khám phá- chúng ta vẫn có quyền nghĩ rằng sự kiện lư thú này không thể không gắn với một nét thuộc về văn hoá-lịch sử, trong truyền thống quá khứ của dân tộc hoặc của một vài dân tộc có quan hệ tiếp xúc gần gũi nhau. Nobert Viner, trong cuốn sách của ḿnh, có nói đến cái đẹp, cái “thẩm mỹ toán học” của những con số. Theo nhà toán học người Mỹ này tj̣ những con số có thể là “giá trị văn hoá thẩm mỹ”, chúng có liên quan đến những khái niệm ví như sắc đẹp, sức mạnh và nguồn cảm hứng, bởi v́ bản thân chúng đă giúp vào việc h́nh thành một khái niệm mới và toàn diện hơn về thế giới.

Chúng ta không nói đến những con số toán học, chúng ta chỉ muốn biết đến đôi điều bí ẩn của số từ trong cách dùng đặc biệt của nó. Những số từ và những con số toán học. lẽ nào lại không có chút liên quan ǵ với nhau trong những giá trị văn hoá và thẩm mỹ.

Đào Thản

 

Bài này được trích trong cuốn tiểu luận về ngôn ngữ,  “Một sợi rơm vàng”, của Đào Thản, Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002.