|
Ghi chép một chuyến đi: Đời
sống nông thôn
Nguyễn Văn
Như chúng ta biết trên dưới 80% dân số Việt Nam sống ở nông thôn, hay làm nghề
nông. Trong những năm bao cấp, cuộc sống của người dân ở nông thôn miền Nam hết
sức khó khăn, những khó khăn mà – nói theo Nhà văn Bùi Ngọc Tấn –Một thời mà
mỗi khi nhớ lại, bỗng nhiên thấy ḿnh đă là những người anh hùng, đă vượt qua
một quăng đời tưởng như là bịa đặt, không thể nào tin được. Và thế hệ hôm nay
càng chẳng thể quan niệm nổi. Nhưng sau khi có chính sách đổi mới chỉ vài năm,
nông thôn Việt Nam phát triển một cách nhanh chóng, nhanh đến nổi chóng mặt.
Nói chung là những phát triển theo chiều hướng tích cực, nhưng cũng có vài hiện
tượng tiêu cực đi kèm.
Cho đến nay, cuộc sống của người dân ở nông thôn khá hơn hàng năm, tuy mức độ
cải thiện vẫn c̣n chậm so với dân thành thị. Ngoài đường xá và phương tiện đi
lại, điện khí hóa nông thôn là một cải tiến hiển nhiên nhất. Theo một bài báo
đăng trên tờ Tuổi Trẻ trước Tết th́ hiện nay có đến 99% làng xă đă có
đường dây điện. Tuy nhiên không phải nhà nào cũng có điện. Qua ghé thăm bà con
vài xă thuộc tỉnh Kiên Giang, tôi thấy chỉ khoảng 70% hay cao lắm là 80% các hộ
có điện, phần c̣n lại, đặc biệt là bà con sống trong các vùng xa lộ chính, vẫn
chưa có điện. Đường dây diện th́ có đấy, nhưng người dân vẫn chưa có tiền hay
chưa có nhu cầu bắt điện.
Điện thoại là một phương tiện thông tin khá phổ biến trong nông thôn. Ngày nay,
bà con chỉ cần tiêu ra khoảng 300 ngàn đồng là có thể cày đặt một điện thoại
trong nhà. Nhưng vẫn có một số đông bà con không muốn có điện thoại, v́ phải
trả thuê bao hàng tháng, một điều mà họ không muốn. Ngoài ra, một số lí luận
rằng họ chưa cần đến điện thoại làm ǵ cho … mệt. Muốn ghé thăm ai th́ chỉ việc
chạy xe Honda hay chèo xuồng đến gơ cửa là xong, cần ǵ đến điện thoại! Một số
gia đ́nh có điện thoại cũng truy cập vào mạng internet, nhưng chủ yếu chỉ là để
truy t́m thông tin trong nước và liên lạc với bà con nước ngoài.
Điện về kéo theo những phương tiện giải trí điện tử. Ti-vi hiện đang khá phổ
biến trong quê. Hầu như nhà nào cũng có một cái ti-vi. Nhà có tiền chút th́
ti-vi màu (tối thiểu là 3 triệu đồng) và đầu máy DVD (tối thiểu 700 ngàn đồng).
Nhà ít tiền th́ dùng ti-vi trắng đen. Mỗi tỉnh đều có một đài truyền h́nh
riêng, và có nhiều chương tŕnh độc lập. Thích nhất vẫn là những chương tŕnh
đàn ca tài tử đang được phát triển nhanh ở miền Tây nam bộ. Tài tử được tuyển
chọn từ cấp ấp, rồi thi dần dần lên cấp tỉnh và sau đó là liên hoan cấp vùng.
Phần lớn các bài ca vọng cổ thường mang nội dung ca ngợi quê hương, ca ngợi Đảng
và bác Hồ, việc xóa đói giảm nghèo, v.v... Ngoài ra, ti-vi c̣n có nhiều chương
tŕnh rất thiết thực cho bà con nông dân, như các chuyên viên nông nghiệp trực
tiếp hướng dẫn một cách cụ thể cách trồng và dưỡng cây lúa, cách trồng cây ăn
trái sao cho có năng suất cao, v.v...
Nhưng cái làm cho tôi bực ḿnh nhất là những cuốn phim tập Hàn Quốc hay Trung
Quốc được tŕnh chiếu trên ti-vi hầu như hàng ngày. Đó là những cuốn phim loại
t́nh cảm xă hội, nh́n sơ qua th́ vô thưởng vô phạt, nhưng nếu nh́n về lâu về
dài, th́ đó là một sản phẩm văn hóa rẻ tiền, một loại phó sản văn hóa của nước
ngoài. Tôi nói “phó sản văn hóa” là bởi v́ đó là những cuốn phim nghèo nàn về
nghệ thuật tính, đơn sơ trong dàn dựng, và phần lớn là gượng ép trong diễn
tuồng. Ấy thế mà nó làm say mê rất nhiều khán giả, kể cả khán giả cao tuổi. Bà
d́ tôi là một trong những khán giả đó; bà theo dơi không sót một đoạn phim nào,
và có thể kể vanh vách tên những tài tử và t́nh tiết câu chuyện y như những
người mê truyện chưởng Kim Dung thởi trước 75! Do đó, ảnh hưởng của những cuốn
phim này trong xă hội, và đặc biệt là trong giới thanh niên, không nhỏ chút
nào. Cứ nh́n qua cách ăn mặc, ăn nói, cư xử, v.v… của thanh niên ngày nay th́
rơ: họ bắt chước theo phim. Tóc tai nhuộm màu nâu, màu vàng; quần áo hoa ḥe
ống loa, ống chật; ăn nói kèm thoe những ngôn từ ngoại lai như “thiện tai” nghe
rất ư là chướng tai và nh́n rất ư là gai mắt.
Một phát triển tích cực nữa là đường lộ giao thông. Có thể nói ở Đồng bằng sông
Cửu Long, các con lộ dần dần thay thế các con sông. Ở quê tôi,
nhiều con lộ nhỏ mọc lên dọc theo bờ sông, chằn chịt nối liền các thôn
xă, huyện và tỉnh với nhau. Những làng xă ngày xưa phải đi bằng đ̣ nay được
thay thế bằng xe. Chẳng hạn như ngày nay người ta có thể đi Cần Thơ qua ngă
Giồng Riềng hoàn toàn bằng đường bộ.
Phát triển đường xá kéo theo nhu cầu xe. Ở những vùng nông thôn xa xôi như làng
tôi, phần lớn gia đ́nh nông dân đều có một chiếc xe gắn máy. Ngay cả học sinh
trung học cũng có đứa lái xe này (thay v́ xe đạp) đến trường. Ở quê tôi, sự
xuất hiện của xe gắn máy làm chết đi các con đ̣. Ngày xưa, mỗi lần muốn ra thị
xă Rạch Giá, tôi phải mất 4 giờ ngồi đ̣. Ngày nay, chỉ cần 30 đến 30 phút bằng
xe gắn máy là tôi đă có mặt ở thị xă Rạch Giá. Những con đ̣ ngày càng thoi thóp
trước sự cạnh tranh quyết liệt của xe Honda ôm, và nay th́ chết hẳn: không c̣n
đ̣ đi ra thị xă nữa.
Chợ búa nông thôn cũng phát triển đáng kể. Ngày xưa cái chợ làng tôi chỉ lèo
tèo vài người bán cá, thịt heo, thịt chuột, và những nông sản gia đ́nh tụ tập
chung quanh cái sân khoảng 50 x 40 mét là cùng. Nhưng ngày nay, khu chợ đă nới
rộng giống như một thị tứ nhỏ hẳn hoi: cũng có nhà lồng chợ, cửa hàng bốn bên
nhà chợ, và bán đủ thứ hàng hóa, kể cả bí rượu. Nghe nói trong ṿng 2 năm tới,
khu chợ này sẽ phát triển khang trang hơn và sẽ có những căn phố xây theo kiểu
mẫu hẳn hoi, chứ không theo kiểu tự phát. Thế là khu đất xung quanh chợ đột
nhiên tăng giá. Một khu đất 10 x 20 mét ngày nay ở làng tôi giá cũng khoảng 10
– 20 triệu, cao gấp 10 – 20 lần so với 5 năm trước đây.
Đi ra khỏi chợ làng tôi, tiến về phía thị xă, cũng có những khu chợ búa ngày xưa
nhỏ th́ nay phát triển thành như những thị tứ lớn. Có chợ ngày xưa chỉ lèo tèo
vài mươi người bán, nay phát triển thành một khu buôn bán lớn hẳn hoi, với hàng
trăm kiosk bán đủ thứ hàng hóa, kể cả đại lí xe, dưới sông th́ thuyền ghe và
trên bờ th́ xe cộ tấp nập ra vào. Đi ra khỏi khu chợ th́ hai bên vẫn là ruộng
lúa xanh ŕ, nhưng xa xa lại có cây xăng, và một quán … nhậu. Ngay cả hệ thống
cà phê Trung Nguyên cũng len lỏi về tận vùng đất xa xôi này.
Nhưng nói chung đời sống của người nông dân vẫn c̣n nhiều khó khăn. Trong khi
nhiều người khá lên th́ cũng có nhiều người khác dậm chân tại chỗ, thậm chí
thiếu ăn. Sau thời ḱ bao cấp hợp tác xă, Nhà nước có chia ruộng cho những gia
đ́nh nào chưa có ruộng. Thông thường một gia đ́nh được chia khoảng 3 đến 5 công
đất để trồng lúa. Nhưng sau một thời gian, nhiều gia đ́nh không có khả năng tài
chính để duy tŕ ruộng, và phải bán cho những gia đ́nh có tiền của trong xóm.
Trắng tay lại hoàn trắng tay. Họ quay sang nghề cũ là làm mướn. Mỗi ngày làm
mướn chỉ được 15.000 – 20.000 đồng, tức trên dưới 1 Mĩ kim. Với một thu nhập
khiêm tốn như thế, họ chỉ sống qua ngày ...
Hai trong những vấn đề lớn nhất của nông dân hiện nay là y tế và giáo dục. Hệ
thống y tế nông thôn trước đây gần như là không có, cho nên sau này, xây dựng
một hệ thống y tế dự pḥng ở nông thôn đ̣i hỏi một chi phí rất lớn. Ngay cả
hiện nay, nhiều làng xă không có cơ sở y tế. Xă tôi may mắn hơn v́ có một trạm
y tế (do một người Đức, có vợ là một cô gái trong làng, xây và tài trợ) và có
bác sĩ, y sĩ chăm sóc những bệnh thông thường cho bà con. Thành ra, khi có vấn
đề sức khỏe, người dân phải hoặc là đi bệnh viện huyện hay bệnh viện tỉnh. Cả
tỉnh chỉ có một bệnh viện đa khoa duy nhất (khoảng 1000 giường). Tuy số giường
không phải là nhỏ so với các bệnh viện Tây phương, nhưng v́ dân số liên tục gia
tăng, nên bệnh viện này càng ngày càng lâm vào t́nh trạng quá tải. Có khi, như
đề cập ở một bài viết khác, hai người bệnh phải nằm chung một giường!
Trong khi thu nhập của nông dân hết sức khiêm tốn, th́ chi phí chữa trị bệnh tật
lại cực ḱ đắt đỏ. Ngày nay, người dân không bị bệnh truyền nhiễm, mà những
bệnh liên quan đến ăn uống và thừa thải thực phẩm. Những bệnh thường hay gặp
nhất ở nông thôn ngày nay là: cao huyết áp, tiểu đường, khớp xương, tim mạch và
tai biến mạch máu năo. Mỗi lần đi khám bệnh, chi phí bác sĩ th́ không bao
nhiêu, nhưng cái toa thuốc kèm theo mới làm cho nhiều gia đ́nh điêu đứng, méo
mặt. Chẳng hạn như d́ tôi bị bệnh tiểu đường, mỗi lần đi khám bác sĩ đều có một
toa thuốc trị giá 600.000 đồng có thể dùng trong ṿng 1 tháng. Đó là chưa kể
các dịch vụ thử nghiệm khác, cũng tốn khoảng 100.000 đồng một lần. Một người
nông dân làm trung b́nh 1 tháng chưa chắc đủ tiền để trang trải toa thuốc này.
Chính phủ chẳng có tài trợ ǵ, người dân phải tự lo liệu lấy.
Nếu người dân bị bệnh và không có tiền th́ phải làm ǵ? Chịu trận, và có khi
chỉ đơn giản chờ chết. Cuộc sống thiếu thốn sản sinh ra nhiều thảm cảnh. Một
câu chuyện thương tâm xảy ra trong ḍng họ phía bên ngoại tôi. Mợ X bị bệnh đau
khớp xương, và qua biết bao lần chữa trị không hết, mà tiền th́ cứ cạn dần. Đến
lúc mợ thấy không muốn làm phiền và hao tổn con cái nữa, mợ quyết định treo cổ
tự tử chết. Hàng xóm nhà tôi là người gốc Khmer mà tôi quen gọi là Ư Hai. Ngày
xưa Ư Hai có khoảng 20 công ruộng; sau 1975 cũng c̣n nguyên vẹn, v́ gia đ́nh có
5 con. Mấy đứa con đều có gia đ́nh và chúng ra ở riêng, chỉ c̣n một ḿnh Ư Hai
ở trong căn nhà lá đơn sơ. Vài năm trước đây, Ư Hai bị bệnh khớp xương, nghe
nói là đau đớn lắm; Ư Hai cố gắng chịu đau, không chịu mua thuốc uống, v́ thuốc
đắt đỏ quá. Đến khi cơn đau lên cao, Ư Hai tự tử bằng cách lấy dao tự cắt cổ
ḿnh. Ư nghèo quá, đến nổi không có tiền mua ḥm để liệm. Nhà tôi và bà con
hàng xóm phải góp tiền để mua cho Ư Hai một cái ḥm để hỏa táng. Tôi nghe câu
chuyện mà rơi nước mắt, v́ Ư Hai là người rất tốt với tôi ngày xưa, lúc tôi rời
Việt Nam, nghe nói lúc nào Ư Hai cũng nhắc đến tôi; ấy thế mà khi đau bệnh, tôi
không biết để gửi thuốc men, và ngày Ư Hai qua đời, tôi không có dịp nh́n lần
cuối ...
Đời sống của người nông dân nói chung là một cuộc đấu tranh liên tục. Đấu tranh
chống cái nghèo. Đấu tranh chống lại tai họa thiên nhiên. Mấy năm trước đây là
họa ốc bưu vàng. Nay th́ sâu rầy đang làm bà con khốn đốn. Muốn chống lại sâu
rầy, bà con phải tiêu ra hàng nửa triệu đồng (một số tiền không phải là nhỏ) để
mua thuốc trừ sâu. Cái khó trong việc trừ sâu là càng dùng thuốc mạnh, th́ sâu
rầy càng biến hóa đề kháng thuốc, và nông dân càng dùng thuốc mạnh hơn. Mà nếu
dùng thuốc quá mạnh th́ sẽ làm cho chết cá, một mối nguy cơ đối với người nông
dân. Nói như một anh hàng xóm, “Sâu nó cũng như người ḿnh vậy, nó cũng t́m
cách thích nghi và sống sót, biết bao giờ mới xóa bỏ được nó.” Nhà nước có
chương tŕnh giáo dục về cách dùng thuốc trừ sâu, thậm chí có lệnh cấm dùng
những thuốc có hại đến cá và môi trường, nhưng bà con vẫn cứ liều, bị phạt th́
chịu, chứ để chết lúa th́ chắc là không. Các nhà khoa học nông nghiệp cũng khá
thành công trong việc nghiên cứu thuốc trừ sâu mới an toàn cho môi trường, nhưng
thường thường họ đi sau con sâu khoảng 1 đến 2 năm! Bài toán trừ sâu thật là
nan giải.
Với chi phí sản xuất càng ngày càng tăng, mà sản lượng lúa và giá lúa th́ gần
như chẳng có ǵ thay đổi, nên dẫn đến t́nh trạng thu nhập càng ngày càng ít.
Theo một thống kê mà tôi đọc được gần đây, mặc dù Đồng bằng sông Cửu Long là khu
vực dẫn đầu về sản xuất lúa gạo, nông sản, hải sản cho cả nước, và có lẽ cũng là
một trong những trung tâm sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới, nhưng các chỉ tiêu
kinh tế - xă hội ở đây nói chung c̣n thấp so với các vùng khác trong nước. Năm
1997 sản lượng lúa thu hoạch trong vùng là 14 triệu tấn (tăng gần gấp hai lần so
với năm 1974). Trong cùng năm, số lượng gạo xuất khẩu từ vùng ĐBSCL là 3 triệu
tấn, đem về 800 triệu Mĩ kim cho cả nước. Dĩ nhiên, một phần lớn của thành tích
này là do sự đóng góp từ nông dân vùng ĐBSCL. Nhưng trớ trêu thay, chỉ có 15%
số tiền này là đến tay người nông dân, một số lớn (45%) lại nằm trong tay các
công ty quốc doanh, và phần c̣n lại lọt về các tay trung gian buôn bán. Thật là
hết sức bất công!
Chả thế mà vùng đất vốn mang tiếng "thừa gạo", nhưng lại bị thiệt tḥi hầu như
trên mọi mặt, thua kém các vùng khác trên hầu hết mọi chỉ số về kinh tế và xă
hội. Thực ra, đối với phần đông bà con vùng ĐBSCL, hai chữ "thừa gạo" là một sỉ
nhục, hổ thẹn. Theo một nghiên cứu gần đây của trường đại học Cần Thơ, khoảng
60% dân số thiếu gạo ăn từ 4 tới 5 tháng. Hơn ba phần tư dân chúng vẫn c̣n ở
nhà tranh vách lá. Thu nhập quân b́nh của bà con trong vùng cũng thấp hơn cả
nước và không theo đuổi kịp tỷ lệ lạm phát. Thu nhập tính trên đầu người của bà
con vùng ĐBSCL hiện nay chỉ khoảng 500 Mĩ kim, thấp hơn một cách đáng kể so với
thu nhập của cả nước và nhất là so với dân thành thị (khoảng 1100 Mĩ kim).
Do đó, dù nông thôn ĐBSCL đă phát triển và c̣n đang phát triển nhanh, đời sống
dân khá hơn trước nhiều, trường học phát triển nhiều, hệ thống y tế cũng về đến
tận làng xă, v.v…. nhưng vẫn c̣n nhiều vấn đề cần giải quyết.
Nguyễn
Văn
Bài liên
quan: Ghi chép qua
một chuyến đi: Bia ôm
|
|