|
Người Về Từ Tây Nguyên Tao Loạn
Nguyên Tường
Đă gần 30 năm sau ngày kết thúc cuộc chiến, thế nhưng những người Việt Nam với
nhau vẫn c̣n có vấn đề với nhau, không chỉ là đối lập chính kiến mà có lẽ là
chuyện giành giật chính nghĩa, giành nhau cái danh nghĩa “b́nh thiên hạ”.
Những người chiến thắng th́ cũng đă một thời “say men” nên đă “cào bằng xoá sạch” hết mọi
thứ gọi là sản phẩm tàn dư của chế độ cũ, những người đứng bên kia chiến tuyến
được đưa vào các trại cải tạo tập trung, gia đ́nh th́ bị vạ lây. Chuyện đó đă
thành dĩ văng chưa th́ chưa biết, nhưng những chuyến trở về của các vị sĩ quan
cao cấp của chính thể VNCH trước 1975, cũng như những chính sách cởi mở, kêu gọi
đóng góp xây dựng đất nước đối với đồng bào Việt Nam ở hải ngoại đă cho thấy một
dấu hiệu cố gắng khép lại quá khứ.
Những vết thương chiến tranh đă liền da. Điều không ai có thể chối căi được
là Việt Nam đă được thống nhất toàn vẹn lănh thổ gần 30 năm. Người dân không c̣n
phải chịu cảnh đầu rơi máu đổ v́ bom đạn và ư thức hệ ngoại lai.
Thế nhưng vẫn c̣n một số người cay cú v́ thua trận luôn t́m cách khơi lại vết
thương đă liền da đó và càng ngày càng lộ rơ đó là những hành động có tính
chất kích động gây rối hơn là thực tâm muốn đóng góp xây dựng đất nước. Họ
muốn chứng tỏ rằng chỉ có họ mới là chính nghĩa, c̣n những ǵ liên hệ với chính
quyền đương nhiệm là phi nghĩa phi nhân. Tóm lại, chỉ có chống và chống, cứ “phe
ta” là theo, cứ “phe chúng nó” là chống, dù chẳng biết chống cái ǵ.
Vài năm trước, từ một tin nhỏ trong nước lọt ra rằng chính quyền Việt Nam đă kư
một hiệp ước lănh thổ với Trung Quốc không có lợi cho Việt Nam, nghĩa là phía
Việt Nam đă nhượng đất cho Trung Quốc. Thiệt hư chẳng biết thế nào, th́ lập tức
có ngay những làn sóng phẫn nộ chỉ trích nhà cầm quyền “dâng đất, nhượng biển”
cho Trung Quốc. Đến nay th́ câu chuyện đă được gần như bạch hoá. Người của cả
“phe ta” và “phe địch” đều đă giải hoặc để nhận rằng gần như chẳng có chuyện bán
đất bán đai ǵ cả. Thế nhưng làn sóng phản đối đó vẫn âm ỉ tiếp diễn.
Tháng rồi, chính phủ Việt Nam đă có tổ chức cho khách đi du lịch đảo Trường Sa,
một khu vực nóng mà Việt Nam đang giữ chủ quyền phần lớn nhưng c̣n nằm trong
ṿng tranh giành của nhiều quốc gia lân bang. Hành động này có thể coi là một sự
khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo này. Các nước đang tranh chấp
cho rằng Việt Nam có hành động khiêu khích. Thành tâm mà nói, chúng tôi chờ đợi
sự lên tiếng mạnh mẽ từ những người Việt Nam hải ngoại đă từng phẫn nộ lên án
chính quyền Việt Nam bán nước, lần này ít ra th́ cũng là một lời ủng hộ Việt Nam
đă khẳng định chủ quyền của ḿnh một cách công khai. Cho đến lúc này vẫn chưa có
một động tịnh ǵ. Sự im lặng này không thể xem như một cách ủng hộ cộng sản. Sự
im lặng này đă được biện minh bằng quả quyết việc đưa người du lịch Trường Sa
chỉ là một cách lấp liếm sự thực là Trường Sa đă được Phạm Văn Đồng kư nhượng
cho Trung Quốc từ trước rồi! Đó là lư luận của Lư Thái Hùng trên lmvntd.org.
Nhưng đến cái quần đảo Hoàng Sa trước 1974 do quân đội VNCH trấn giữ mà Trung
Quốc c̣n đem quân chiếm giữ cho đến bây giờ, huống chi mà Trường Sa nếu đă có
văn bản kư nhượng rồi mà Trung Quốc lẽ nào cam tâm ngồi “nh́n giang sơn ch́m đắm”,
lại c̣n bị Việt Nam trêu ngươi bằng cách tổ chức đi du lịch!? Nhưng không thể lư
luận được, khi hội đoàn CCCB bảo đúng là phải đúng, nói sai là phải sai. Thế
thôi.
Sự kiện một số đồng bào Tây nguyên biểu t́nh năm 2001 đă tạo cơ hội cho các hội
đoàn CCCB “có công tác” tô điểm thành một cuộc nổi dậy của dân tộc thiểu số đ̣i
tự do tôn giáo, đ̣i lại quyền sở hữu đất đai. Câu chuyện đó lại tái diễn lại sau
ba năm và rơ ràng là có quy mô hơn, có tổ chức hơn và bạo động hơn.
Tác giả bài tản mạn này là một kẻ từng có một kinh nghiệm trên 20 năm lăn lộn ở
vùng Tây nguyên, ăn cơm gạo dẻo, uống rượu cần với đồng bào thiểu số, ngủ chung
với trai làng trên những nhà “rông” hay nhà sàn của ít nhất là với ba sắc dân
Ja-rai, Ba-nar rồi sau cùng là 5 năm với người Ê-đê, trước đây gọi là Rha-đê.
Với Kinh nghiệm đó, tôi xin nêu ra đây một vài cảm nghĩ về những điều mà các hội
đoàn “chuyên nghiệp chống cộng” cũng như Hội người Miền núi (Montagnard
Foundation, MF) đang rầm rộ lên tiếng. Đây chỉ là những cảm nghĩ riêng của một
người miền xuôi có kinh nghiệm miền núi chứ không đại diện cho một ai cả.
Câu chuyện tái diễn vào thượng tuần tháng 4/2004. Vào ngày cuối tuần 10/4 hàng
ngh́n người thuộc các sắc tộc Ê-đê, Ja-rai, Ba-nar “xuống đường” đồng loạt tại
một số khu vực thuộc hai tỉnh Gia lai và Darlac của Cao nguyên Trung phần. Cuộc
xuống đường kỳ này dù có quy mô lớn hơn, có tổ chức rơ rệt hơn nhưng cuối cùng
cũng chịu chung số phận của lần trước.
Ngay lập tức các hăng thông tấn lớn trên thế giới trong đó có BBC quen thuộc,
đồng loạt đưa tin vụ biểu t́nh phản kháng của người dân tộc thiểu số, cũng như
lặp lại tuyên cáo báo chí của là tổ chức chính thức nhân danh lănh đạo phong
trào của những người dân tộc thiểu số này là Montagnard Foundation do Ksor Kok
làm thủ lĩnh, loan báo đây là cuộc biểu t́nh bất bạo động của hơn 100.000 đồng
bào thiểu số và bị chính quyền đàn áp một cách dă man với 400 người bị giết chết,
kể cả những nạn nhân bị giết xác vứt xuống sông và hàng trăm người bị mất tích.
Mới nghe qua là đă thấy ngay những nghịch lư v́ lẽ làm ǵ có sông nào ở trong
hai thành phố Darlac và Pleiku. Thứ nữa, những người này luôn tố cáo cộng sản
Việt Nam là bậc thầy của việc che đậy bưng bít tin tức thế mà giờ đây lại giết
người không phi tang mà lại quẳng xác xuống sông cho người ta có bằng chứng kết
tội!
Hợp ca với lời tố cáo đó, một số các hội đoàn hải ngoại cũng nhất loạt lên tiếng
ủng hộ cuộc xuống đường này, và mạnh mẽ lên án nhà cầm quyền Việt Nam đàn áp tự
do tôn giáo, cụ thể là Tin lành Degar. Dự vào bản đồng ca này là những vị được
coi là “lănh đạo” Phật giáo hải ngoại như Sư Thích Chơn Thành, Chủ Tịch Ban
Thường Vụ của cái gọi là Hội Đồng Liên Tôn Việt Nam Tại Hoa Kỳ mà kẻ chỉ huy núp
bóng là Vatican và ông Cao chánh Hựu, thuộc cái gọi là Trưởng Ban Hướng Dẫn
Trung Ương Gia Đ́nh Phật Tử Việt Nam Hải Ngoại kư tên vào Bản lên tiếng của
các tổ chức đấu tranh về việc đồng bào thiểu số bị CSVN đàn áp (đăng trên
Người Việt 14/4/2004). Rồi có những bài viết lên tiếng bênh vực cho vụ xuống
đường này, như bài viết của Việt Hoàng, phổ biến trên Ykien.net rất bài bản,
phân tích giữa biểu t́nh, bạo loạn, nhận định cả tương quan đa chiều để đưa đến
kết luận đó là một vụ biểu t́nh ôn hoà của một sự “tức nước vỡ bờ” của anh em
người Thượng và kêu gọi sự cải tổ của nhà cầm quyền.
Bản chất của vấn đề này như thế nào? Trước hết, thử xem tuyên bố của chính “Quốc
gia” Tin lành Degar.
Theo bản tuyên cáo báo chí ra một ngày trước vụ “xuống đường” này của các anh em
người dân tộc thiểu số Tây nguyên, th́ Montagnard Foundation (MF) tuyên bố sẽ
có một cuộc biểu t́nh bất bạo động của một số rất đông (150000) người. Mục
đích là ǵ? Họ đ̣i quyền tự do tôn giáo. Và kết cục đă được dự báo trước:
“Cuộc đàn áp dă man chống lại người dân tộc Tin lành ở Việt Nam, khẩn cấp kêu
gọi can thiệp ngay lập tức từ các nước dân chủ” (Brutal repression against the
Christian Montagnards in Vietnam Urgent appeal for the immediate intervention of
democracy countries), đă kêu gào từ ngày 9/4!!! Trong báo cáo đặc biệt ngày
13/04/2004 báo cáo này ghi nhận có trên 100 000 người dân tộc Degar (xin
nhắc lại chỉ có dân làng Degar, Degar villagers theo nguyên văn báo cáo
đặc biệt của MF) từ chủ yếu hai tỉnh Gia lai (chiếm khoảng 30%) và Đắc-lắc số
lớn c̣n lại đă biểu t́nh không bạo động với mục đích đ̣i hỏi quyền tự do tôn
giáo và phải chấm dứt việc chiếm đoạt đất đai của tổ tiên họ. Bản báo
cáo này cũng liệt kê chi tiết danh sách từng làng, số người tham gia, số người
mất tích.
Vấn đề cần làm sáng tỏ ở đây là: vụ “xuống đường” này là vụ bạo động hay biểu
t́nh không bạo động? Đ̣i hỏi tự do tôn giáo chung hay chỉ cho nhóm Tin lành
Degar? Tin lành Degar là tổ chức tôn giáo hay hoạt động chính trị? “Đất đai tổ
tiên” ở đây là ǵ? Thông tin của các báo trong nước cho rằng đây là vụ bạo động
có tổ chức, và do xúi giục, bên ngoài th́ cho rằng là biểu t́nh bất bạo động, và
bị đàn áp dă man, hàng trăm người bị tử vong và thương vong, nên tin vào đâu?
Trong một bản tin của Ṭa Tổng Lănh Sự Mỹ tại TP Hồ Chí Minh ngày 11.4.2004 cho
biết hiện đang có các biểu t́nh bạo động tại các tỉnh Đắc-lắc và Gia Lai.
Ṭa Tổng Lănh Sự khuyến cáo các công dân Mỹ không nên đến hai tỉnh Đắc-lắc và
Gia Lai trong thời gian này; và các cuộc du lịch đến khu vực này đều bị hủy bỏ,
cho đến khi có lệnh mới ban hành. Đây là công bố của một tổ chức độc lập không
dính dáng ǵ đến chính quyền Việt Nam cũng như phe tố cáo. Chính họ xác định đó
là biểu t́nh bạo động.
Về Degar. Theo tiếng đồng bào cao nguyên, Degar được ghép từ hai chữ De=người
hay con người, Gar=tất cả các bộ tộc. Degar là “người của tất cả các bộ
tộc”, nên hiểu là bộ tộc thiểu số. Theo quan niệm của tổ chức Montagnard
Foundation th́ Degar là “con cháu của núi rừng”. Cộng hoà Degar do Ksor Kok
thành lập ở ngoại quốc và giữ chức đầu lĩnh. Theo Ksor Kok, đất nước Degar có
ranh giới lănh thổ phía Bắc là vĩ tuyến 17, phía Đông giáp Trường Sơn, phía Nam
giáp giới Nam kỳ (khoảng Phan rang) và phía Tây giáp Lào và Campuchia. Những
người theo Degar cho rằng ranh giới này do người Pháp phân định vào năm 1946.
Thời Pháp thuộc, Việt Nam bị Pháp chia cắt thành năm vùng như năm tiểu quốc: Bắc
Kỳ gọi là Tonkin, Trung Kỳ gọi là Annam, Nam Kỳ gọi là Cochinchine, vùng cao
nguyên như Đà lạt, Pleiku, Kontum, Darlac...
Ksor Kok là ai? Báo Tuổi Trẻ trong nước số ngày 19/04/2004 đă có một bài viết
khá đầy đủ về câu hỏi này. Ksor Kok là người tham gia tổ chức FULRO (Front
Unitaire de Libération des Races Opprimées, mặt trận
thống nhất giải phóng các sắc dân bị trị). Đây là một lực lượng vơ trang tiền
thân do Pháp thành lập, sau đó được chính phủ Mỹ đỡ đầu, chưa kể những giúp đỡ
ngấm ngầm của Sihanouk, Lon Nol. Khởi thuỷ, FULRO do tướng Y’Bham Enuol cầm đầu.
Ksor được cử làm đại diện bộ tộc Ja-rai vùng Pleiku và Cheo Reo. Đến năm 1974
khi Miền Nam sắp đổi chủ và để chuẩn bị cho thế trận hậu chiến ở Việt Nam, Ksor
Kok được bổ nhiệm làm tổng tư lệnh FULRO. Cùng năm, Ksor Kok được đi học ở Mỹ
rồi định cư luôn ở đó. FULRO không chỉ là mối lo làm đau đầu chính quyền Việt
Nam sau 1975 mà trước đó, cả chính quyền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng hoà cũng từng
phải đương đầu với những cuộc vùng dậy của FULRO vào những năm cuối thập niên 50
và 60.
Xét về tư cách th́ rơ ràng Degar là tổ chức do một người có quốc tịch Mỹ là Ksor
Kok cầm đầu nhằm thành lập một chính quyền tự trị ngay trong lănh thổ của nước
Việt Nam. Dù là vũ trang hay không vũ trang, th́ đối với Việt Nam, đó vẫn là một
tổ chức chính trị phi pháp v́ vi phạm chủ quyền về sự toàn vẹn lănh thổ của Việt
Nam. Nói thế khác, cuộc nổi dậy của người dân tộc theo Tin lành Degar phải được
coi là một sự bạo động có tổ chức từ nước ngoài với mục tiêu họ tự nhận là “đ̣i
lại chủ quyền đất đai cho người Degar”.
C̣n vấn đề đ̣i tự do tôn giáo. Tôn giáo nào? Theo họ đó là Tin lành Degar.
Đă hẳn, một phần các sắc dân thiểu số Tây nguyên theo đạo Tin lành, nhưng không
phải tất cả. Các sắc dân vùng Bắc Tây nguyên, như ở Kontum và một phần Gialai đa
số là dân tộc Bahnar th́ theo đạo Công giáo. Tin lành Degar, th́ quả là một
chuyện “đầu Ngô ḿnh Sở”: Tin lành là tôn giáo, Degar tự xưng là một quốc gia,
một tổ chức chính trị ly khai. Và như thế th́ Tin lành Degar không phải là một
tổ chức tôn giáo thuần tuư. Hơn thế nữa, trong cuộc bạo động ngày 10/4 chỉ có
những người gọi là Tin lành Degar đi biểu t́nh, c̣n lại
các sắc dân theo đạo Công giáo và số theo đạo Tin
lành thuần thành không tham gia. Điều này quả đă phù hợp với thông tin thực tế
và chính báo cáo của MF đă nêu trên.
Như thế, vấn đề chỉ đặt ra với những người theo Degar và những người Tin lành
Degar. Vấn đề đó là nếu những người này tự nhận là người của “quốc gia” Degar
mà đi biểu t́nh đ̣i ly khai với Việt Nam th́ đó là phiến loạn. Lập luận cho rằng
phải có một “quốc gia” có chế độ hành chánh, đối ngoại, quân sự riêng mới có
quyền tự do tôn giáo là một quỷ biện quái gở. Thật vậy, nếu phải cần có một
“quốc gia” th́ mới có thể sống đạo theo Tin lành được th́ phải chăng một khi cái
“quốc gia Degar” của Ksor Kok trở thành hiện thực th́ bất cứ ai sống trong cái
ranh giới “quốc gia Degar” do MF quy hoạch mà không theo Tin lành Degar th́ cũng
sẽ bị tống xuất khỏi “quốc gia” đó?
Ngoài thể chế một chính quyền và quân đội chính thức ra, các thể chế khác trong
cùng một lănh thổ đều được là phiến loạn, đó là chuyện đương nhiên. “Quốc gia”
Degar không thể là ngoại lệ. Và chiếu theo mục tiêu biểu t́nh mà MF công
bố th́ đó là bạo loạn theo sự chỉ đạo của một tổ chức phiến loạn. Thế
nhưng chuyện khá khôi hài là các hội đoàn, phe nhóm
CCCĐ lại hết mực ủng hộ cuộc biểu t́nh bạo động này nhân danh tự do tôn giáo.
Nói cách khác, đ̣i hỏi tự do tôn giáo đồng nghĩa với phiến loạn.
Không biết những người luôn luôn tự nhận là “quốc gia”, “tự do” này nghĩ sao khi
người thổ dân Úc (Aboriginals) hay người thổ dân Mỹ (Indians) đứng lên đ̣i thành
lập một nước độc lập, tách ra khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương Úc và
Mỹ? Vả lại, nếu có chuyện đó xảy ra với người thổ dân của Úc và Mỹ th́ phần nào
cũng cón có lư v́ lănh thổ Úc và Mỹ vốn là đất của thổ
dân làm chủ đă lâu đời măi đến sau này người da trắng từ phương xa tới chiếm và
tuyên bố lập quốc. Trái lại, Việt Nam là một thực thể quốc gia có nhiều sắc tộc
sinh sống trong đó các sắc tộc Tây nguyên là thiểu số. Những người theo Tin lành
Degar là một thiểu số trong những thiểu số này. Vấn
đề chính quyền Việt Nam theo chủ trương chính sách nào đối với các sắc dân thiểu
số cũng như chính quyền có chủ trương chính sách nào để đối phó với những tổ
chức lợi dụng vào ḷng tin của các sắc dân để sách động phá hoại, là vấn đề “nội
bộ” của Việt Nam.
Báo cáo đặc biệt và những thông tin rất cụ thể của MF
nêu ra sau 2 ngày bạo động nhằm sách động dư luận thế giới và các tổ chức nhân
quyền là một điều đáng suy nghĩ. Thật vậy, đành rằng trong thời truyền thông
hiện đại tối tân này, thông tin có thể lan rộng nhanh chóng. Thế nhưng những chi
tiết xuất hiện trong các thông báo của MF ví dụ như con số lẻ số người tham dự
của hàng mấy chục làng trong khu vực hai tỉnh Darlac
và Gialai, đến con số thương
vong cụ thể và tên tuổi của hàng trăm người trong số 400 người chết và mất tích
quả thực là những chi tiết phi thường không thể không hoài nghi. Ví dụ, theo báo
cáo đặc biệt của MF-Ksor Kok th́ tại tỉnh Gialai có 44.049 người thuộc 8 làng
của 4 huyện, trong đó chủ yếu là từ huyện Dakdoa (6 làng) c̣n lại 3 huyện khác
chỉ nêu con số tham gia, không nêu tên làng; tại Darlac th́ có tất thảy 78 làng
trong 9 huyện tham gia với tổng số 87 610 người. Báo cáo này cũng c̣n nhấn mạnh
là v́ mất liên lạc với Phước Long và Lâm đồng nên không có con số để ghi vào báo
cáo. Trong khi đó, chính quyền địa phương Gialai và Darlac vốn có trách nhiệm
trực tiếp về sinh mệnh dân địa phương vẫn chưa nắm được hết con số thực sự của
cuộc biểu t́nh là bao nhiêu, quy mô đến cỡ nào. Mặt
khác, thông báo của Toà Tổng Lănh Sự Mỹ ở TP HCM cũng chỉ đề cập đến biểu t́nh
bạo loạn ở Gia lai và Darlac mà thôi.
Nhưng hệ thống thông tin giữa các vùng buôn
làng Tây nguyên với bên ngoài vừa là khách quan vừa là chủ quan bị nằm trong cái
thế “thiên la địa vơng”, th́ lấy đâu ra các chi tiết đến con số lẻ, đến tên tuổi
từng làng xa xôi cho Ksor Kok báo cáo nhanh đến thế? Thật vậy, sau sự cố 2001,
việc các đoàn quốc tế đi đến vùng Tây nguyên là chuyện không đơn giản. Các đầu
mối giao thông trong khu vực “nóng” cũng là vùng hạn chế đi lại cho cả người dân
sở tại, chỉ có người thi hành công vụ mới được ra vào. Toàn bộ công nhân viên
chức nhà nước được lệnh không được liên lạc, thông tin ǵ về sự việc cho ngoại
quốc.
Ngoài ra, không chỉ trong thời gian có bạo loạn, mà vốn dĩ từ trước thông tin là
vấn đề được chính quyền kiểm soát rất chặt chẽ. Mọi đầu mối thông tin nhạy cảm
đều bị theo sát. Điều này đă được các hội đoàn CCCĐ vô t́nh xác nhận khi họ liên
tục tố cáo chính quyền Việt Nam bưng bít tin tức, bóp nghẹt tự do thông tin.
Thông tin qua đường vô tuyến đều được quản lư gắt gao.
C̣n về thực địa, nếu ai một lần đến Tây nguyên, thử làm một chuyến về một buôn
làng dân tộc th́ hẳn mọi chuyện sẽ rạch ṛi. Các buôn làng thiểu số nằm thưa
thớt và cách xa nhau. Giữa cụm này với cụm khác hầu như không có trục giao thông
liên kết. Sau này mới có những con đường cấp phối hay đường đất nện đơn sơ,
nhưng để đi đến được mỗi nơi vẫn là một sự khó khăn đáng kể. Cho nên, ngay với
chính quyền, quản lư sắc tộc cũng là một khó khăn đau
đầu.
Để thấy rơ t́nh trạng tách biệt cô lập này, hăy lấy
một xă được coi là gần trung tâm tỉnh lỵ Pleiku nhất mà chính báo cáo của MF
cũng có nhắc đến, đó là xă Glar của người Bahnar.
Một điều t́nh cờ, là chính bản thân người viết bài này đă quá bộ trở lại cái
làng đó cách đây chỉ có hơn hai tháng. Nó nằm cách trung tâm thành phố Pleiku
trên dưới 20km thôi, nhưng bên trong vẫn c̣n là đường đất, có điện thắp sáng
nhưng dưới dạng rất cơ bản; phương tiện thông tin chỉ có thể nói là phải sử dụng
thông tin công cộng. Internet th́ là chuyện tương lai. Tại tỉnh Gia lai, các đơn
vị tư nhân mắc Internet đều phải đăng kư rẩt cụ thể với Bưu điện từng chi tiết.
Các quán internet cà phê cũng phải tuân thủ theo một quy định an ninh nghiêm
ngặt. Và toàn tỉnh cũng chỉ có thể truy cập được vào internet bằng đường dây
điện thoại, chưa có internet băng thông rộng. Điện thoại tư gia trong các buôn
làng là chuyện viễn tưởng. Chỉ c̣n có cách sử dụng điện thoại cầm tay được cho
là phương tiện khả dĩ để người ta thông tin với MF để báo cáo t́nh h́nh, tuy
nhiên nhiều vùng trong sâu điện thoại chưa được phủ sóng tới. Và dĩ nhiên, chẳng
thể nào cái điểm chốt cuối cùng này mà chính quyền Việt Nam lại để lọt lưới đơn
giản đến mức thông tin đi như trên xa lộ lọt ra hải ngoại như vậy. Cho nên
chuyện thu thập tin tức để quảng bá như Ksor Kok-MF và các hội đoàn CCCB loan
báo chỉ là chuyện tiền chế tưởng tượng mà thôi.
Một chuyện cụ thể hơn, người nhà chúng tôi, có người sống ngay nách của cái huyện
Dak doa mà họ c̣n không được đến, không được biết, không được nói. Và tại Pleiku
các cuộc bạo động chỉ diễn ra ở khu vực của địa phương đó, không có trong thành
phố. Mọi công nhân viên chức đang công tác tại các vùng nóng đó đều bị “cắm trại”,
thông tin không được thông báo cho người nước ngoài hoặc người Việt ở hải ngoại.
Một vị chủ tịch phường (H.L.) của thành phố Pleiku đă bị cách chức cũng chỉ v́
không tuân theo lệnh của cấp trên. Không ai được tường tận hết một sự kiện, nếu
biết cũng chỉ là một đoạn phim tức thời trong mắt họ khi họ vô t́nh ở đó mà thôi,
c̣n sau đó là hiện trường đều được phong toả. Các làng nằm trong các huyện c̣n
lại đều rất xa trung tâm thành phố. Tại Darlac có hai huyện Cu Jut và Cu Mnga
là hai huyện gần trung tâm thành phố Ban mê thuột (BMT) nhất, th́ từ trung tâm
huyện lỵ Cu Jut đến BMT là 14km, và từ trung tâm huyện lỵ Cu Mnga đến BMT là
19km.
Và cuối cùng, tin tức ở đâu ra để cho truyền thông hải ngoại loan tin, để những
tổ chức như Human Right Watch bày tỏ ư kiến? Theo báo cáo của Montagnard
Foundation hay của Ksor Kok chăng? Hay theo những “nguồn tin đáng tin cậy” từ
những người trong nước đưa ra chăng? Lư trí và trí tuệ cho phép chấp nhận mấy
phần sự thật trong những nguồn tin “đáng tin cậy” đó? Hỏi là trả lời vậy.
Cuộc bạo loạn này dù ở quy mô và cường độ như thế nào th́ cũng phải thừa nhận
rằng có một sự tổ chức chu đáo, có sự chỉ đạo trực tiếp tại chỗ. Không thể có
một cuộc biểu t́nh bộc phát, không tổ chức nào mà lại đồng loạt về thời gian mà
xảy ra ở nhiều buôn làng trên một địa dư rộng khắp như thế được. Chắc chắn phải
có kẻ chỉ huy trực tiếp, phải có nhiều người lănh đạo trực tiếp cho mỗi khu vực.
Điều này chính quyền Việt Nam cần phải làm cho đến nơi đến chốn. Những kẻ cầm
đầu phản loạn cần phải được xử theo pháp luật một cách nghiêm minh và công bằng.
Câu chuyện là như vậy. Tinh ư th́ có thể thấy kỳ này, các hội đoàn từng tích cực
chuyên nghiệp đối kháng không phải tất cả đều đồng thanh lên tiếng ủng hộ vụ bạo
động, lên án nhà cầm quyền Việt Nam. Chỉ có một nhóm lau nhau “tấp tễnh người đi
tớ cũng đi” thôi. Lư do v́ trong số những người CCCĐ đó, không ít người đă từng
đau đầu với mấy anh FULRO trước đây mà bây giờ là Degar này. Không khéo lại có
người đă từng đứng trong đội ngũ đi dẹp loạn FULRO thời đệ nhất và đệ nhị VNCH
cũng nên. Những người này hẳn không khỏi bấm bụng kêu trời “Trật lất rồi mấy cha
nội ơi!” khi thấy những bạn đồng đội của họ hoan hô FULRO, Ksor Kok, Tin lành
Degar.
Những người biết “nh́n nhận vấn đề” hơn th́ phân tích rằng phản ứng của một số
đồng bào Tây nguyên là do chính quyền đă “cướp” đất bằng chính sách di dân ồ ạt,
lấn chiếm hết các vùng canh tác màu mỡ của họ, dồn họ vào những chỗ khô cằn và
không có những chính sách hữu hiệu nâng đỡ hỗ trợ sắc tộc.
Trong thực tế quốc gia, việc phân bổ đất đai, dân cư, di dân trong lănh thổ là
quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền đương nhiệm. Đó không phải là xâm chiếm
hay xâm phạm chủ quyền lănh thổ giữa các quốc gia với nhau. Ranh giới của nước
Việt Nam đă được tuyên bố và được Liên hiệp quốc và quốc tế công nhận. Cái gọi
là lănh thổ của Cộng Hoà Degar chẳng nằm vào trong một văn bản nào của quốc gia,
chẳng có sự công nhận nào của quốc tế. Cũng không thể nại cớ đó là theo sự phân
chia có từ thời Pháp, bởi v́ sự phân chia đó đă tàn lụi theo chế độ thực dân.
C̣n nói về đất đai canh tác bị lấn chiếm, chuyện thật tế nhị. Cuộc sống của
người thiểu số vốn từ xưa là du canh du cư, họ không có một nơi nào cố định, nên
rất khó hoạch định và phân phối đất canh tác. Thứ nữa, dù Cộng Ḥa Degar tuyên
bố là ranh giới nguyên thuỷ của họ cho đến bờ biển nhưng người Tây nguyên không
có nền văn hoá lúa nước. Họ sống nhờ vào trồng tỉa trên nương rẫy, có nghĩa là
trồng trọt trên đất đồi không phải là đồng ruộng, phụ thuộc vào thiên nhiên. Tất
cả các h́nh thức nuôi trồng đều ở dạng thô sơ, không có ứng dụng khoa học kỹ
thuật. Khái niệm đất canh tác rất xa lạ với họ. Chính v́ thế, mùa màng hoàn toàn
phụ thuộc vào thiên nhiên, trời đất. Khi đất khai hoang không c̣n trồng trọt
được nữa, nguồn nước mạch bị cạn th́ họ dời làng ra đi. Chỉ từ khi có chính sách
định cư th́ một số buôn làng mới ổn định, có đất canh tác áp dụng kỹ thuật nông
nghiệp như người Kinh làm lúa nước. Khi chính quyền áp dụng chính sách định canh
định cư đến cho họ th́ lại bị những kẻ chống đối rêu rao là xâm lược đô hộ áp
bức.
Điểm chiến lược cốt tử mà bất kỳ một chính thể nào cũng phải lưu tâm là vùng
biên giới, đặc biệt là vùng Tây nguyên đất rộng dân thưa, mà phần đông lại là
dân tộc thiểu số. Điều này đ̣i hỏi một nền móng biên giới vững chắc dựa vào
chính sách phân bổ dân cư, quy hoạch hành chính, bố trí biên pḥng tích cực và
hợp lư. Có lẽ v́ vậy mà động chạm đến người thiểu số. Lấy tỉnh Gia lai (đă tách
ra khỏi Kontum) làm ví dụ. Đây là một tỉnh có biên giới chung với cả Lào và
Campuchia. Gia lai có khoảng 1,5 triệu cây số vuông diện tích tự nhiên,;gần 20%
diện tích là đất chưa sử dụng kể cả sông suối núi đá.
Đất để ở chỉ mới chiếm
0.64% diện tích đất tự nhiên; đất canh tác nông nghiệp chiếm dưới 25%. Tổng số
dân toàn tỉnh khoảng 1 triệu người (1.063.000), như vậy tính về mật độ dân số
của Gia lai là chỉ có khoảng 0.7 người/1 cây số vuông. Một chính quyền quốc gia
hẳn biết phải làm ǵ ở đây để giữ vững an ninh và chủ quyền biên giới.
Điểm mắc mớ giữa người Kinh và người thiểu số là khó đạt được một tiếng nói
chung v́ sự khác biệt khó dung nạp được giữa hai nền văn hoá và văn minh. Đó là
một sự thực. Thêm vào kinh nghiệm của người thiểu số qua các thời kỳ đệ nhất và
đệ nhị VNCH ở miền Nam trước 1975, dưới sự che chở của chính phủ Pháp và Mỹ, đă
tạo cho họ một “ảo tưởng” về một quốc gia độc lập của họ. Hố sâu ngăn cách giữa
người Kinh và dân tộc Tây nguyên càng ngày càng lớn. Khác hẳn với
kinh nghiệm
của người người thiểu số miền Tây Bắc
với người Kinh. Họ đă từng một thời cũng là
“Hoàng triều cương thổ” rồi thành khu tự trị Việt Bắc
(bây giờ không c̣n nữa), nhưng rồi họ dung hoà dễ
dàng với người Kinh. Dưới con mắt của những người dân tộc Tây nguyên được tuyên
truyền và hun đúc hận thù của tàn quân FULRO, họ không có sự chia sẻ với người
Kinh.
Thế nhưng có một điều gần như là một sự thật hiển nhiên, đời sống của đồng bào
dân tộc Tây nguyên từ sau ngày 30/4/1975 đă hoàn toàn thay da đổi thịt. Chính
quyền Việt Nam đă gần như đặt mối quan tâm ưu tiên hàng đầu cho dân tộc Tây
nguyên. Nhiều làng được định cư. Trợ giúp hoàn toàn trong việc tái định cư làng
mạc. Đường sá phương tiện được nâng cấp, nhiều làng có cả nhà ngói, nhà xây (điều
mà không bao giờ thấy trước 1975). Đến nay đa số các buôn làng đều có điện dùng
(mà không phải trả tiền); xă nào cũng có trường học cho con em dân tộc ít người,
có giáo viên là người của bản làng. Học sinh đi học được cấp phát học cụ, đi học
các trường đại học và trung học chuyên nghiệp được ưu tiên tuyệt đối; có nghĩa
là cứ chịu khó có mặt th́ sẽ vào đại học, kể cả ngành bác sĩ, vào được rồi sẽ có
học bỗng, học bỗng cho người dân tộc là loại cao nhất. Đau ốm đi bệnh viện được
miễn phí 100%. Tại bệnh viên tỉnh Gia lai, mới được xây cất có khoảng 600 giường
bệnh. Người viết bài này đă đến thăm, đa số bệnh nhân là đồng bào dân tộc thiểu
số. Theo ư của lănh đạo y tế ở đây, bệnh viện tỉnh này nghèo hơn bệnh viện các
tỉnh bạn v́ số bệnh nhân dân tộc thiểu số quá nhiều, và họ là diện miễn phí hoàn
toàn, không thể có phụ phí thu thêm. Hàng ngày đều có đài truyền thanh, truyền
h́nh phát bằng tiếng dân tộc, đến cả các ngôn ngữ của dân tộc thiểu số hiếm. Về
đời sống kinh tế th́ họ luôn được ưu tiên vay vốn mà lăi suất rất thấp, được
hướng dẫn, chuyển giao các công nghệ nông công nghiệp miễn phí.
Gần như 100% những kẻ “đấu thầu chống cộng” ở hải ngoại, khi vớ được “món hàng
Tây nguyên” là họ cũng trăm phần trăm ủng hộ đồng bào Thượng, người Thượng anh
em của họ. Họ có biết đâu rằng, nếu họ lên Tây nguyên lúc này, vào một cái làng
dân tộc thiểu số nào đó mà nói “này anh Thượng anh em ơi!” để rồi biết có c̣n
toàn mạng mà ra về không! Chỉ v́ một lư do đơn giản là người thiểu số Tây nguyên
rất dị ứng mạnh với danh từ Thượng, vốn rất b́nh thường và dung dị về ngữ
nghĩa, chỉ để chỉ người ở miền thượng, tức là miền cao mà chế độ Ngô Đ́nh Diệm
đặt cho họ. Dị ứng của họ với tiếng “Thượng” c̣n mạnh hơn người Việt Nam c̣n có
biết và nhớ sử dị ứng với từ Annamite mà Pháp dùng để gọi người Việt Nam,
v́ người Tây nguyên cho là chế độ Diệm định diệt chủng họ, nên cái danh từ
Thượng đối với họ là một sự khinh miệt, có hàm ư xấu xa.
Tại Little Saigon ngày 18/4/2004 vừa qua đă có một cuộc họp với hàng trăm người
tham dự với sự có mặt của ông Nguyễn Văn Nghiêm nguyên là Tổng Thanh Tra của Bộ
Sắc Tộc thời đệ nhất và đệ nhị VNCH. Theo tin của tờ Người Việt (những chữ trong
ngoặc vuông và nhấn mạnh của người viết) th́ : “Ông Nghiêm (và Itin) cho biết,
sau ngày mất nước 1975, các chiến sỹ Thượng tại Tây nguyên đă rút vào rừng để
tiếp tục kháng chiến, cuộc chiến đấu kéo dài gian khổ và ṛng ră suốt 17 năm
[hay FULRO?], sau đó v́ thiếu tiếp tế, thiếu lương thực, số người chết đă
lên đến con số là 9.872, số c̣n lại đành phải rút, bằng đường rừng, sang Thái
Lan và sau đó được chính phủ Hoa Kỳ đem đi tỵ nạn tại North va South Carolina.
V́ bị CSVN xâm lăng đất đai và đàn áp về mọi mặt, từ đấu tranh vũ lực đồng bào
Thượng đă phải chuyển sang đấu tranh bất bạo động [nhưng một bên là tàn dư
phiến loạn FULRO, một bên là dân làng, hai bên liên hệ với nhau thế nào đây?]
và cuộc nổi dạy đầu tiên xảy ra tháng 2/2001, đă bị CSVN đàn áp dă man, một số
người đă phải chạy trốn sang Căm Bốt, trong số có 907 người đă được đưa sang Hoa
Kỳ định cư tại Carolina. Số c̣n lại đă bị bắt, một số đă chết, một số đang ẩn
núp hoặc đang bị cầm tù tại VN. Đến 10/4 vừa qua, nhân Lễ Phục Sinh, hàng trăm
ngàn đồng bào Thượng từ các buôn làng miền cao nguyên cũng như các tỉnh lỵ như
Kontum, Gialai, Darlac, Lâm Đồng, Buôn Mê Thuột, B́nh Long Phước Long...[lại
c̣n vân vân tức là c̣n nữa kể không hết. Nhưng ngay cả báo cáo của MF_Ksor Kok
cũng chẳng có ai từ B́nh Long, Phước Long; công bố của toà lănh sự Mỹ cũng chỉ
có 2 vùng Gialai và Daklak. Nếu cao nguyên trung phần mà lan đến Saigon th́ chắc
Sàigon cũng đưọc liệt kê luôn vào đây!] tiếp tục kéo nhau về biểu t́nh bất
bạo động để yêu cầu Nhà Cầm quyền CS phải trả lại đất đai từ bao đời do Ông Cha
họ để lại và yêu cầu cho họ được Tự Do Tin Ngưỡng [tín ngưỡng nào, có phải
là Tin lành Degar, như Ksor Kok tuyên bố và thực tế minh chứng?]. CSVN đă
trắng trợn vu khống cho những đồng bào hiền ḥa chất phác, không có một tấc sắt
trên tay, là “bị kích động bởi thế lực ngoại bang muốn tách ra khỏi nước Việt
Nam để thành lập một nhà nước ĐêGa độc lập...” [điều này th́ chính Ksor Kok
tuyên bố]. Họ vu khống để biện minh cho những hành động diệt chủng và đàn
áp dă man đồng bào Thượng, ḥng chiếm lănh lấy đất đai và đẩy đưa đồng bào
Thượng vào rừng sâu, hà hiếp và tước đoạt mọi quyền sống của đồng bào Thượng vốn
dĩ rất hiền lành, chất phác và sống rất nghèo khổ”. Không biết ông
Nghiêm c̣n nhớ ḿnh là ai không? Không lư ông quên là chính ông Tổng thống thời
đệ nhất cộng hoà của ông đă bị “người Thượng anh em” của ông tố là có kế hoạch
diệt chủng họ. Rồi tới đệ nhị cộng hoà và các cấp tướng lĩnh của ông (Tướng Tôn
Thất Đính) đă lên Tây nguyên dẹp loạn bắt giam cả thủ lĩnh “chiến sỹ Thượng”
Y’Bham Enoul cuả ông. Ông Nghiêm bây giờ đă quên những điều ấy nên mới gọi họ là
chiến sỹ Thượng tại Tây nguyên, hay chính ông là
điệp báo của FULRO được cài và chui sâu leo cao vào cái chức Tổng thanh tra Bộ
Sắc Tộc suốt hai chế độ VNCH và bây giờ mới tự thú nhận?
Điều cần thiết phải thực hiện sau hai lần bạo động của đồng bào thiểu số Tây
nguyên vừa qua là chính quyền phải có biện pháp thiết thực hữu hiệu để ngăn chặn
bạo động tái diễn, để thu phục nhân tâm đừng để họ bị MF và thủ lĩnh là Ksor Kok
xúi dục từ xa. Điều đó khó. Cho nên sâu xa hơn là làm sao phải tận diệt những
đầu mối xúi giục phản loạn đến từ bên ngoài.
Đặc điểm tôn giáo chính của những người thiểu số này là họ theo đạo Tin lành,
nhất là khu vực Nam Tây nguyên. Hệ phái Tin lành không hoạt động công khai thành
một tổ chức lớn. Họ có những nhóm nhỏ các mục sư. Theo MF th́ hiện nay có 500
mục sư Tin lành hoạt động trong khu vực Tây nguyên hoạt động thành nhóm len lỏi
vào các buôn làng hành đạo. H́nh thức hoạt động theo kiểu “du kích” này là một
mối quan ngại cho chính quyền trong việc phân định đâu là tôn giáo thuần túy,
đâu là những kẻ lợi dụng tôn giáo để xúi giục dân chúng.
Đặc điểm cố hữu của người đồng bào thiểu số Tây nguyên là tŕnh độ dân trí rất
khác biệt. Đă vào thế kỷ XXI rồi nhưng họ vẫn giữ nhũng tin tưởng vật linh, đau
yếu chỉ có cúng yang (trời), sinh nở không bao giờ muốn đến trạm y tế, phần v́
họ sống cách nhau quá xa, phần họ chỉ tin tưởng vào bà mụ của làng; các tập tục,
hủ tục trái với nguyên tắc vệ sinh thông thường vẫn c̣n tồn tại. Điều này làm cho
các chương tŕnh cải thiện đời sống, cải thiện sức khoẻ, chăm sóc y tế cho họ gặp nhiều khó khăn. Về
cuộc sống tinh thần văn hóa của họ rất đơn sơ và khép kín. Họ chỉ tin vào những
ǵ già làng nói. Văn hoá và văn minh người Kinh khá khó khăn để xen vào đời sống
tinh thần của họ.
Trên hết là đời sống vật chất của họ ở mức quá thấp kém, không phải họ bị bóc
lột hay bị chèn ép mà đó là hậu quả tất yếu của một ṿng xoắn đời sống xă hội của
chính họ tạo nên. Thế nhưng điều oái oăm đó là một điểm yếu để cho mọi phía có
thể khai thác. Bên chính quyền cũng rẩt cố gắng để san bớt cái hố sâu ngăn cách
đời sống vật chất và tinh thần so với người Kinh, nhưng vấn đề ở chỗ là chính
bản thân họ phải “tự vận động”, mọi san sớt bù đắp về mặt vật chất chỉ là những
trợ giúp tạm thời. Chính ngay cả thu nhập b́nh quân đầu người của tỉnh Gia lai
chỉ có khoảng 200 Mỹ kim một năm, thử hỏi làm sao mà nâng cao được đời sống vật
chất cho mọi người, trong đó có cả dân tộc thiểu số. Hiện nay tại Gia lai, dân
tộc thiểu số khoảng trên 450.000 người, chiếm 43% dân số toàn tỉnh. Các chính
sách lâu dài th́ chưa có hứa hẹn ǵ đem lại hiệu quả tốt. Và với lối sống khép
kín của họ th́ cũng dễ hiểu rằng ước nguyện đó chỉ là việc “đội đá vá trời” mà
thôi.
Trong khi đó những tổ chức bên ngoài cũng tranh thủ “đánh vào cái dạ dày” của
người dân tộc thiểu số này, cố gắng sử dụng những miếng mồi vật chất để lôi kéo
họ về phía ḿnh. Họ thừa hiểu rằng việc dùng vật chất cám dỗ là chuyện tiên
quyết, c̣n hậu quả hay để đến lúc mà đồng bào dân tộc không ưng cái bụng rồi th́
mục đích của những phe phái xúi giục đó cũng đă phần nào đạt được.
Cũng nói thêm là bản chất của người đồng bào thiểu số là chất phát, tin người.
Tôi cũng từng được họ bảo rằng không có ăn cắp trong buôn làng. Ra ngoài đường,
nhất là khi đi vào phố xá, họ luôn đi trật tự theo một hàng dọc. Có phải là thói
quen h́nh thành từ cách đi theo đường ṃn nhỏ trong rừng chăng? Những ai mà chân
thật, chân t́nh với họ, bất kể dân tộc nào, th́ họ kết nghĩa như anh em, một khi
họ đă coi như anh em th́ họ tin tưởng. Tuy nhiên, chính v́ cũng có nhiều người
đă lợi dụng sự chất phác của họ mà lừa dối họ, họ đâm ra ghét. Một khi họ đă
không “ưng cái bụng” th́ coi như là kẻ thù muôn kiếp. Trước năm 1975, có nhiều
người Kinh được gọi là “những người đi buôn Thượng”, tức là nói những người đi
buôn bán với người thiểu số. Họ lừa dối đủ kiểu, chẳng hạn như bán muối cho dân
tộc, đong bằng cái lon sữa ḅ, họ đong một lon thật, rồi nhanh chóng lật ngược
cái lon lại chỉ đong ở cái phần đít lon; và như thế 2 lon, nhưng thực tế chỉ có
một lon vun và thêm một ngọn lon thôi. Sau năm 75, từ “dân tộc” được thay thế để
chỉ người “thượng” th́ “người buôn bán với dân tộc” cũng có kiểu lừa khác, v́
người dân tộc họ đă khôn ra nhiều. Họ thêm nghi kỵ với người Kinh. Những người
lănh đạo của làng xă, có thể v́ thói cửa quyền - ở Việt Nam th́ thời nào cũng có,
đâu đâu cũng có - có thể cũng là một nguyên nhân làm cho họ bức xúc, chỉ cần
thêm một “cái hích” nữa, th́ mọi chuyện có thể xảy ra, như hai lần bạo động vừa
qua.
Một kinh nghiệm nữa rút ra từ vụ bạo động này cho chính quyền là về vấn đề thông
tin. Trong thời đại thông tin điện tử này, mọi chuyện dối trá, nguỵ tạo đều có
thể thành sự thật theo kiểu nói láo măi rồi cũng phải tin. Việc hạn chế, ngăn
cản thông tin sẽ là nguy cơ làm tăng tính nghi kỵ. Nếu trong chuyện vừa rồi,
thông tin cứ bạch hoá ngay từ đầu. Họ biểu t́nh th́ thông tin có biểu t́nh, bạo
động th́ trấn áp bằng vũ lực. Đó là cái quyền thực thi luật pháp của chính quyền,
chẳng ai có thể phản đối. Thông tin càng bưng bít, càng tăng sự ṭ ṃ, và càng
tạo cơ hội cho những kẻ chuyên lợi dụng sự tù mù để nguỵ tạo thông tin. Hậu quả
là phải làm một chuyện chẳng đáng làm đó là phải đôi co chống đỡ với những kẻ to
mồm.
Sự thường “cùng tắc biến, biến tắc thông”, hy vọng qua vụ bạo động lần thứ hai
này, chính quyền Việt Nam sẽ hiểu rơ hơn đâu là cái mắc xích cần phải cắt trong
ván bài mà “con tẩy” là người Tây nguyên. Đối với những phần tử chống đối, phản
kháng, phản động là người Kinh th́ c̣n có luật pháp quốc gia xử hẳn hoi. Đối với
người Tây nguyên th́ họ cũng là một thực thể của quốc gia nhưng xử sự đ̣i hỏi
nhiều tinh tế kiên tŕ hơn, v́ cuộc sống của họ quá cách ly với những ứng xử
b́nh thường. Họ không hiểu rằng có luật pháp mà họ phải tuân theo, nên ai nói
sao nghe lọt tai là họ có thể theo liền. Những người già làng, là những người có
uy tín nhất trong mỗi buôn làng, họ cũng không biết đến luật pháp quốc gia. Kể
cả họ là những người đứng ra vận động bạo động th́ việc xử họ không những bị tai
tiếng mà c̣n có chút ǵ đó không đành, v́ họ không biết nên mới bị xúi giục. C̣n
cầm đầu tổ chức phiến loạn là thủ lĩnh Ksor Kok ở xa xôi, có thể chẳng bao giờ
léo hoánh về cái làng của ḿnh nữa, nên chẳng có cái lư ǵ mà bắt mà xử. Vậy c̣n
“ai là người trồng khoai đất này”?
Nguyên Tường.
|
|