|
Nh́n h́nh Iraq để nhớ
đến Việt Nam
Nguyễn Văn
Nh́n những h́nh ảnh
các cai tù Mĩ tra tấn những nghi can người Iraq bị giam giữ trong nhà tù Abu
Ghraib, chúng ta không thể nào quên được những h́nh ảnh kinh hoàng khác từng xảy
ra tại tại Mỹ Lai ở nước ta. Nhưng Mỹ Lai không phải là một sản phẩm duy nhất
của sự tàn bạo của quân đội Mĩ. Mới đây, chúng ta c̣n được biết trước vụ Mỹ
Lai, tờ Blade (bang Ohio, Mĩ) tiết lộ rằng từ
tháng 5 đến tháng
11-1967, lực lượng mănh hổ (Tiger Force) thảm sát hàng trăm thường dân vô tội
tại Quảng Ngăi và Quảng Nam.
Trong vụ sát hại đầu
tiên, những cựu binh được phỏng vấn kể lại: ngày 8-5, lính Mĩ phát hiện được hai
người t́nh nghi là “Việt cộng” dọc sông Trà Câu và bắt giữ một người. Trong hai
ngày tiếp theo đó, người này bị đánh đập và hành hạ dă man. Có lúc những kẻ thẩm
vấn bàn đến việc cột chất nổ vào người tù binh và cho nổ. Một cựu binh tên
William Carpenter nói đă cố gắng giữ cho người tù binh này sống sót nhưng vô
phương. Người tù binh này được ra lệnh chạy khỏi khu trại và bị nhiều tay súng
bắn từ phía sau.
Những vụ bạo hành, cắt
cổ, chặt đầu và đánh đập cho đến chết với những tù binh bị bắt trong các trận
càn từ đó đă trở thành “luật bất thành văn”, theo lời cựu trung sĩ Forrest
Miller. Tháng 6-1967, một nhà sư bị bắn chết v́ đến trại than phiền về cách cư
xử của binh lính với dân làng. Những kẻ giết người đặt một quả đạn pháo lên
người nhà sư này để tạo chứng cứ giả rằng đây là một “lính Việt cộng”. Trong
cuộc điều tra của quân đội Mĩ, 27 lính Tiger Force thú nhận từng cắt tai các nạn
nhân để đe dọa dân làng các vùng lân cận.
Vào khoảng cuối tháng
7-1967, sau khi bốn lính Tiger Force bị bắn trọng thương, lực lượng này tỏa đi
khắp vùng thung lũng để trả thù. Sông Vệ trở thành vùng “tùy nghi bắn hạ”.
Lính Tiger Force bắn giết tràn lan, từ đàn ông đến phụ nữ và cả trẻ em ở các
làng trong vùng. Chỉ huy Tiger Force tuyên bố: “Không bao giờ được nói cho ai
biết điều ǵ đang xảy ra ở đây” và đe dọa trừng phạt những ai không tuân lệnh.
Ba mươi ba năm trước
đây, ngày 22 tháng Tư năm 1971, cựu Trung úy hải quân John Kerry, người từng
phục vụ trong cuộc chiến Việt Nam 6 tháng (1968-69) và nay là ứng cử viên tổng
thống Mĩ, phát biểu trước một ủy ban thượng nghị viện Mĩ như sau (trích dẫn một
vài đoạn trong bài diễn văn khai mạc của John Kerry):
“Vài tháng trước đây, tại Detriot, chúng tôi có một cuộc điều tra, mà trong đó
hơn 150 cựu quân nhân đứng ra chứng thực về các hành vi tội phạm chiến tranh ở
Đông Nam Á. Những người này đă được giải ngũ trong danh dự, một số là những
người đă từng được tưởng thưởng huân chương trong cuộc chiến Việt Nam. Đây
không phải là những trường hợp tội phạm cá biệt, mà là những tội phạm diễn ra
hàng ngày, những tội phạm mà tất cả các cấp sĩ quan đều biết đến. Sống lại kinh
nghiệm của họ là sống lại những ǵ quá khủng khiếp, quá ghê tởm đến độ tuyệt đối
mà quốc gia này đă làm cho họ phạm phải những tội phạm như thế.
Họ
thuật lại những câu chuyện mà trong đó chính họ từng hăm hiếp phụ nữ, cắt tai,
chặt đầu, chặt tay, cắt chân, giựt điện bằng cách cho dây điện vào bộ phận sinh
dục, phanh thây, bắn thường dân một cách ngẫu nhiên, san bằng các làng xă, bắn
chó, heo, gà … làm thú tiêu khiển, đầu độc vào thực phẩm và gia cầm, và tàn phá
đồng quê với bom đạn do chính xứ sở này [Mĩ] sản xuất.
Chúng tôi đặt tên cho cuộc điều tra là “Cuộc điều tra Lính Mùa Đông” (Winter
Soldier Investigation). Tên gọi đó là một cách chơi chữ của Thomas Paine, người
vào năm 1776 [trong Cuộc chiến v́ Độc lập) từng nói về những người yêu nước hớn
hở (sunshine patriots) và những người lính mùa hè (summertime soldiers), những
người đào ngũ tại Thung lũng Forge v́ t́nh h́nh chiến sự quá đen tối. Chúng tôi
đến đây, Washington, bởi v́ chúng tôi cảm thấy bây giờ chúng tôi phải là những
người lính mùa Đông. Quốc gia này chưa biết điều đó, nhưng quốc gia này đă tạo
ra một con quái vật. Hàng triệu thanh niên, đàn ông là hiện thân của con quái
vật đó, từng được dạy để đối phó bằng bạo lực. Họ là những người được cho cơ
hội để chết cho một cái hư không vĩ đại nhất trong lịch sử. Những thanh niên và
đàn ông hồi hương với một sự căm giận, và cảm thấy ḿnh bị phản bội mà chưa ai
hiểu nổi...
Qua kinh nghiệm của chúng tôi, chẳng có cái ǵ ở miền nam Việt Nam có thể thực
tiễn gọi là đe dọa đến nước Mĩ. Để cố gắng biện minh cho sự hi sinh mạng sống
của một người Mĩ bằng cách cho rằng mục đích của chúng ta là bảo tồn nền tự do,
theo chúng tôi, là đỉnh cao của một loại đạo đức giả mang tính tội phạm, một
loại đạo đức giả mà chúng tôi cảm thấy đă làm cho quốc gia này bị xé ra từng
mảnh. Chúng tôi nhân danh cứu lấy các làng xă bằng cách tiêu diệt các làng xă.
Chúng tôi thấy nước Mĩ đă đánh mất đạo đức của ḿnh. Chúng tôi biết được nghĩa
của cụm từ “free-fire zones” – bắn phá tự do như thế nào. Chúng tôi nh́n thấy
sự giả tạo, xuyên tạc của nước Mĩ bằng những ca ngợi về con số người [Việt] bị
bắn giết. Chúng tôi chiến đấu chống lại những “oriental human beings” – “con
người phương Đông” với vũ khí mà tôi không tin rằng quốc gia này sẽ mơ dùng tới
nếu chúng tôi chiến đấu trong một kịch trường ở Âu châu. Bây giờ, chúng tôi
được cho biết rằng những thanh niên và đàn ông chiến đấu ở đó phải lặng lẽ canh
gác, trong khi mạng sống của người Mĩ đang mất dần để chúng tôi thực hiện cái
chính sách ngạo mạn không thể tin nổi, đó là chính sách Việt Nam hóa người Việt
Nam.
Hàng ngày, để cho quá tŕnh rửa tay của người Mĩ ở Việt Nam dễ dàng hơn, một
người nào đó phải hi sinh mạng sống của anh ta để chúng ta không phải thú nhận
những điều mà cả thế giới đều biết, để chúng ta không thể nói chúng ta đă phạm
phải sai lầm. Một người nào đó phải chết để Tổng thống Nixon, dùng chữ của
chính ông, không phải là một tổng thống đầu tiên bị thua trận.
Chúng tôi kêu gọi người Mĩ hăy suy nghĩ về điều đó. Chúng tôi đến đây để nói về
vấn đề của cuộc chiến này không phải chỉ là một cuộc chiến, mà là tất cả về ḱ
thị chủng tộc, về vũ khí sử dụng, về đạo đức giả, về sự xúc phạm đến Công ước
Geneva, về tội phạm của chúng ta trong các vùng bắn phá tự do hay trong các cuộc
hành quân truy lùng và tiêu diệt, hay dội bom, hay tra tấn tù nhân. Tất cả đều
nằm trong chính sách đă được phê chuẩn. Đó là những ǵ chúng tôi muốn nói.”
Đọc lại những ǵ John
Kerry nói, chúng ta thấy thái độ ḱ thị chủng tộc, thú tính của một số thành
phần trong quân đội Mĩ hiện đang ra ṭa v́ tội tra tấn tù nhân ở Iraq chẳng có
ǵ khác với thời mà cha anh họ từng vi phạm ở Việt Nam. Có khác chăng là cha
anh họ đă thoát khỏi công lí và ung dung hưởng nhàn, c̣n những cai tù ở Iraq th́
không may mắn mấy.
Cái tên Abu Ghraib sẽ măi măi đi vào lịch sử xấu xa của chiến tranh, sẽ tồn tại
bên cạnh địa danh Mỹ Lai của Việt Nam trong ḷng công chúng thế giới.
|