|
Bắt trẻ đồng xanh
Quán
Như
Bắt Trẻ Đồng Xanh và
Câu Chuyện Của Ḍng Sông được Phùng Khánh và Phùng Thăng dịch và do nhà xuất
bản Lá Bối phát hành khoảng năm 1964-65. Hai tác phẩm này một sớm một chiều được
thanh niên sinh viên thời bấy giờ chào đón nồng nhiệt và, cùng với một số tác
phẩm của Nhất Hạnh, đă tạo ra một không khí hứng khởi cho pḥng trào về nguồn,
trở lại nghiên cứu các giá trị tinh thần của dân tộc Việt Nam, nhất là Phật Giáo.
Nguyên tác
của Bắt Trẻ Đồng Xanh là quyển The Catcher in the Rye của J.D.
Salinger đă được xuất bản lần đầu từ năm 1951, nghĩa là hơn một thập niên trước
khi bản việt dịch xuất hiện. Tác phẩm được các nhà phê b́nh văn học trên New
York Times, San Francisco Chronicle, Philadelphia Enquirer và Times
khen ngợi như là một tác phẩm nổi bật nhất trong năm và nhân vật Holden
Caulfield dần dần trở thành thần tượng của thanh niên Mỹ trong nhiều thế hệ. V́
Holden Caulfield chửi thề luôn miệng và có khuynh hướng chống đối lại các giá
trị cổ truyền như Ki-Tô giáo, tờ báo The Christian Science Monitor và The
Catholic World chỉ trích Salinger cố t́nh cổ động cho một lối sống
“thiếu đạo đức”. Tuy nhiên những lời chống đối yếu ớt, dựa trên tiêu chuẩn luân
lư sắp sửa bị thanh niên Mỹ ruồng bỏ, không làm giảm mức độ hấp dẫn và chinh
phục độc giả của The Catcher in the Rye trong một thời đại mà bị
hấp lực của phong trào hướng về Đông Phương “Go East Young Men” vào các năm cuối
thập niên 50. Trong ṿng 3 tháng, The Catcher đă trở thành một tác phẩm
bán chạy nhất trong danh sách của tờ Times và tiếp tục qua mặt của các
tác giả cổ điển tài danh khác như James Jones, tác giả From Here to Eternity.
The Catcher đồng thời được xuất bản ở Anh và cũng được các nhà phê b́nh
Anh khen ngợi, mặc dù trước đó nhà xuất bản lo ngại độc giả Anh có thể có phản
ứng tiêu cực v́ lối văn “nói” và phương ngữ của Mỹ. Ba năm sau khi bản dịch
tiếng Việt của Phùng Khánh ra đời (1965), tức là vào năm 1968, the Catcher in
the Rye được xem như là một trong năm tác phẩm bán chạy nhất trong lịch sử
văn chương Mỹ kể từ năm 1895. Hiện nay mỗi năm vẫn c̣n 250 ngàn độc giả bỏ tiền
ra mua các ấn bản mới. The Catcher hiện nay được đưa vào danh sách các
tác phẩm giáo khoa dành cho học sinh trung học nghiên cứu. Năm ngoái khi đứa con
trai của tôi mới học lớp 9 được cô giáo bảo đọc và phê b́nh The Catcher,
tôi có hơi ghen tỵ với nó một chút. Cũng như các thanh niên thời đó, tôi chỉ
được đọc The Catcher sau khi đă học xong đại học, qua bản dịch của Phùng
Khánh. Tôi cho đứa con mượn toàn bộ tác phẩm của Salinger, cùng với các tác phẩm
phê b́nh và hồi kư của đứa con gái Salinger, bà Margaret. Tôi thú nhận là hể có
ấn bản mới của The Catcher phát hành là tôi mua để trên kệ sách và hiện
có ít nhất là bốn ấn bản The Catcher khác nhau. Đứa con tôi hạ một câu “You
are crazy, Dad!” Nó không hiểu được mức say mê của thế hệ trẻ chúng tôi bấy
giờ đối với Holden và Phoebe, và riêng tôi, tôi cám ơn Phùng Khánh rất nhiều.
Nhân vật
chính, Holden Caulfield, lấy từ tên của một cô đào chiếu bóng sau thế chiến thứ
hai, Joan Caulfiel, mà Salinger xem như là người “trong mộng”. Holden
Caulfield, mới 16 tuổi, cũng như các thanh thiếu niên khác, đang trải qua cơn
khủng hoảng tâm linh. Anh vừa biết tin bị đuổi khỏi trường v́ thi rớt tất cả mọi
môn, trừ môn Anh ngữ. Ông Hiệu Trưởng sẽ gởi thư báo tin cho cha mẹ anh vào ngày
thứ Tư, ngày cuối niên khóa. Tuy nhiên Holden quyết định rời trường vào chiều
thứ Bảy và lấy xe lửa về New York. Anh không thể về nhà ngay được v́ sợ cha mẹ
khám phá anh lại bị đuổi. Holden cảm thấy bất an, khủng hoảng và cô đơn giữa đám
người mà anh gọi là những phony bastards, giả dối, kệch cỡm, lố bịch, đạo
đức giả. Lang thang giữa thành phố New York, anh chợt nhớ đến mấy con vịt trong
hồ Central Park vào mùa Đông. Anh t́m cách gợi chuyện với nhiều người lạ, với
người tài xế tắc-xi, lục sổ điện thoại để rủ một người mà anh mới biết đi uống
rượu. Vào quán rượu với một cô bạn gáí, gây gỗ nặng lời và say lướt khướt. Tựa
The Catcher in the Rye lấy từ một câu trong bài hát của Robert Burns “Nếu
một người nào bắt được một người nào chạy ra từng cánh đồng lúa”.
Tôi
tưởng tượng có nhiều đứa trẻ đang chơi một tṛ chơi nào đó trên một cánh đồng
lúa lớn. Hàng ngàn em, hàng ngàn em đều nhỏ như nhau, không có một người lớn nào
ở gần đó - trừ tôi. Công việc duy nhất của tôi là chờ sẵn ở đó và hễ khi có một
em nào vô ư sẩy chân và sắp sửa rơi xuống từ vách đá, tôi đứng sẵn ở đó và dơ
tay đón bắt từng em. Cả ngày tôi chỉ làm chừng nấy công việc. Tôi chỉ làm công
việc bắt trẻ đồng xanh. Tôi biết đó là một điều điên rồ, nhưng đó là công việc
duy nhất mà tôi thích làm!
Bảo
vệ các em khỏi ngă xuống vách đá có nghĩa là bảo vệ sự ngây thơ thuần khiết để
các em, để khi “lớn lên” các em đừng biến thành phonies như biết bao
người mà Holden đă gặp. Holden rất cô đơn mặc dù sống ngay giữa thành phố không
bao giờ ngủ, New York. Holden không có người nào khả dĩ gọi là bạn thân trên
đời. Khi cô em gái Phoebe thách thức Holden, yêu cầu anh cho biết tên một người
mà anh thích nhất. Holden ấp a ấp úng, cuối cùng nhắc tới một người em trai đă
qua đời. Khi Phoebe hỏi lớn lên anh thích làm nghề ǵ, Holden nhắc tới công việc
điên rồ là bắt trẻ đồng xanh. ****
Cũng như
thế hệ hippies vào các năm 60, Holden không phải là người lạnh nhạt, quay
mặt lại với đời sống. Trái lại anh yêu vô cùng đời sống, trang trọng và nhạy cảm
đối với người khác, yêu tuổi thơ và muốn sống vô tư, tự nhiên và trung thực. Anh
chống đối các h́nh thức trói buộc về luân lư và xă hội do chính những phonies
đặt ra. Cả một thế hệ yêu cuồng sống vội, váy ngắn tóc dài không phải là một thế
hệ thiếu lư tưởng hay thấy đời sống vô nghĩa, đó chỉ là một thái độ phản kháng
quyết liệt lại những phonies mà họ kinh tỡm. Chính ra thế hệ hippies
là những người vô cùng nhạy cảm, nhất là đối với những khổ đau của người khác.
Họ bắt đầu thấy thấp thoáng anh sáng Châu Á và kỳ lạ thay, họ sống như những
Phật Tử, bởi không ai có thể tự gọi ḿnh là Phật Từ nếu không nhạy cảm với những
khổ đau của người khác. Nếu không nhạy cảm với người khác, làm sao các thanh
niên Mỹ vào thập niên 60 và 70 dám hy sinh chuyện học hành, sự nghiệp, cả đến
mạng sống, xuống đường biểu t́nh chống chiến tranh, đem hoa cài trên đầu họng
súng, thách thức các toán Vệ Binh Quốc Gia “Make Love, Not War”.
Có tới ba
lần trong The Catcher, Holden tỏ ư ‘lo lắng’ cho mấy con vịt trong hồ ở
công viên Central New York. Lần thứ nhất trong khi ông giáo dạy Sử, già lụ khụ
giảng luân lư, Holden lơ đăng và trong ḷng băn khoăn không biết khi mặt hồ bị
đóng băng, mấy con vịt đi về đâu. Không biết có ai đem xe chở mấy con vịt về một
chỗ trú ẩn nào khác hay chúng phải tự bay đi như các loài di điểu khác! Hai lần
sau Holden nhắc mấy con vịt với hai người tài xế tắc xi. Người tài xế thứ nhất
nghi ngờ cậu bé tâm thần bất thường, xẳng giọng: “Cậu nói nhăng nói cuội ǵ vậy?
Bộ giỡn hả?” Người tài xế thứ hai tử tế hơn, tuy nhiên lúng túng v́ câu hỏi ngớ
ngẩn: “Ai? Đi đâu? Ai để ư làm ǵ mấy chuyện lẩm cẩm như vậy!” Tuy nhiên người
tài xế này sau đó bàn luận với Holden về một chuyện ngớ ngẩn khác: mấy con cá
trong hồ làm ǵ trong mấy tháng mùa Đông. “Chúng không đi đâu cả, chúng bị đông
cứng và ở yên một chỗ cho đến hết mùa Đông!” Câu đối thoại của hai người điên?
Trên đời này mấy người có th́ giờ quan tâm tới số phận của mấy con vịt và mấy
con cá trong hồ vào mấy tháng mùa Đông như Holden!
Lúc c̣n trẻ
luôn hăm hở xông vào con đường công danh sự nghiệp, hay mơ tưởng mấy người đẹp
da trắng tóc dài, tôi cũng có kết luận tương tự khi đọc các bài thơ Đường, như
bài Xuân Hiểu của Mạnh Hạo Nhiên:
Dạ lai phong vũ thanh
Hoa lạc tri đa thiểu
Đêm qua mưa gió tơi bời
Biết rằng hoa cũng có rơi ít
nhiều.
(Trần Trọng Kim dịch)
Mấy ông thi
sĩ đời Đường không có chuyện ǵ làm sao lại lo cho mấy chùm hoa rụng đêm qua?
Ai
cũng biết các đệ tử của Phật lúc đi khất thực phải cúi nh́n xuống đất để tránh
dẫm lên các côn trùng. Trong mùa mưa họ phải ở lại tịnh thất vừa để tu tập, vừa
tránh đi ra ngoài đường mấy tháng mưa, mùa côn trùng ḅ lên sống ngổn ngang trên
mặt đất. Nếu ai nghĩ Đức Phật lo lắng thái quá cho các loài côn trùng sâu bọ, sẽ
c̣n bị “sốc” hơn nữa khi Đức Phật dạy các đệ tử trước khi uống một ly nước lạnh,
phải niệm chú văng sinh cho 64 ngàn vi sinh vật sống trong đó. Holden và người
tài xế tắc-xi chỉ lo lắng cho mấy con vịt và con cá xem ra c̣n đở “lẩm cẩm” hơn
Đức Phật! Chừng nào chưa hiểu đức “hiếu sinh’ của tư tưởng Đông Phương, hay vẫn
c̣n đem tâm để h́nh hài sai khiến, nhiều người vẫn c̣n xem mấy chuyện này là mấy
chuyện lẩm cẩm!
Holden dĩ
nhiên không những nhạy cảm với mấy con vịt, anh cực kỳ nhạy cảm với những người
chung quanh, dù biết họ là những phonies. Anh lúc nào cũng rộng răi với
bạn bè, sẵn sàng cho họ mượn những vật dụng riêng tư của ḿnh, kể cả Stradlater,
người bạn cùng pḥng mà anh đă đánh lộn. Sở dĩ anh đánh nhau với tên này chỉ v́
anh nghi ngờ y dở tṛ chim chuột sở khanh với một cô láng giềng cũ. Và cô ngày
chỉ là một cô láng giềng, chớ không phải bồ bịch ǵ của anh.
Khi gặp hai
bà sơ ở gần nhà ga, anh đề nghị tặng hai bà sơ 10 đồng (hơn nửa số tiền mà anh
có trong túi) mặc dù hai bà sơ chỉ đi nhận nhiệm sở dạy học, chớ không có đi
quyên tiền. Sau đó Holden cứ ân hận măi về chuyện anh hổn láo phà khói thuốc vào
mặt hai bà sơ.
Đêm Chủ
Nhật, sau khi lẻn về thăm Phoebe, Holden gọi điện thoại cho một thầy cũ để xin
ngủ nhờ một đêm. Ông là người duy nhất trong cuốn truyện mà Holden thích và kính
trọng. Holden trước đó chứng kiến cảnh ông thầy săn sóc một học sinh bị một nhóm
học sinh du đảng khác uy hiếp, đến nổi phải nhảy xuống lầu. Chính ông này đă tự
cởi áo đắp lên người nạn nhân và mang em đến bịnh xá cấp cứu, trong khi các
người khác cố t́nh lảng tránh. Nửa đêm khi Holden giật ḿnh tỉnh dậy, anh cảm
thấy bàn tay của ông thầy mà anh kính mến đang mân mê trán ḿnh. Có thể ông thấy
là một thứ bi-sexual pervert thứ thiệt, nhưng Holden cứ băn khoăn sợ ḿnh có
hiểu lầm thái độ của thầy không.
Trong
The Catcher, anh đă châm biếm, chế diễu, chửi thề những phonies
này.Thế nhưng Holden không hề ghét bỏ mà chỉ thương hại họ. Đến cuối quyển sách,
Holden hối tiếc việc anh đă kể một câu chuyện dính líu tới nhiều người. Anh c̣n
cảm thấy “nhớ” tất cả mọi người mà anh nhắc tới trong chuyện, kể cả tên ma cô
Maurice.
Một nhà văn
khác cũng nhắc đến sự thanh khiết của trẻ em là Saint-Exupéry trong The
Little Prince. Tuy nhiên Hoàng Tử Bé của Saint-Exupéry đến từ một tinh cầu
khác. Sự tương phản giữa hồn nhiên và “ người lớn” của Saint-Exupéry có tánh
cách triết lư hơn. Đó là sự khác nhau giữa những ǵ cao cả và tầm thường của đời
sống. “Người lớn” bị đời sống điều kiện hóa, không c̣n có cái nh́n trong sáng
như trẻ con, mà chỉ thấy toàn những con số. Khi trẻ con mô tả một căn nhà gạch
hồng, với giàn hoa phong lữ đỏ thẫm trên khung cửa sổ, có các con bồ câu đang
gật gù trên mái nhà, người lớn chỉ quan tâm xem căn nhà đó trị giá bao nhiêu
tiền. “Người lớn” là một người chưa bao giờ ngữi thấy mùi hoa bưởi hoa cau, chưa
hề “thấy” trăng sao, chưa bao giờ nh́n rơ khuôn mặt người thân. “Người lớn” là
những người mù v́ không bao giờ chịu nh́n người khác và sự vật bằng tâm hồn của
ḿnh. Saint-Exupéry cũng cho Hoàng Tử Bé về quê nhà ở một tinh cầu xa bằng ẩn dụ
con rắn trong vườn địa đàng, khi con người đánh mất hồn nhiên.
Salinger,
hay Holden, trái lại đang sống trong cơi ta bà, giữa thành phố New York, một
thành phố tự hào là không bao giờ biết ngủ. Nhưng Holden cũng cô đơn không kém
ǵ Saint-Exupéry trong sa mạc Sahara, nếu không muốn nói là c̣n cô đơn hơn.
Holden hầu như không kết thân được với ai, kẻ cả cha mẹ và ngưói anh cả. Trong
đời này nếu c̣n có người nào mà anh c̣n có thể thân cận được, đó là cô em Phoebe
và có lẽ một người nữa, Allie, đứa em trai đă mất. Hai người đó là hy vọng cuối
cùng của Holden ở cơi ta bà này.
Phoebe là
người duy nhất dám thách đố Holden và Holden phải chịu khó trả lời. Khi bị
Phoebe căn vặn yêu cầu Holden cho cô biết tên một người hay một việc nào anh
thích, Holden không nghĩ ra được một người nào. Cuối cùng anh phải chống chế,
nhắc đến Allie, và Phoebe. Khi có ư định muốn bỏ đi một nơi thật xa, Phoebe là
người duy nhất mà Holden muốn đến từ giă trước khi lên đường đi t́m giấc mộng.
Và Phoebe cũng là người duy nhất làm anh khóc sướt mướt khi cô bé đưa cho anh
“mượn’ tất cả tiền mà cô được cha mẹ cho trong dịp lễ giáng sinh. Có lẽ cô bé
đếm tiền từng xu, từng ngày. Cô nói: “Đây, tám đồng tám mươi lăm xu”. Nhưng
Phoebe đính chánh ngay: “Tám đồng sáu mưới lăm xu! Em có tiêu một ít rồi!”
Th́nh
ĺnh tôi bật khóc làm nhỏ Phoebe sợ quá. Nhỏ Phoebe choàng tay và dỗ dành cho
tôi nín, nhưng một khi bắt đầu khóc, không ai có thể ngừng được. Phoebe choàng
tay ôm tôi và tôi cũng choàng tay ôm cô bé và một lúc lâu sau tôi mới nín khóc
được.
Người thứ
hai Holden có thể “nói chuyện” được là Allie, đứa em đă qua đời. Sau khi ngủ một
đêm ở nhà ga, Holden đi dọc theo đại lộ Thứ Năm, để đến bảo tàng viện chờ em.
Holden có thể đă bị trăi qua quá nhiều biến cố trong hai ngày, tinh thần của anh
như một dây đàn căng thẳng quá độ. Khi băng qua đường anh có một ảo giác là anh
sẽ không bao ǵờ đến được lề bên kia. Anh có cảm tưởng anh càng ngày càng lún
dần, lún dần và cuối cùng biến mất không c̣n ai thấy anh nữa. Gate, gate,
para samgate. Và anh đă làm một chuyện mà từ trước tới giờ anh chưa hề làm.
Khi gần tới bờ bên kia, anh “khẩn cầu” Allie: “Allie đừng để anh biến mất. Allie
đừng để anh biến mất”. Và khi đến bờ bên kia, Holden nói: “Cám ơn em, Allie”.
Bodhi-sattva. Khi qua được bờ bên kia, Holden ngồi xuống một băng đá và
quyết định sẽ không về nhà nữa, sẽ bỏ đi một nơi thật xa, một nơi không có ai
biết anh. Anh sẽ giả làm một người vừa câm vừa điếc và như thế anh sẽ không cần
phải nói chuyện với bất cứ một người nào khác. Anh sẽ dành dụm tiền để xây một
căn nhà gỗ ven rừng, và nếu có muốn lập gia đ́nh, anh sẽ lấy một người đàn bà
đẹp, cũng vừa câm vừa điếc khác. Và trong lúc đó chỉ có một người duy nhất trên
đời mà anh muốn đến từ biệt là Phoebe.
Đoạn cuối
tả cô bé Phoebe xách va-li cũ cồng kềnh để đi theo anh về miền rừng núi Colorado
là một đoạn văn tuyệt đẹp, theo tôi, c̣n xúc động hơn đoạn văn tả cảnh biệt ly
giữa Saint-Exupéry và Hoàng Tử Bé. Phoebe giận anh v́ lần đầu tiên bị Holden
mắng “câm miệng lại”. Phoebe đi bên kia đường trong khi Holden đi bên này đường,
hướng về phía sở thú. Nhưng hai người luôn trông chừng nhau v́ sợ lạc. Khi đến
chổ có tṛ chơi cỡi mấy con ngựa gỗ, Phoebe hết giận anh và lên cưỡi ngựa. Trời
bỗng đổ mưa như trút nước. Holden ngồi trên băng đá “Người tôi ướt đầm đ́a.
Nhưng tôi bất cần. Th́nh ĺnh tôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Như trong
lời hát của một bản nhạc phản chiến vào các năm 60 “It’s Happening Now”.
Giả sử như một người chợt ngộ, họ có cảm giác như thế nào? Tôi nhớ trận mưa rừng
Nhất Hạnh đă tả trong Nẻo Về Của Ư.
Phùng Khánh
dịch tác phẩm Câu Chuyện Của Ḍng Sông của Herman Hess là điều dễ hiểu.
Nhưng Bắt Trẻ Đồng Xanh? Trong câu chuyện, Holden cũng như các thanh
thiếu niên mới lớn khác văng tục “không ngừng da non”, nghịch ngợm phá phách đủ
mọi cách, đánh nhau. Trong hai ngày ở New York, Holden giả “người lớn” vào quán
rượu, say sưa, kêu một cô gái giang hồ lên pḥng vân vân… Tôi tưởng tượng nỗi
bối rối của Phùng Khánh khi phải t́m một chữ để dịch các tiếng chửi thề
“goddamn” “Phony bastards” “my ass”…Tôi không nghĩ Phùng Khánh chỉ muốn dịch một
tác phẩm ăn khách. Bắt Trẻ Đồng Xanh không phải chỉ phản ảnh sự khủng
hoảng của một thanh niên mới lớn như Holden nhưng c̣n phản ảnh tâm trạng bất
an của thanh thiếu niên Mỹ (và Âu Châu) lúc bấy giờ. Họ dần dần đánh mất
niềm tin vào những giá trị cố hữu. Giữa thập niên 50 nhờ các công tŕnh của D.T.
Suzuki, nhất là bộ Thiền Luận và các hoạt động của American Zen Centre,
Phật giáo đă bắt đầu ảnh hưởng khá nhiều đến thành phần thanh niên, trí thức,
khao khát đi t́m ánh sáng Phương Đông. Tác phẩm On the Road của Jack
Kerouac phản ảnh phong trào thanh niên lên đường thời đó: một ba-lô trên vai,
một ít tiền, đưa ngón tay cái chỉ lên trời xin quá giang đi khắp nước Mỹ,
đi qua biên cương nước Mỹ, tới Ấn Độ, Tây Tạng, Sri Lanka, Nepal, Nhật và Đại
Hàn để “tầm đạo và học đạo.” (Nhà văn Lưu Nhơn Nghĩa có nhắc đến một nhà sư
người Đức đến Việt Nam) Đó là các thế hệ mà chúng ta quen gọi là Hippies,
“Đông Du Kư”, sống h́nh như không có ngày mai. Đó là những “tân tăng” phản đối
những qui thức xă hội Tây Phương, chống đối chú trọng quá nhiều tư hữu, kể cả tư
hữu t́nh ái. Họ sống trong lục hoà Make Love, Not War. Trong số những
“tân tăng” này, có người thọ giới, rồi cởi áo, lập gia đ́nh, lập thiền viện,
sáng tác, nghiên cứu và sau 20 năm, họ đă trở thành những nhà văn lớn, nhà thơ
nổi tiếng, xuất bản những công tŕnh nghiên cứu qui mô về đạo Phật. Họ thuộc về
thế hệ thường được gọi là Beat Generation. Họ đă trở thành những sa- môn
hộ pháp đắc lực trong việc truyền bá Đạo Phật trên đất Mỹ và Tây Phương. The
Catcher in the Rye không những phản ảnh cái tâm bất an của thanh niên mới
lớn như Holden nhưng cũng phản ảnh cho mối bất an chung của một thế hệ bắt đầu
nghi ngờ và thẩm định lại một số các giá trị Tây Phương, nhất là các tôn giáo tổ
chức cổ truyền, như Ki-Tô và Do Thái giáo. Không ai lấy làm lạ khi thấy thanh
niên Mỹ mê Holden, mê Salinger, mê Kerouac và mê … James Dean. Đó là thời mà Tổ
Đạt-Ma xuất hiện trong các bồ tát hoá thân, đă hỏi thanh niên Mỹ: “Các cậu đưa
tâm ra đây để tao an cho.”
Salinger là
một nhà văn có cuộc đời bí hiểm và khó hiểu nhất, so với những nhà văn Mỹ khác.
Sau The Catcher ông viết thêm một tuyển tập truyện ngắn và một chuyện dài
khác, Seymour, An Introduction và khi danh vọng đang lên như diều và tác
phẩm bán chạy nhất trong lịch sử văn chương Mỹ, ông đă không xuất bản thêm một
tác phẩm nào khác, hoàn toàn cắt đứt liên lạc với thế giới bên ngoài. Có lẽ ông
theo gương Tổ Đạt-Ma, ngồi diện bích từ hơn 40 năm nay trong một trang trại ở
Cornish, Colorado.
Con gái của
Salinger, bà Margaret, trong Dream Catcher, gần đây đă hé lộ một vài quan
niệm về sáng tác và đời sống cuả ông. Đối với ông, “viết văn là một cuộc hành
tŕnh đi t́m giác ngộ?” và ông muốn dành cả cuộc đời để thực hiện một tác
phẩm lớn, và tác phẩm này không ǵ khác hơn là chính cuộc đời của ông. Như Rilke
hay Holderlin, viết văn và làm thơ là một cách sống, một cách ở đời,
không phải là một tṛ nhai văn nhá chữ, kể lể nhảm nhí. Và nói theo thuật ngữ
của Phật Giáo, đó là một “pháp môn”. Margaret cũng tiết lộ là Salinger có lần dự
định “xuất gia” thành một tỳ- kheo, đă từng làm bạn với D.T. Suzuki, từng ngồi
thiền nhiều lần có lẽ dưới sự hướng dẫn của Suzuki tại thiền thất Thousand
Islands. Tuy nhiên, Margaret kể, Salinger bổng nhiên đổi cách tu tập, theo một
pháp môn Ấn giáo Vedanta, dưới sự hướng dẫn của tu sĩ Bà-La-Môn, Swami
Nikhilananda. Trong khi Phật giáo khuyến khích sa-môn nên dành cả cuộc đời tu
tập bằng cách “cát ái từ thân”, tuy nhiên không có thái độ quyết liệt về t́nh
dục như giáo lư Vedanta. Đạo Phật cũng kính trọng phụ nữ (Ma Đằng Gia Nữ sau này
cũng thành một đệ tử của Phật và là sư đệ của A Nan!), trong khi phái Vedanta
xem “vàng và phụ nữ” là những trở ngại lớn lao cho việc giác ngộ. Có lẽ v́ thế
các nhân vật của Salinger ít “phóng túng” hơn các nghệ sĩ trong Thiền Beat
sau này.
Salinger
từ nhỏ nghĩ ḿnh gốc Do Thái, nhưng sau đó khám phá bên mẹ thuộc di dân Ái Nhỉ
Lan Thiên Chúa giáo. Sau thế chiến thứ hai, di dân Do Thái và Ái Nhỉ Lan ở Mỹ
vẫn c̣n bị kỳ thị nặng nề. Trong một vài khu thương mại ở Brooklyn New York,
trên cửa sổ của các cửa hiệu vẫn c̣n trưng bày những thông báo “cấm dân Do Thái
và Thiên Chúa” không được vào. Trong The Catcher, Holden nhiều lần
lo lắng bị người khám phá anh không phải là người Thiên Chúa giáo. Khi anh gặp
hai bà sơ, anh lo sợ hai bà sẽ hỏi về tôn giáo của anh. Ảnh hưởng của ánh sáng
Đông Phương, nhất là Phật giáo, trong các năm đầu thập niên 50 (Bắt Trẻ Đồng
Xanh phát hành lần đầu năm 1951) mở cửa cho một thời kỳ mà nhiều học giả gọi
là thời chuyển pháp luân lần thứ Tư, phần lớn ở Tây Phương, nhờ những nhà văn
hippies này. Đây là thời kỳ Phật giáo không c̣n được xem như những công
tŕnh nghiên cứu kinh viện của các học giả già lụ khụ. Phật giáo hiển hiện như
một đoá hoa nhiều mầu sắc rực rỡ, đầy thách thức và có sức hấp dẫn mời gọi. Các
hộ pháp thường không phải là các nhà sư nghiêm trang trong chiếc áo tràng, mà là
các văn nghệ sĩ On the Road. Các học giả Beat sau này đă
trở thành những giáo thọ hay học giả Phật giáo nổi tiếng, như Robert Aiken và
Philip Kapleau. Nhưng nhóm văn nghệ sĩ chịu ảnh hưởng của Thiền trong sáng tác
đă định tính cho mối liên hệ giữa văn nghệ và Phật giáo. Các văn nghệ sĩ Beat
đă mở cửa cho một nhân sinh quan mới, một lối sống ngông cuồng kiểu Hippies,
nổi loạn và phá vỡ những khuôn khổ ước lệ “đạo đức giả” cùng một lối sáng tác
cực kỳ phóng túng. Ba người khai sáng phong trào Beat sau này đă trở
thành những nhà văn, nhà thơ nổi tiếng cũng như là những vị chuyển luân pháp
vương thời đại của nước Mỹ. Jack Kerouac, sau On The Road, biểu trưng “cho
thế hệ thanh niên Mỹ vào thập niên 50 sống loạn cuồng trong âm nhạc và t́nh dục,
thách đố các khuôn mẫu cũ kỷ”. Thế hệ Hippies chủ trương “Make
Love, Not War” sau này cũng là thành phần chủ lực của pḥng trào sinh viên
phản chiến Mỹ. Đây là những Dharma Bums, tạm dịch là những Phật Tử
hippies, cà nhơng, lờ quờ (chữ của sinh viên trong phong trào
tranh đấu 63-66 hay dùng để đùa với nhau). Gary Snyder chủ trương vừa thực tập
thiền quán vừa làm t́nh tập thể, sau đó cặm cụi ngồi dịch thơ Hàn San, ông sư đă
khắc các bài thơ trên vách núi để vượn và khỉ đọc! Cô Tô thành ngoại Hàn Sơn
Tự. Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền. Khi đến tuổi tri thiên mệnh, Snyder
tổ chức một thiền thất, vẫn tiếp tục dịch thơ Hàn San và được trao giải Pulitzer
về thơ năm 1974. Thi sĩ Ellen Ginsberg được xem như một Walt Witman. So với các
tác phẫm của Beat, Bắt Trẻ Đồng Xanh c̣n quá hiền lành. Khi làm
việc ở Vạn Hạnh, tôi thấy có một quảng cáo Thiền Beat, Thiền
Square trên tập san Tư Tưởng. Tuy nhiên quảng cáo này biến mất ngay
số sau đó và không bao giờ xuất hiện cả. Các tăng già Việt Nam ở thập niên 60,
tuy “cấp tiến” về mặt hành động, nhưng cũng giống như các thiền sư ḍng Thiền
Square chính thống, tâm tư chưa đủ chín mùi để chấp nhận các bồ tát
hippies. Ngay cả một học giả “lăo thành” của Thiền Square, Alan Watts,
chỉ trích các văn nghệ sĩ Beat là quá phóng túng. So với các phẩm “mặn”
như Dharma Bums, The Catcher “chay’ hơn nhiều. Holden Caulfield
tuy chửi thề luôn miệng, tuy ḷng có bất an, nhưng lúc nào cũng thương cảm người
khác, luôn cố gắng bảo vệ chân tâm hồn nhiên trong trắng. Đến nay vẫn c̣n nhiều
thiền sư Square, chưa chấp nhận Holden, tảng lờ như không biết đến dịch
phẩm Bắt Trẻ Đồng Xanh trong sự nghiệp của Phùng Khánh. Dám bỏ công dịch
tác phẩm này, Phùng Khánh ngày xưa (1965?) cũng đă “gồng” ḿnh lắm rồi.
T́nh trạng
tinh thần của thế hệ thanh niên Việt Nam vào thập niên 60, theo tôi, cũng tương
tự như tâm trạng các thanh niên Mỹ mười năm trước đó. Sau khi chánh phủ Diệm bị
lật đổ, phong trào đọc Thiền, nghiên cứu triết lư Thiền, thực tập Thiền, làm thơ
Thiền được phát động rầm rộ. Phật Tử, nhất là những người thuộc phong trào sinh
viên, văn nghệ sĩ và trí thức, rủ bỏ được một gánh nặng ngàn cân của các h́nh
ảnh ảnh tiêu cực về Phật giáo, những nghi lễ nặng nề, những cách tu tập mê tín.
T́nh trạng này một phần do ư đồ của các thế lực thân thực dân, một phần do chính
những người hoằng pháp không dám “đổi mới” để đủ khế cơ thu phục ḷng tin của
thế hệ thanh niên lúc bấy giờ. Thoát nhiên những tác phẩm với cái nh́n “đợt sóng
mới” hợp với tâm thức những người trẻ, khiến đạo Phật xuất hiện như cành hoa
thược dược “mỉm nụ nhiệm mầu”. Nụ nhiệm mầu đă hiện diện từ khi Ca Diếp “niêm
hoa vi tiếu” nhưng chưa đủ khế thời để nở rộ trong đám thanh niên tân học. Các
văn nghệ sĩ Phật Tử tụ họp trên các tờ Hải Triều Âm, Giữ Thơm Quê Mẹ,
các nhà nghiên cứu trẻ trên tờ Tư Tưởng Vạn Hạnh, đó là chưa kể đến những
nhà thơ đánh vơ “vô chiêu” như Bùi Giáng, nói pháp mà không hề dùng pháp ngữ và
pháp thoại của đạo Phật. Hay những bài thơ “hữu chiêu” của Phạm Thiên Thư nồng
nàn không thua ǵ các bài thơ của Tô Man Sự. Trụ Vũ đă nhận xét “Ḥn sỏi nào
cũng thuyết Pháp Hoa Kinh”, hay như Phạm Duy “một cành củi to, một tờ lá uá, một
hạt bụi mờ” cũng là Pháp. Đó là Beat Generation của Việt Nam, tuy không
có loạn cuồng như các người đồng thời ở Tây Phương.
Chị Phùng
Khánh ơi, tôi không muốn kêu chị là Sư Bà, là Ni Trưởng, chỉ muốn kêu chị bằng
chị Phùng Khánh. Tôi nhỏ hơn chị vài tuồi và là bạn của Phùng Thăng. Tôi
rất vừa ư với lời phân ưu trên Chuyển Luân do anh Hoàng Nguyên Nhuận thảo
ra. Anh Nhuận bày tỏ sự thương tiếc một người chị của thế hệ 63. Những
danh xưng Sư Bà, Ni Trưởng, Ḥa Thượng, Pháp Sư hay Thượng Thủ nặng nề quá, chị
mang theo làm chi cho mệt. Hơn nữa một Bồ Tát hoá thân như chị không nên lẫn lộn
với một số Hoà Thượng, Hội Chủ, Thượng Thủ hay Pháp Sư phonies làm ǵ. Để
chỉ thảnh thơi, nhẹ nhàng bắt trẻ đồng xanh với cái tâm không phân biệt.
Trong đời hành đạo, tôi nghĩ chị cũng có lúc gặp nhiều phony bastards như
Holden đă gặp. Nhưng ai chị cũng bắt, cũng cứu. Bồ Tát mà c̣n phân biệt th́ đâu
c̣n Bồ Tát nữa. Đối với chị ai cũng là trẻ đồng xanh, cần bắt khi
họ rơi khỏi vách đá. Chúng sanh vô biên thề nguyện độ.
Tôi nghĩ đó là công
việc duy nhất mà chị cũng như Holden muốn làm, ở bên này bờ, cũng như ở bên kia
bờ. Happy Catching, chị Phùng Khánh.
Quán Như
Sách đọc trước khi viết:
-R. Fields. How the Swans
Came to the Lake. Shambala, Colorado, 1981.
-I. Hamilton. In Seach of
J.D. Salinger. Heinemann London, 1988.
-C. Ingram. In The Footsteps
of Gandhi. Parallax Press, California, 1990.
-J. Kerouac. On the Road.
Penguin Books, ấn bản 1991.
-J. Kerouac. The Dharma Bums.
Flamingo, 1994.
-A. Saint-Exupéry. The
Little Prince. Penguin Books, 1998.
-J.D, Salinger. The Catcher
in the Rye, Penguin Books, ấn bản 1994.
-M. A. Salinger. Dream
Catcher. Washington Square Press, New York, 2000.
-Tricycle, The Buddhist
Review, Fall 1995. Fourth Anniversary edition.
|
|