|
Viết văn
và trị liệu
Nguyễn
Văn Tuấn
Đă từ lâu tôi vẫn nghĩ rằng một trong những đề
tài phong phú cho văn học là nỗi đau khổ của con người, nhưng lại là đề tài ít
được giới cầm bút khai thác. Nói “đau khổ” ở đây, tôi không có ư đề cập đến
những nỗi đau trừu tượng, triết lí, kiểu như “thân phận lạc loài”, cô đơn, hoài
niệm, bâng khuâng, v.v... mà là sự đau khổ của thân xác do bệnh tật gây nên. Đó
là những nỗi đau gần gụi nhất với một cá nhân, là cái mà cá nhân con người có
thể cảm được, kinh nghiệm qua được. Ấy thế mà kiểm lại số lượng tác phẩm và tác
giả viết về đề tài này trong nền văn học Việt Nam, chúng ta thấy sự có mặt của
thể loại văn học này cực kỳ khiêm tốn. Ngoài trừ trường hợp của Hàn Mặc Tử (hay
ở một khía cạnh nào đó, Nguyễn Đ́nh Chiểu), hầu như không mấy ai phơi bày và gửi
gấm nỗi đau khổ của thân xác và bệnh tật trên trang giấy.
Gần đây có ư kiến cho rằng so với các dân tộc
Tây phương, người Việt không có thói quen viết hồi kí, và điều này có thể là một
yếu tố đưa đến t́nh trạng nghèo nàn của nền văn học Việt Nam. Dùng cách nói này,
có lẽ chúng ta cũng có lí do để cho rằng sự có mặt khiêm tốn của “văn học đau
khổ” có thể là một trong những yếu tố làm cho văn học Việt Nam thiếu tính phong
phú.
Trong cuốn Illness narrative (Arthur Kleinman,
Illness narrative: suffering, healing and the human condition, New York: Basic
Books, 1988), tác giả Arthur Kleinman, nhận xét rằng trong khoa học lâm sàng và
hành vi không có một phạm trù nào để mô tả sự đau đớn, và cũng không có một
phương cách nào để ghi chép cái khía cạnh rất nhân tính này của bệnh nhân và gia
đ́nh bệnh nhân. Những thước đo dùng để đánh giá chất lượng cuộc sống, triệu
chứng, hay mức độ bệnh tật đều thất bại một cách thê thảm, bởi v́ những chỉ số
lâm sàng này không bao giờ phản ánh được những sự chịu đựng mang tính chất rất
riêng tư và rất nội tâm của người bị bệnh. Làm giảm áp suất máu 5 hay 10 mmHg
có thể xem là một thành công lâm sàng, nhưng có chắc bệnh nhân cũng có cảm nhận
đó hay không? Kéo dài cuộc sống của một bệnh nhân được 6 tháng đang trong t́nh
trạng cuối cùng của căn bệnh có thể là một chiến thắng của y học, nhưng chưa hẳn
là chiến thắng của người bị bệnh v́ 6 tháng đó có thể là 6 tháng sống trong đau
đớn cùng cực.
Trong số báo ra ngày 14 tháng Tư năm 1999, Tập
san Hiệp hội Y khoa Mỹ (Journal of the American Medical Association) công bố kết
quả thử nghiệm về tác dụng của viết văn đến các triệu chứng liên quan đến bệnh
suyễn và viêm khớp xương [1]. Trong cuộc nghiên cứu hi hữu này, các nhà nghiên
cứu yêu cầu bệnh nhân viết văn khoảng 20 phút mỗi ngày, trong ba ngày liên tiếp
mỗi tuần. Các bệnh nhân được chia thành hai nhóm: trong nhóm một, đề tài viết
là những kinh nghiệm của bệnh nhân trong việc đấu tranh chống trả với bệnh tật,
hay những câu chuyện mà bệnh nhân cho là căng thẳng trong cuộc sống của họ;
trong nhóm hai, các nhà nghiên cứu chỉ yêu cầu bệnh nhân viết ra những kế hoạch
làm việc trong ngày. Sau 4 tháng thử nghiệm, t́nh trạng sức khỏe của bệnh nhân
thuộc nhóm một trở nên tốt hơn một cách đáng kể, trong khi sức khỏe của các bệnh
nhân nhóm hai không thay đổi [1]. Tác giả của công tŕnh nghiên cứu này cho
rằng đây là một bằng chứng khoa học đầu tiên cho thấy viết văn có tác dụng tích
cực đến sức khỏe. Kết quả này gây cảm hứng cho một nhà nghiên cứu khác viết một
bài xă luận trên tập san y học danh tiếng này [2].
Thực ra, kết quả của cuộc thử nghiệm trên đây
không phải là bằng chứng đầu tiên về lợi ích của viết văn đối với sức khỏe bệnh
nhân. Trước đó, một số nhà nghiên cứu trên thế giới đă từng tiến hành một loạt
thử nghiệm về ảnh hưởng của viết văn đến sức khỏe, và kết quả có thể tóm lược
như sau: viết văn đem lại lợi ích cho nhiều thành phần xă hội, thuộc mọi sắc dân,
với bất cứ tŕnh độ học vấn nào, mà không chỉ trong những người có năng khiếu về
văn chương. Ảnh hưởng tích cực của viết văn đến sức khỏe và thái độ ứng xử được
ghi nhận trong các tù nhân, sinh viên y khoa, nạn nhân của những vụ bạo hành
trong gia đ́nh, bệnh nhân bị bệnh viêm khớp xương và các bệnh kinh niên, đàn ông
bị mất việc làm, và đàn bà mới sinh nở. Những ảnh hưởng này thường được biểu
hiện qua các thông số về hệ thống miễn nhiễm, giảm đau, giảm số lần đi tham vấn
bác sĩ gia đ́nh, và chất lượng cuộc sống. Những sinh viên tham dự vào các cuộc
thử nghiệm như thế cho biết họ cảm thấy viết văn có giá trị lớn đối với cuộc
sống của họ. Một số sinh viên, ngày thường tỏ ra rất vô t́nh, lộn xộn, nhưng
khi viết về những kinh nghiệm đau buồn trong đời, họ lại viết rất khúc chiết,
mạch lạc và ít lỗi văn phạm!
Mặc dù so với lĩnh vực nghiên cứu sinh học và
lâm sàng, các nghiên cứu về mối liên hệ giữa viết văn và sức khỏe vẫn c̣n khiêm
tốn. Tuy nhiên, bằng chứng trong ṿng một thập niên qua cho thấy một cách nhất
quán là việc thuật lại những câu chuyện mang tính cách cá nhân hay đau buồn bằng
viết văn hay bằng lời nói có ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất con người. Nhưng
câu hỏi được đặt ra ngay là “tại sao?” Tại sao viết văn có thể đem lại lợi ích
cho sức khỏe? Để giải thích mối liên hệ này, giới nghiên cứu y khoa có thể đề
nghị một số mô h́nh sinh lí liên quan đến mối tương ác giữa tinh thần và thể xác
con người, một mối quan hệ mà giới y khoa chính thống đă bỏ quên trong nhiều
thập niên. Tuy nhiên, thay v́ giải thích bằng mô h́nh sinh lí học, tôi muốn đề
nghị một mô h́nh khác liên quan đến chữ nghĩa và triệu chứng của căn bệnh, đến
cái có thể thấy được và cái không thể thấy được, một mối quan hệ dựa vào y học
và ngôn ngữ diễn đạt, huyền thoại, và thể văn tường thuật trong việc trị liệu.
Ngôn ngữ và xúc cảm
Một giải thích có thể đề nghị ra
ngay là qua diễn đạt lại những xúc cảm người ta trở nên có ư thức về sức khỏe
hơn và từ đó thay đổi thái độ với thái độ và cách sống hàng ngày. Tuy nhiên,
chưa có bằng chứng khoa học nào phù hợp với giả thiết này. Thực ra, một vài
nghiên cứu cho thấy sau khi viết lại những câu chuyện đau buồn trong đời người
ta vẫn không thay đổi cách sống một cách đáng kể. Người hút thuốc vẫn hút thuốc,
người nghiện rượu vẫn tiếp tục dùng rượu.
Một giả thiết thứ hai là viết văn tự
nó là một việc làm tự ḿnh phát biểu. Giới tâm lí học vẫn tin rằng những biểu
hiện bằng vũ điệu, nhạc, và mỹ thuật có giá trị trị liệu. Tương tự người ta có
thể cho rằng quá tŕnh viết văn là một hành động tự biểu hiện của một cá nhân.
Thực vậy, trong một nghiên cứu, mà trong đó các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng sự
phục hồi tinh thần trong những người diễn tả lại những câu chuyện đau buồn bằng
cách viết văn cao hơn sự phục hồi tinh thần trong những người diễn tả lại những
câu chuyện đau buồn bằng tay chân. Do đó, chỉ đơn thuần mô tả một kinh nghiệm
bằng cơ thể không có hiệu quả cho sức khỏe bằng cách mô tả những kinh nghiệm đó
thành chữ viết.
Giả thiết thứ ba về mối quan hệ giữa
viết văn và sức khỏe cho rằng viết văn là một quá tŕnh biến đổi những xúc cảm
và h́nh ảnh vào ngôn từ, và chính cái quá tŕnh chuyển hóa này làm thay đổi suy
nghĩ và nhận thức của người viết về những kinh nghiệm đó. Ở đây cần phải nói
thêm là một phần của những nỗi đau khổ của một cá nhân không hẳn do một sự kiện
nào đó gây nên, mà c̣n do chính phản ứng cảm tính của cá nhân đó trước sự kiện.
Qua việc sắp xếp các ư nghĩ và cảm tưởng, người ta có thể xây dựng hay tái xây
dựng câu chuyện một cách có hệ thống. Một khi câu chuyện đă được h́nh thành, nó
được tổng kết, dự trữ, và dễ quên sau đó.
Kể chuyện và đi t́m ư nghĩa
Theo giới nghiên cứu tâm lí học, con
người – và có thể nói là phần lớn các sinh vật khác – luôn muốn t́m hiểu những
sự kiện và hiện tượng chung quanh. Nếu một người cảm thấy đau hay nghe một
tiếng động lạ, người đó lập tức t́m cách hiểu nguyên nhân của những sự kiện này.
Một khi người ta hiểu được tại sao và thế nào những sự kiện đó xảy ra, người ta
sẽ sẵn sàng đối phó với chúng nếu chúng xảy ra một lần nữa. Do đó, chúng ta bị
thúc đẩy đi t́m hiểu những sự kiện có hậu quả mạnh mẽ, dù tiêu cực hay tích cực,
hơn là đi t́m hiểu những sự kiện có thể tiên đoán được và không có ảnh hưởng ǵ
lớn đến chúng ta.
Trong một ngày b́nh thường, chúng ta
không ngớt kiểm tra và phân tích thế giới chung quanh. Người lái xe phía sau ta
bấm c̣i trong khi ta đang đậu xe ở đèn đỏ. Câu hỏi mà chúng ta hỏi ngay là “Anh
ta nhắm vào ḿnh?” “Đèn đang bật sang màu xanh?” “Ḿnh từng gặp anh này ở đâu?”
Một khi chúng ta đă hiểu được nghĩa của tiếng c̣i, chúng ta sẽ có một cách ứng
xử (lái xe qua ngả tư đường, dơ tay chào nếu là người quen) hay trở lại với cái
thế giới riêng tư của chúng ta nếu tiếng c̣i không nhắm vào chúng ta. Một khi
t́nh tiết của sự kiện này chấm dứt, chúng ta bỏ nó ngoài tâm trí.
Dù việc đi t́m ư nghĩa của tiếng kèn
diễn ra trong một thời gian rất ngắn và tất yếu, những sự kiện lớn trong đời
thường khó lĩnh hội hơn. Nếu người yêu của chúng ta chia tay với chúng ta, một
người bạn thân qua đời, hay chúng ta bị thất bại trên trường đời, chúng ta
thường cố gắng nghiền ngẫm, hâm nóng sự kiện trong tâm trí, cố gắng hiểu nguyên
nhân, hậu quả của sự kiện. Vấn đề trở nên phức tạp hơn v́ những sự kiện lớn
trong đời thường bao gồm nhiều sự việc và kinh nghiệm. Nếu người yêu của chúng
ta đă ra đi, sự kiện này sẽ ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa chúng ta với người
khác, t́nh trạng tài chính, cách chúng ta nh́n và đánh giá ḿnh, và ngay cả ăn
uống hàng ngày, giấc ngủ, nói chuyện, v.v.. Để hiểu kinh nghiệm này, chúng ta
sẽ có gắng tự hỏi tại sao nó xảy ra, và chúng ta sẽ đối phó như thế nào. Đối
với một sự kiện không giải quyết được, chúng ta sẽ suy nghĩ, mơ, ám ảnh, và nói
về nó ngày này sang ngày khác, năm này sang năm khác.
Nguyên tố nào làm nên ư nghĩa th́
vẫn c̣n là một điều chưa rơ ràng. Các nhà triết học, tâm lí học, nhà thơ, và
nhà văn từng nhận xét rằng một sự kiện riêng lẽ có thể có nhiều ư nghĩa khác
nhau giữa các cá nhân. Sau cái chết của một người bạn thân, có người sẽ t́m ư
nghĩa trong tôn giáo (định mệnh), người khác th́ đi t́m nguyên nhân của cái chết
(hút thuốc kiểu anh ta th́ c̣n ḱ vọng ǵ nữa), người khác có thể t́m hiểu ngụ ư
của sự kiện (nó muốn dạy cho ḿnh một bài học để thay đổi cuộc sống). Những
phân tích đơn giản dựa vào một nguyên nhân đơn thuần có thể có ích trong việc
giải thích một số khía cạnh của cái chết, nhưng sẽ không có ích cho tất cả các
khía cạnh. Chúng có lẽ có một giải thích dễ hiểu tại sao người bạn chết, nhưng
chúng ta vẫn phải đương đầu với một sự thay đổi về mạng lưới bạn bè, những sinh
hoạt hàng ngày, và đối thoại với bạn bè, v.v.. Cái đẹp của việc kể chuyện là nó
cho phép chúng ta thắc buộc tất cả những thay đổi trong cuộc sống hàng ngày vào
một câu chuyện có đầu có đuôi. Tức là cũng một câu chuyện, chúng ta có thể nói
về nguyên nhân của sự kiện, và những ư nghĩa đằng sau của nó. Qua quá tŕnh này,
nhiều khía cạnh của vấn đề có thể khai thác và xây dựng thành một thực thể mạch
lạc và logic.
Nhiều nghiên cứu về ngôn ngữ và đối
thoại cho thấy khi truyền đạt một câu chuyện đến một người khác, người truyền
đạt phải hành động một cách mạch lạc. Tức là người truyền đạt câu chuyện phải
sắp xếp và cấu trúc nội dung, chủ đề, lí giải, và quan tâm đến nhận thức người
đọc hay người nghe.
Một khi một câu chuyện phức tạp được
đưa vào một khuôn khổ, nó được đơn giản hóa. Bộ năo không cần phải khổ công đi
t́m một cấu trúc và ư nghĩa của vào câu chuyện. Khi câu chuyện đă được thuật
lại hết lần này sang lần khác, nó trở nên ngắn hơn với những chi tiết nhỏ dần
dần trở nên thẳng thắn. Thông tin được “gọi về” cho câu chuyện là thông tin
đồng dư với câu chuyện. Nhưng ngược lại những dữ kiện (kinh nghiệm thô sơ) được
dùng làm những nguyên tố dể xây dựng câu chuyện, một khi câu chuyện đă đi vào
tâm trí của một cá nhân, chỉ có những dữ kiện dính dáng đến câu chuyện được “gọi
hồn”. Hơn nữa, theo thời gian, chúng ta có khuynh hướng đắp đầy những khoảng
trống trong câu chuyện để cho nó trở nên mạch lạc hơn và đầy đủ hơn. Cái ảnh
hưởng cuối cùng của một cuộc kể chuyện hay là những hồi tưởng về những sự kiện
cảm tính là sự hiệu quả cao: chúng ta có một câu chuyện ngắn, và đương nhiên là
chủ quan.
Một ví dụ điển h́nh cho lí giải trên
là những cuộc nói chuyện với những người đă trải qua một kỳ li dị. Trong những
tuần đầu tiên sau li dị, người ta thường nói về nhiều khía cạnh của sự đổ vỡ.
Thường thường câu chuyện rất dài, t́nh tiết mâu thuẫn nhau, nhưng rất cảm tính.
Tuy nhiên, sau một thời gian dài, cái giải thích trở nên đơn giản hơn, thậm chí
giản dị hóa, như là “Cái lí do của sự đổ vỡ là v́ anh ta quá tự cao.” Với một
tóm tắt một chiều như thế, người ta bỏ qua những sắc thái, cả tích cực lẫn tiêu
cực, về cuộc hôn nhân.
Một nghịch lí đáng nói là kể chuyện
có thể đem lại lợi ích làm cho những kinh nghiệm phức tạp, rối rắm trở nên đơn
giản hơn, dễ hiểu hơn, nhưng đồng thời, nó cũng bóp méo, xuyên tạc hồi ức của
người kể chuyện về những kinh nghiệm đó. Diễn dịch, chuyển hóa một nỗi buồn rầu
vào trang giấy hay âm thanh, nói cho cùng, là làm cho chúng ta quên đi, hay nói
một cách văn hoa hơn, làm cho chúng ta vượt ra ngoài biên giới của kinh nghiệm
hiện thực.
Trong một nghiên cứu mà trong đó, các nhà tâm lí
học hỏi 200 sinh viên, cứ mỗi tuần một lần, bao nhiêu lần trong ṿng 24 giờ
tru71c họ có suy nghĩ hay nghe ngóng về cuộc chiến tranh ở vùng Vịnh (Gulf
war). Các nhà nghiên cứu cũng hỏi các t́nh nguyện viên về cảm tưởng, phản ứng
của họ (như quan tâm, khó chịu, buồn, giận, v.v.) về diễn biến của cuộc chiến.
Sau hai năm rưởi, các nhà nghiên cứu lại liên lạc với các t́nh nguyện viên trên
dể hỏi họ thêm về cuộc chiến, và khám phá rằng những sinh viên trước đây từng
nói nhiều về cuộc chiến ngày nay không c̣n nhớ ǵ nữa. Có thể giải thích hiện
tượng này như sau: khi chúng ta đă từng có hồi ức về một sự kiện nào đó, và một
khi sự kiệ đó đă chấm dứt, chúng ta không cần phải nhớ lại, bởi v́ chúng ta
không c̣n lí do để nhắc lại hay để sống lại những kinh nghiệm đó. Như vậy, một
câu chuyện, tự nó, có thể giải thoát một quá khứ xa.
Ư nghĩa xă hội
Thuật một câu chuyện c̣n có hàm ư
rằng sẽ có người khác theo dơi (bằng cách đọc hay lắng nghe câu chuyện). Tuy
nhiên, phần lớn nghiên cứu tâm lí học trong thời gian qua thường không để ư để
khía cạnh xă hội của việc kể chuyện. Đây cũng là một thiếu sót v́ các nghiên
cứu đó thường cho thấy những kinh nghiệm đau buồn trong đời thường làm cho chúng
ta bị cô lập với thế giới bên ngoài, bởi v́ chúng ta thiếu can đảm (hay không có
khả năng) tṛ chuyện với người khác. Theo đó, một câu hỏi được đặt ra là có
phải là khi kể lại câu chuyện qua phương tiện văn chương có thể chấp nối một mối
quan hệ giữa người kể chuyện và xă hội? Một học sinh viết về những nỗi lo lắng
trong lớp học có làm cho em đó dễ làm quen với các học sinh khác hay không? Đây
là những câu hỏi mà các nhà tâm lí xă hội đang theo đuổi.
Một vài nghiên cứu mới đây cho thấy
việc dấu kín một bí mật có thể gây nên một lằn ranh tâm lí giữa người giữ bí mật
và bạn bè của người đó. Nếu chúng ta không thể nói với bạn bè về một sự kiện
làm xáo động cuộc đời chúng ta, bạn bè xung quanh sẽ không giải thích hay hiểu
được hành động và cảm tính của chúng ta. V́ lẽ ấy, chúng ta sẽ tự thiêu đốt ṃn
mỏi vấn đề, và chúng ta sẽ không thể nào trở nên một người có khả năng lắng nghe
bạn bè trong những lúc cần thiết.
Trong một thế giới lí tưởng, hoán
chuyển những kinh nghiệm phức tạp, đau buồn vào một câu chuyện là một việc làm
chia sẻ cùng xă hội. Quá tŕnh này giúp cho chúng ta hiểu những sự kiện, và
đồng thời, cảnh giác bạn bè về t́nh trạng tâm lí và cảm xúc của chúng ta. Kể
chuyện, do đó, giúp chúng ta duy tŕ một đời sống xă hội và tâm lí ổn định.
Trong một thế giới không mấy ǵ lí tưởng, chúng ta thường giữ kín những kinh
nghiệm đau buồn trong chúng ta. Một việc làm như thế là một gánh nặng tâm sinh
lí, có thể làm tắc nghẽn con kênh nhận thức để giải ḥa với niềm bí mật, và tạo
nên một lằn ranh giữa chúng ta và bè bạn. Chuyển hóa những kinh nghiệm đau đớn
vào ngôn từ trong khuôn khổ một câu chuyện có thể hoàn tất những điều mà tổ tiên
chúng ta từng hoàn tất: cải thiện tâm sinh lí và phát triển mối quan hệ xă hội.
Các nền văn minh cổ nhận thức được
giá trị đằng sau những câu chuyện. Chúng là những mối liên lạc giữa quá khứ,
hiện tại, và tương lai. Nhà nhân chủng học, Joan Halifax, từng nghiên cứu nhiều
bộ lạc ở Mỹ châu, và khám phá rằng những câu chuyện thần thoại được lưu truyền
trong các bộ lạc này là những tế bào liên lạc giữa văn hóa và thiên nhiên, giữa
cá nhân và xă hội, giữa sự sống và sự chết, khâu giá nhiều thế giới lại với nhau
trong việc kể chuyện [3].
T́nh trạng lành lặn (hay lành mạnh)
bao gồm cả hai lĩnh vực cơ thể mạnh khỏe và năng nổ, tượng trưng cho một qui
tŕnh xă hội tạo cơ hội cho bệnh nhân t́m thấy ư nghĩa về những kinh nghiệm đau
buồn, và để ḥa nhập những kinh nghiệm này vào câu chuyện của cuộc sống. Bệnh
nhân, do đó, có khả năng vượt qua những khó khăn trong quá khứ và hiện tại qua
việc rèn luyện, sáng tạo trong ngôn ngữ, giúp cho họ tạo ra một môi trường linh
hoạt, ít liên hệ đến quá khứ, hiện tại, và tương lai. Do đó, được chữa trị, nói
theo ngôn từ của Richard Selzer, là “được cứu thoát khỏi bóng tối và ghi chép
lại một lần nữa cuộc sống sáng chói.”
Viết văn là một trong những hành
động phong phú nhất và mạnh mẽ nhất của con người. Trong khi viết, người viết
tạo và tái tạo quá khứ trong khoảnh khắc hiện tại. Nó là phương tiện cho người
viết đi đến bóng tối và kéo ra những cái không thể thấy được vào trang giấy, nơi
mà những điều này có thể đem ra thảo luận và duyệt xét lại. Trang giấy cung cấp
cho người viết chất liệu để phân tích cái bản ngă của chính ḿnh. Khi viết văn
ra những kinh nghiệm của ḿnh, người viết tự do lựa chọn kinh nghiệm quá khứ,
hiện tại, và tương lai. Viết văn là một cuộc đối thoại với các sự kiện khả dĩ
này, và mỗi sự kiện đem đến một giá trị riêng, tri thức, và tiềm năng riêng trên
bàn giấy.
Viết về những kinh nghiệm đau buồn
mang lại những h́nh ảnh đau thương trong quá khứ vào giây phút hiện tại, song
người viết được ngăn cách bằng một tấm vách rất thực tế: họ có thể ngưng viết
bất cứ lúc nào, và sau đó quay trở lại viết tiếp, nếu cần. V́ thế, người viết
được che chở bằng một khoảng cách giữa sự kiện và khả năng xem xét lại sự kiện.
Những ǵ đă viết rồi có thể viết lại, và có thể viết lại nhiều lần. Bởi v́ “cái
tôi” của người viết được cấu tạo bằng và qua ngôn ngữ, có cội nguồn từ những câu
chữ văn hoa, người viết trở thành, qua trang giấy, những nhân vật hoàn toàn khác
nhau. Sự chuyển hóa này làm cho viết văn có lợi ích trong việc trị liệu.
Chú thích
1. J. M. Smyth và đồng nghiệp. “Effects of
writing about stressful experiences on symptom reduction in patients with asthma
or rheumatoid arthritis: a randomized trial.” Journal of the American Medical
Association 1999; số 281: trang 1304-1309.
2. Bài xă luận của David Spiegel, “Healing
words, emotional expression and disease outcome.” Journal of the American
Medical Association 1999; số 281: trang 1328-1329.
3. Ref: Joan Halifax, The fruitful darkness:
reconnecting with the body of the earth, San Francisco: Harper San Francisco,
1993, p. 104.
|
|