WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 01/2004

 Lên tiếng thay cho người làm thinh          

Nguyễn văn Lục 

On admettra qu1il aurait été imprudent de décrire la Révolution Francaise vers  1793  en se  contentant d!écouter les émigrés de Coblence  de Londres ou de  Gand. 

Jean Lacouture

 

    Hệ lụy của lịch sử thật là buồn. Năm 1867, Cụ Phan [1]  đă giao 3 tỉnh miền Tây nộp cho Pháp. Sau đó cụ đă sai người về Kinh đô giao nạp áo măo và dâng sớ tâu lên vua Tự Đức rằng cụ không cản nổi thế giặc “Bổn chức đáng tội chết“. Sau đó, cụ đă uống thuốc độc tự vẫn. Mới mất có ba tỉnh chưa hẳn là mất nước. Thế giặc lại mạnh. Sức một nhà nho làm được ǵ. Vậy mà cụ đă lấy cái chết để tạ tội. Người đời sau đọc đến đây chỉ thấy  buồn và dấy lên một niềm kính trọng. 

     Đối với lịch sử dài vài ngàn năm, 100 năm hay nói đúng hơn 108 năm có là bao. Hết Pháp đến Mỹ để rồi cuối cùng để rơi vào tay người Cộng Sản. Nhưng người trực tiếp ở vào cái thời điểm lịch sử đó, 1975, là một viên tướng đă  từng được  mệnh danh là  "anh hùng rừng Sát” đă phải nhận lănh trách nhiệm bội bạc: Tổng Thống 48 giờ cuối cùng của Việt Nam Cộng Hoà. Ngày nay, có người cho ông là một “hàng Tướng”, dĩ  chí c̣n  cho ông là người có trách nhiệm trực tiếp làm mất miền Nam Việt Nam. Một cuộc đầu hàng không điều kiện (unconditional surrender. Stephan Young trong Wall street journal 02-08-1995 ). Thật ra, cái mất phải kể từ khi người Mỹ buộc VNCH phải ngồi vào bàn Hội Nghị Paris từ mấy năm trước. Cái lỗ kim hy vọng của miền Nam đă nhỏ từ lúc kư  Hiệp Định Ba Lê lại càng nhỏ thêm . Cái mất th́ quá lớn, nặng quá đút măi cũng không vừa qua lỗ kim nhỏ. Cái c̣n lại là sự tuyệt vọng, là sự hoảng sợ của một cuộc tháo chạy đến kẻ thắng trận cũng sửng sốt ngạc nhiên [2].   

    Cuộc tháo chạy [3] về tâm lư hẳn có hai mặt : bôi xấu hoặc tô hồng, hoặc đổ lên đầu một người chịu hết trách nhiệm cho việc ra đi của ḿnh- con dê tế thần  [4]. Cái mà người viết  gọi chung là “những Huyền thoại về người di tản” trong đó  lẫn lộn cuộc sống giả và thực. Lấy cái thực, cái có, cái được làm như  là giả và lấy cái đă mất, cái chỉ c̣n là hoài niệm quá khứ làm như là thật bằng cách tô vẽ nó. Cuộc sống có hai mặt như trong một tṛ chơi bạc giả.  Như Jean Baubrillard viết: “When the real is no longer What is used to be, nostalgia assume its full meaning. There is a proliferation of myth of origin and sign of reality, of second-hand truth. And there is a panic-striken production of the real and the referential”. 

    Và đến chỗ có thể nói được rằng  chính  hoài niệm quá khứ đă được tô hồng  là cái căn cước của người Việt di tản. Cái đă làm nên chúng ta và giúp nhận ra ḿnh giống và khác người khác. Đó là hội chứng sau 1975 với những vết thương chưa lành mà chính người viết cũng đă trải qua. Không có nó, chúng ta c̣n là ǵ nữa [5].  

    Xin dẫn một ư của Karnow: “Kư ức về chiến tranh đă đưa những buổi kỷ niệm như thể như một chiến thuật vận động cho một tương lai người Việt. Nhưng thực ra chỉ để bày tỏ một cảm thức sâu xa về một cái ǵ đó đă không c̣n nữa, được huyễn hoặc về cội nguồn của ḿnh, nhằm xoa dịu những  oán hận  đă qua. Buổi lễ ch́m đắm trong khung cảnh quá khứ xa xưa được khơi dạy trở về muốn được nh́n nhận ở hiện tại.” 

    Trong một chừng mực nào đó, những cảm nhận trên cần được nâng niu giữ lại như gia tài của mỗi người.  Một cá nhân, một hoàn cảnh, một quá khứ đau thương đă  phải trả bằng nước mắt về một sự chia ĺa, về một sự tù đầy ḱm kẹp, về nỗi thống khổ sống trong lo sợ. Chúng ta không thể quên và  có lẽ chẳng bao giờ quên .Tất cả những tâm t́nh đó, những đau thương đó, những hoài niệm về một quá khứ quay quắt  cần được ghi nhận. V́ thế đă có không biết bao nhiêu hồi kư về vấn đề này mà người viết chỉ nêu những sách in mới đây thôi. Có cuốn bút kư Tôi phải sống  của Nguyễn Hữu Lễ [6].  Cuốn Ước Mơ chưa đạt của Nguyễn văn Minh. Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng Thống Ngô đ́nh Diệm  của Trung Tá Nguyễn hữu Duệ . Buddha!s child của Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ.

    Điều đó chứng tỏ rằng quá khứ của lớp tuổi những  người trên 60 không bao giờ có thể quên được [7].  

     Nhưng xin đừng v́ bất cứ lư do ǵ đánh rơi chính ḿnh, biến những đau thương đó thành vũ khí chính trị, thành bạo lực đàn áp, thành một soif  d’holocauste nhắm vào những  nguời cùng thân phận, những  người cũng từ đó mà ra. Những năm tù cải tạo không phải là một bảo chứng hay một thứ văn bằng cho phép ḿnh độc quyền tư tưởng và khống chế những người di tản khác. Cũng đừng v́ lư do ǵ mà phải hạ thấp ḿnh, nấp sau những khẩu hiệu, những lư tưởng đă cùn đă rỉ để chụp mũ bôi nhọ vô bằng. Mỗi một lời chụp mũ vô bằng cớ là những viên đạn tự giết chính ḿnh. Cả hai chữ Cộng Sản và Quốc gia đều đă bị xài ṃn cả rồi. Đó là những món hàng ế ẩm đă mât giá. Người Mỹ, cha đẻ sản xuất ra những món hàng đó đă quên và đă bán những món hàng mới mẻ khác rồi. Có ai c̣n nghe đâu đây tiếng rao hàng của Người Mỹ Về thế giới Tự Do nữa không.  

     Chỉ có đất nước và con người. Chỉ có dân tộc và quê hướng xứ sở. Chỉ có t́nh đất nước và t́nh người. Chỉ có lịch sử và giống ṇi. Chỉ có tôi và anh nói cùng thứ tiếng, cùng cội nguồn. Chỉ có đất nước Việt Nam và con người Việt Nam dù ở đâu, dù ở trong hay ở ngoài. 

    Chủ nghĩa ǵ đi nữa cũng chỉ là cái áo mặc ngoài. Bẩn th́ giặt, cũ th́ vất. Đối với người Việt trong cũng như ngoài đều là dân tộc Việt Nam. Nó không là “chiếc áo” để có thể dễ dàng thay hay vứt bỏ, chỉ v́ nó chẳng bao giờ cũ, chẳng bao giờ bẩn trong mỗi một con người c̣n nhận ḿnh là người Việt Nam.    

    Sau 1975, cộng đồng người Việt di tản ra nước ngoài với nước mắt và nỗi lo âu trước một tương lai vô định. Rồi sau đến lượt các thuyền nhân phải ra đi v́ chính sách hà khắc và sai lầm của chế độ mới. Thế giới đă xúc động và đă dang tay đón tiếp những người tỵ nạn. Đă có ít nhất hai triệu người được  đón nhận và ổn định  nay trở thành một cộng đồng  người Việt lớn mạnh ở hải ngoại. Từ đó, cũng nên chân thành nhận với nhau một vài điều sau đây, không thể nói quanh, trốn tránh sự thật: 

    Nhờ biến cố tháng Tư 75. Đất nước, sau bao năm chia rẽ và chiến tranh nội thuộc, đă được thống nhất, có chủ quyền, đă đang trên đà phát triển, có cải thiện, đang mở cửa, hội nhập vào khu vực và toàn cầu.  Cái giá của sự thống nhất là vô giá mà một sự mất mát của một chế độ, cách này cách khác không thể so sánh được [8].  Sau gần 30 năm, thế giới đă thay đổi mà những chiêu bài chính trị 30 năm về trước kể cả hai phía chỉ là những ‘thiên đường mù. hay ‘bên bờ ảo vọng’ ( DTH). Chủ nghĩa, chiêu bài ư thức hệ không có tương lai. Tương lai nằm nơi con người. Nếu c̣n nhiều ư kiến khác biệt, đối chọi th́ phải ngồi lại chọn lựa một nguyên tắc AGREE to DISAGREE. Trận đấu ư thức hệ trên sân cỏ đă xong, trọng tài đă thổi c̣i tan trận đấu, không lẽ chúng ta cứ đá tiếp một ḿnh. 

    Nhờ biến cố tháng Tư đă biến một điều bất hạnh thành đại hạnh cho người di tản, cho họ và cho con cháu họ, cho người ở đây và cho người ở bên nhà.  Hăy nh́n mặt tích cực của nó. Hăy nh́n lại ḿnh, nh́n con cháu ḿnh, nh́n tương lai trước mặt. Dừng nh́n thành Sodome đang bị đốt cháy, hăy ra khỏi nhà và đừng ngoái lại [9].   

    V́ thế, vẫn phải nh́n nhận Việt Nam hiện nay là quê hương và cũng chẳng nên vô t́nh đến bội bạc nói mảnh đất chúng ta đang sống ở Hải ngoại là mảnh đất tạm dung; rồi thân phận lưu vong, lưu đầy mà là mảnh đất lành, miền đất hứa [11].  Đây là cuộc sống thực, đầy hứa hẹn, đầy tương lai mà khi ra đi không ai dám mơ tưởng tới. Nó có đủ các thứ tự do nhét đầy hai túi, túi áo trên, áo dưới cũng không hết. Chỉ sợ không biết dùng mà một số người Việt di tản xài thỏa thích ngay cả chửi bới, chụp mũ vô bằng, vô tội vạ [12].     

    Một chứng từ: Nói thay cho người làm thinh ( Loi d’ Holocauste) 

    Trong sách Levy có kể về luật Hiến tế (loi d’ Holocauste)  cho Yahweh như sau: Yahweh đă gọi Moisen và chỉ dạy cho ông cách hiến tế Ngài. Hăy lấy một con chiên đực, cắt cổ nó, rồi rẩy máu chung quanh bàn thờ. Hăy xẻ thịt nó ra từng khúc rồi đốt nó thành tro. Khói  bay lên như vật lễ hy sinh, gánh tội cho dân và mùi thịt khét sẽ làm cho Yahweh dễ chịu, cảm khoái. Huyền thoại vừa thuật lại ở trên ứng với tâm trạng người di tản. 

    Việc mất miền Nam vào tay Cộng Sản như trên cuối cùng rồi cũng phải t́m ra được một con chiên đực lănh trách nhiệm cho mọi người. Đọc các hồi kư của người di tản, nhất là các tướng lănh [12], người viết không thấy bất cứ tác giả nào nhận cái trách nhiệm bội bạc đó. Cũng như chẳng có ai  thẳng  thắn  quy trách nhiệm cho người Mỹ. Đổ hết trách nhiệm việc mất miền Nam vào những giờ phút cuối cùng  cho Đại tướng Dương văn Minh là một điều bất công. 

    Người Việt Nam, theo thói quen thường có chính kiến khác nhau đi đến chỗ chia rẽ bất đồng, đố kỵ, có khi đến chỗ loại trừ nhau. Hoặc chia rẽ về tôn giáo, về địa phương, về ư thức hệ. Hoặc chia rẽ về phương cách hành động, về đường lối do tinh thần bè phái, tự tôn. 

    Vậy mà điều đến ngạc nhiên, khi cần một con chiên đực tế thần, họ gần như đồng thuận, hoặc gián tiếp chấp nhận bằng cách im lặng. Người theo đạo Ki tô có lư do riêng để ghét ông Dương văn Minh, Cao Đài Hoà Hảo cũng vậy. Tướng lănh, quân đội, chính quyền th́ t́m được người đội nón cối thay cho ḿnh, Con chiên đực có tên là Đại Tướng Dương văn Minh [13].   Nay con chiên đực đó quân không có, chức không có, từ lâu gác kiếm giang hồ, một lần nữa dơ lưng ra gánh cái gánh nợ chồng chất của một quá khứ mấy chục năm dài bị đục đẽo, xói ṃn, thủng đầu này  đầu nọ, như căn nhà tróc nóc. Chỉ có ngu dại mới lănh nợ “cầm buồi cho kẻ khác chơi”. 

    Việc mất miền Nam không phải câu chuyện của 40 tiếng đồng hồ c̣n lại. Nó dây dưa lần theo những  chuỗi sự cố từ các tướng lănh, từ ông Thiệu, từ phía quân đội, và cuối cùng  đến ông Diệm và người Mỹ. Việc mất thế nào th́ việc được  miền Nam nó ngược lại như thế. Họ có kỷ luật, họ hy sinh, tướng tài, mà trên hết là họ có được ḷng dân (“Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”). Lẽ được thua nằm ở chỗ đó. 

    Việc mất miền Nam nhẽ ra mọi người từ dân đến quân, từ lớn đến nhỏ phải ch́a vai, chung sức mà gánh cái mất mát và tất cả những hệ lụy từ đó mà ra. Nhưng đă hẳn, chúng ta từ chối gánh trên vai những thù hận, xuyên tạc bất cứ từ đâu tới đổ thêm lên đầu chúng ta. 

     Ai là người có bàn tay sạch đây. Chỉ nh́n những ngày cuối cùng của miền Nam, nh́n cảnh những người cầm quyền thi nhau bỏ chạy, chuyện mất miền Nam là chuyện chẳng đặng đừng. Đừng ai nói hay, kẻ đáng nói lại không nói. Kẻ nên im lặng th́ lại mạnh miệng nói tràn lan. Dư luận một lần nữa lại bị đầu độc. 

    Sàig̣n 30 tháng tư, bề ngoài cũng như một Bagdad ngày nay. Người đi bỏ của chạy lấy người, kẻ ở lại lợi dụng cơ hội vơ vét. Cứ nh́n xem những người ra đi đủ để bắt mạch được miền Nam đang hấp hối [14].  

    Sàig̣n lúc ấy là một băi rác đủ thứ vô thừa nhận. “Sao, Mai”, quân trang, quân dụng, giầy bốt, mũ sắt, huân chương, tài liệu sách vở vứt tung toé, sắc đeo lưng, lựu đạn, súng ống. Dọc theo đường Công Lư ra đến Tân sơn Nhứt…Người ta vứt đủ thứ ra đường. Sự hỗn loạn, sự sợ hăi trên mỗi khuôn mặt và trên bằng chứng là những món đồ vứt lại. Chưa kể đến xe díp, xe tải và cả xe tăng nữa. Chỉ có máy bay và tầu bè là phương tiện dùng để di tản là không c̣n để lại.  Cũng không dám kể đến các hồ sơ mật đủ loại, hồ sơ nhân viên. Theo Trung Tá Nguyễn Tuệ, điều hành văn pḥng Trung Tướng Đổng văn Khuyên, Tham mưu Trưởng Bộ Tổng Tham mưu với bài viết: Ngày tháng cũ (tiếng sông Hương 2000) trước đó một tháng, Mỹ đă lo ngại và đề nghị Tổng cục tiếp vận nên đem toàn bộ hồ sơ tại Trung Tâm quản trị gửi sang căn cứ Utapao của không  quân Mỹ. Phía VN, h́nh như  không quan tâm đến vấn đề này. Nói chung toàn bộ tài sản của chính quyền và quân đội VNCH để rơi vào tay Cộng sàn. 

    Về phần CIA, họ đă chuyển hồ sơ mật đi trước. Cái ǵ không chuyển được đă kịp thời đốt. Theo Frank Snepp, họ đă tiêu hủy 14 tấn hồ sơ liên quan đến hoạt động t́nh báo và hồ sơ nhân viên. 

    Phía ṭa Khâm sứ ở  Sàig̣n, họ đă chuyển về Vatican 24 thùng liên quan đến t́nh h́nh VN và 3 thùng liên quan đến Hội đồng Giám Mục VN.( chứng từ của LM Thụ, thư kư toà Khâm sứ). 

    Toàn bộ hồ sơ từ miền Trung đến Sàig̣n xuống lục tỉnh, chính quyền VNCH chuyển đi được mấy thùng. Toàn bộ hồ sơ của Bộ quốc Pḥng, của quân đội nói chung được mấy thùng. Toàn bộ hồ sơ của các bộ, văn pḥng Thủ Tướng, văn pḥng Tổng Thống chuyển đi được mấy thùng. Hay ít lắm cũng đốt đi được mấy thùng. Xin Đại tướng Cao văn Viên, tướng Trần thiện  Khiêm lên tiếng. Xin các tướng lănh, các cựu bộ trưởng lên tiếng. 

    Về phía dân chúng, Cảnh xô bồ náo lọan như đến ngày tận thế. Người người hốt hoảng, chạy xuôi chạy ngược. Thật khác xa với h́nh ảnh ra đi vĩ đại, thong thả như đi du lịch, đi tắm biển. Taxi, xe nhà, xe gắn máy chở đầy người, chất đầy của phóng như lao trên đường phố. Bàn ghế, giấy tờ, xe cộ ngổn ngang vứt bừa băi dọc đường. Vợ con sĩ quan công chức lạc nhau, chồng, vợ, con bị bỏ lại. Xô nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Ai là người c̣n có can đảm, có ḷng ở lại đương đầu với t́nh thế. 

    Ai là người lúc bấy giờ dám làm kẻ hốt rác miền Nam. Kẻ ra đi hay kẻ quyết tâm ở lại. 

     Tướng Dương văn Minh là người cuối cùng c̣n ở lại cúi người xuống đất nhặt một một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam (chữ của Vân Xưa, bút hiệu của cụ Hồ sĩ Khuê ). 

    Từ mấy chục năm nay Đại tướng Dương văn Minh đă không lên tiếng. Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, không.  Thủ Tướng Trần thiện Khiêm, không. Đại tướng Cao văn Viên cũng không lên tiếng. Nhưng mổi sự im lặng  th́  đều có ư  nghĩa riêng của nó. Những điều họ lên tiếng lại là những điều chúng ta không cần nghe. Những điều cần nói nếu họ muốn nói th́ đă nói rồi. Điều mà người ta muốn biết là những thứ Non-dits th́ chả  có bao giờ hy vọng được biết. Sự đời là vậy, xấu che đi, tốt phô ra. Huyền thoại về người di tản cũng từ chỗ đó mà ra. 

    Chỉ có những người như Đại Tướng Dương văn Minh quyết tâm ở lại vào cái giờ thứ 25 của t́nh h́nh đất nước bên bờ vực của tuyệt vọng ở lại với đồng đội, với người dân thường mới có đủ tư cách cất tiếng  nói. Nhưng đại tướng Dương văn Minh đă làm thinh. 

    Giải trừ huyền thoại về người di tản là giải trừ một quá khứ đă được tô hồng và lên tiếng nói thay cho người đă làm thinh, trả lại công đạo cho Đại tướng Dương văn Minh. Trong  trường hợp này, im lặng đồng nghĩa với liêm sỉ.

 

N.V.L.

 

Ghi chú: 

[1] Theo Quốc Triều Hương Khoa Lục, của cụ Cao xuân Dục, trang 150, cụ  Phan thanh Giản đậu tiến sĩ  khoa  Bính Tuất 1826, là người đỗ đầu khoa đầu tiên của Nam Kỳ. Làm quan đến chức thượng thư bộ H́nh, bộ Lễ, rồi Chánh sứ sang Pháp. Năm Nhâm Tuất Tự Dức 1862 cùng với Lâm Duy Nghĩa cùng đi đều bị giáng chức, sau lại bị đoạt hết  quan tước, đục  bỏ tên trong bia Tiến sĩ. Ông Ngô đinh Diệm hồi là học  sinh trường Hậu Bổ lúc 18 tuổi đă dịch  ba bộ” Như Tây Sử Tŕnh nhật Kư” của cụ Phan lúc đi sứ vào năm 1863.Theo Việt sữ toàn thư của Phạm văn Sơn, trang 447. Pháp mang 1000 quân và 4000 lính tập chiếm Vĩnh Long. Cụ Phan đầu hàng, tuyệt thực trong 7 ngày, rồi uống thuốc độc chết. Cụ mặc phẩm phục, day mặt về hướng Bắc, lạy  vọng 5 lậy rồi chết, thọ 71 tuổi. 

[2] Dầu năm 1975, không một ai trong chúng tôi, kể cả người lạc quan nhất, nghĩ rằng chiến  sự sẽ kết thúc trong năm 1975 với toàn thắng của chúng tôi. Trích trong Mây mù thế kỷ. Bùi Tín, trg 140. Những hồi kư  của các Tưóng lănh của Cộng  Sản như  Phạm văn Trà, Văn Tiến Dũng cũng đều xác nhận  rất bất ngờ về sự ră ngũ của quân đội VNCH. 

[3] Cụm từ này đă được tô hồng tùy theo người dùng. Có  cụm từ tạm chấp nhận được, có cụm từ tỏ ra xa ĺa thực tế đến trở thành tuyên truyền. Dại loại  văn vẻ như “ bầy chim bỏ xứ” của Phạm Duy.” Cuộc vượt biên năm 1975 là cuộc xuất ngọai vĩ  đại  nhất trong lịch sử VN từ  khi lập quốc cho  đến  nay” (TGP). Cuộc ra đi vĩ đại của hai triệu người. Có lẽơ chữ “ Di Tản” dùng cho  cuộc tháo chạy  ngày 30 tháng tư và chữ “ Thuyền nhân” dùng cho  các người vượt biển sau 1975, lần đầu tiên được kư giả Henry Kamm đăng trên tờ New York Times tỏ ra  dung dị và thích hợp hơn cả. Dựa trên chữ Thuyền Nhân, Kư giả Michel Tauriac  trong Viet Nam: le dossier noir  du Communisme gọi thuyền nhân Là “ Những con ḅ sữa” của Cộng Sản lúc  ra đi cũng như  lúc đă  ổn định ở xứ người là mỉa mai hơn cả.   

[4] Bài của Tâm Chính đăng trên báo Tuổi Trẻ chủ  nhật ở Sàig̣n viết rằng :” Ông Dương văn Minh đă có liên lạc với chính quyền miền Bắc, ít  nhiều cộng tác với họ từ lâu. Nay xin về Việt Nam”. Ong Bùi Tín đă phi bác điều bịa đặt trên như sau:”Điều đó là bịa đặt, gây hỏa mù, thổi phồng thành tích của cánh địch  vận trong thời chiến tranh “ ( Bùi Tín . Mây mù thế kỷ, trang 97. )

 [5]  Trong một dịp đến Boston thấy nơi nhà một người quen có để một bức h́nh duy nhất đóng khung một Trung Tá quân đội VNCH đang đi duyệt hàng quân với một cố vấn Mỹ. Có lẽ , đây là một biểu tượng duy nhất về cái quá khứ huy hoàng của vị Trung Tá c̣n muốn giữ lại. Bạn bè, đồng đội có thể đă quên. Nhưng cố vấn Mỹ th́ không.. Trong 4 năm ở lại với chế độ Cộng Sản, chưa bao giờ người viết trông thấy bóng dáng cố vấn Tầu, cố vấn Nga trên báo chí hay sách vở, cũng như ngoài đường phố, hoặc  trong những ngày lễ lớn. Chưa hề gặp một lần, dù một  cố vấn thôi.  Diều đó làm người viết bâng khuâng, suy nghĩ không ít về hai  mặt của cuộc chiến, về cái khôn khéo  che đậy của người  Cộng sản ăn vụng biết chùi mép và về cái huyênh hoang đến ngờ ngệch của người  Quốc Gia.

[6]  Cuốn sách này thật ra cũng như  hằng trăm cuốn hồi kư khác. Nhưng đặc điểm của cuốn sách là nêu ra trường hợp một bạn tù là ông Bùi đ́nh Thi, về những việc đáng tiếc mà ông đă làm hại đến bạn tù, ngay cả cái chết của một hai người như dân biểu Tiết hay cho cá nhân cha Lễ. Mọi người từ cha Lễ đến người chủ bút báo Thế kỷ 21 cũng là  bạn tù thời đó đều đă tha thứ, đều đă quên. Người viết quư câu nói của anh Minh:” Tất cả chúng ta đều là nạn nhân của một hoàn cảnh đặc biệt” Nhưng có một số người chống Cộng không quên đưa anh ra toà và  có thể đưa đến việc trục xuất ra khỏi Hoa Kỳ. Cha Lễ đă đủ  đức độ để tha thứ, đủ đức độ để  bán bản quyền  cuốn sách này để giúp gia đ́nh anh Thi. Nhưng  Cha đă viết lại việc này th́ chẳng khác ǵ  cứu một đầu, giết đầu kia. Thật tai hại

[7]  Phan trần Hiếu, một thanh niên trẻ, một người tỵ nạn đến Hoa Kỳ đă viết cuốn Roots of unrest ( Cội nguồn bất an) trong đó có câu “ Shouting and inflamed emotions can!t alter the past” ( La hét và xúc động giận dữ không thể thay đổi được quá khứ), trg119. Khi chúng tôi lắng nghe chuyện của các gia đ́nh phân ly bởi những thế hệ cay đắng, chúng tôi phát giác những cảm xúc đặt không đúng chỗ giữa Bắc và Nam, kẻ thắng , người bại… trang 13

[8]  Nhiều người có thói quen đồng hóa sự sụp đổ  một chế độ hay  nói đúng ra  mất miền Nam là  mất nước. Dúng ra, nước vẫn c̣n đó và nó sẽ măi măi c̣n đó. Nói ra th́ phủ phàng,  nhưng cần xác định lại như vậy. Lịch sử cho thấy triều chính đổi ngôi, nay Lê mai Trịnh, rồi Nguyễn. Nhưng đất nước Việt nam vẫn là một. Người Việt Nam ba miền vẫn là một. Nước không của riêng ai, nhưng của mọi người. Cũng v́ vậy , cần đánh đổ cho bằng được cái tham vọng bá quyền của người Cộng Sản đồng hoá chủ nghĩa Xă Hội vào  dân tộc. Sự phân biệt chủ nghĩa xă hội và dân tộc nhằm loại trừ độc tài đảng trị. Tranh đầu chống  Cộng Sản là tranh đấu  đ̣i ḥi thực  thi dân chủ chứ không phải là tham vọng lật đổ nó.

 [9] Huyền thoại trong cựu ước nói về thành Sodome , phía Nam biển chết , cùng với một số thành khác bị hủy diệt . Có người đàn bà, vợ của Lot đă tiếc của thay v́ nghĩ tới sự cứu rỗi, mặc dầu  đă được dặn kỹ càng  là khi ra khỏi thành th́ đừng ngoái lại. Bà đă quên lời dặn ngoái lại nên biến thành  tượng muối. 

[10]  Năm1976, tôi đi học tập. Mười năm sau trở về th́  nhà đă là nhà của cán bộ, vợ đă là vợ của cán bộ, con cũng là con của cán bộ. Hoàn  cảnh tôi chẳng phải duy nhất. Có hằng trăm, hằng ngh́n trường hợp như thế. Mất nhà, mất vợ, mất con, lưu lạc dở ông, dở thằng. Nỗi đau này tại đâu mà ra. Nỗi đau này nào phải một sớm một chiều quên được.  Trích trong Hợp Lưu, thư của Một Thiếu Tá  quân đội VNCH, số 12-1993. ( Dọc đọan thư  trên của vị cựu Thiếu Tá thấy ngậm ngùi, thương cảm. Nhà nào cũng có anh em  là sĩ  quan, là công chức là nạn nhân của một chế độ hà khắc  đă sai lầm trong chính sách Học Tập  Cải Tạo. Nhất là câu hỏi nỗi đau này ở đâu mà ra và không thể một sớm một chiều quên được. Nhiệm vụ của Cựu Thiếu Tá bây giờ là t́m ra  nguyên ủy nỗi đau đó để biết ḿnh chỉ là nạn nhân, đồng thời vươn lên mà sống, đừng than thở ḿnh lưu lạc dở ông, dở thằng nữa. Mong là vị  Thiếu Tá này đă t́m được câu trả  lời và xây dựng được một cuộc sống mới quên di những ngày tháng  khốn khổ sau 10 năm ở xứ người. 

[11] Hăy lấy một tỉ dụ. Trong tờ Quốc Gia, số 91 ở Montréal, Canada mới đây có bài của ông  Nguyễn Hữu Luyện vỏn vẹn trong mấy trang giấy, người viết nhặt ra được 85 chữ có tính cách bạo lực  như chửi bới, chụp mũ vô bằng như chữ lừa bịp, lường gạt được nhắc đi nhắc lại đến 8 lần, ngu dốt  4 lần. Ngay sau đó có bài của ông Tôn thất Tuệ c̣n khủng khiếp hơn nữa. Người viết nhặt  được ra vung văi trong nửa trang báo có 45  chữ  hoặc đao to búa lớn, hoặc chửi bới. Nghĩa là mỗi ḍng có 3 chữ  đại diện. Khi nói về phía ḿnh th́  có những chữ : dấn thân, tích cực, xả thân, tâm huyết, nam tử hán, đại trượng  phu, chính nghĩa, hiên ngang, niềm tin, tổ quốc ghi công ( Tổ quốc nào đây), tầm vóc, quyết tâm, liêm sỉ, khí tiết, đại khối dân tộc ( Chắc có cả Cộng sản ). Khi chửi người ta th́ cũng không thiếu lời : Tiểu nhân, tay sai, nô bộc, phù thịnh, trở giáo xoay cờ, mèo gào, chó sủa, bọn chuột nhắt. ( không biết chửi như thế có giống tiếng chó sủa mèo kêu không ). Có cần trả lời nội dung hai bài viết không. Không, trả lời làm ǵ. Dếm số những câu chửi đủ rồi nhân đó đánh giá luôn tờ báo, đánh giá tất cả. Ôi,” Những cái lưỡi gỗ “ Chửi là vũ khí của kẻ yếu lư, kẻ thua cuộc, của kẻ không dám đối đầu với sự thật. 

[12] Xin tạm  nêu ra một số Hồi kư của các tướng, Tất cả các  cuốn hồi kư , không trừ đều t́m cách  đánh bóng ḿnh tuỳ mức độ. Không vị nào đề cập và nói đến hai điều sau đây : Phân tích, tŕnh bày về  các chiến lược, các trận  đánh lớn nhỏ, diễn tiến các mặt trận, phân tích về nguyên  nhân thua được  của các trận đó. Cũng như vai tṛ của họ, của người Mỹ và của các chính quyền VN với tư cách một vị tướng mà có người đă từng là tướng  sư đoàn , đến quân đoàn. Không ai nói đến vai tṛ chỉ huy của ḿnh  một cách đầy đủ trong đời binh nghiệp của họ, họï đă có bao giờ chỉ huy từ cấp Tiểu đoàn Trưởng, Trung đoàn Trưởng , Sư đoàn trưởng và quân đoàn, rồi  lên lon trong  trường hợp nào. Thứ đến, không vị tướng nào đă kể lại  bằng cách nào họ đă di tản, ngày giờ họ dời khỏi VN. 

 Ngược lại, đọc hồi kư của ba tướng Cộng sản là Vơ nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần văn Trà, họ chỉ tường thuật lại các trận  đánh, các  chiến dịch, phân tích ưu thế hay khuyết điểm  thành bại của mỗi chiến dịch. Nhất là trường hợp tướng Giáp đă viết đến 13 cuốn  sách mà hầu hết kể lại các trận đánh mà ông đă tham dự như  Chiến đấu trong ṿng  vây, Những năm tháng quyết định, Diện Biên Phủ- chiến dịch lịch sử v..v...

Tuy nhiên, cũng đáng tiếc thay , hầu hết các Hồi kư này đều có tính cách Tuyền Trryền ( chữ của tác giả ) và tranh công (Chữ của Bùi Tín), đôi khi thổi phồng, sai sự thật. Trường Chinh đă phàn nàn về cái lối viết thổi phồng , sai sự thật  về Hồi kư của Văn Tiến Dũng. 

[13] Người viết xin ghi lại đây một  câu chuyện có thật  nói ra từ những người quen biết  đại tướng Dương văn Minh chứng tỏ  ông là một người có ḷng, có tư cách, có đức độ đáng kính nể. Sau giải phóng, ông đau bệnh, chính quyền  Cộng Sản có hảo ư đưa ông vào bệnh viện Thống Nhất (V́  Dân cũ, chỉ dành cho cán bộ cao cấp của chính quyền). Ông từ chối  lấy lư đo sĩ  quan đồng đội ông giờ này c̣n đang giam trong các trại tù , cải tạo. Ông có ḷng nào mà quên được đồng đội của ḿnh. Một điều đó thôi cũng đủ  kính nể ông rồi )

[14] Truớc đó một tháng, Ông Thiệu đă gửi tài sản gia đ́nh của ông bằng đường tầu thủy sang Đài Loan và  Canada, gửi  vàng  sang Paris  trị gia ù5 triệu  đô la.. Tối 25 tháng tư, Polgar ra lệnh cho mật vụ đi ba xe đến đón ông Khiêm ở Bộ tổng Tư lệnh đi TSN. Ít phút sau, ông Thiệu tới trên một xe Mercedès. Timmes  ngồi cạnh ông Thiệu và  yêu cầu ông ngồi thụp xuống sàn xe, v́ sợ lính nổ súng. Timmes hỏi xă giao ông Thiệu : Phu nhân và tiểu thư khỏe không ạ. Ong Thiệu trả lời” Nhà tôi và cháu đi Luân Dôn mua ít đồ cổ “ ( Trích Frank Snepp.  Decent interval. Trg167) 

 Nhớ  lại, trước đó gần một tháng Thủ Tướng Hoàng thân  Sirik Matak biên một thư từ chối tỵ nạn, nay bức thư c̣n lưu trữ trong văn khố Thượng Viện Hoa Kỳ. Sau đó HT Sirik Matak đă hy sinh cùng với phó thủ tướng Long Beret . (Trích bài viết của Trung Tá  Nguyễn Tuệ trên tiếng sông Hương 2000). 

Lá thư của Hoàng thân Sirik Matak có đọan viết như sau:” Rất tiếc là trong hoàn cảnh này, tôi không thể ra đi một cách hèn nhát như vậy. Riêng với Ngài và đặc biệt quư quốc, tôi không bao giờ nghi ngờ rằng Ngài sẽ bỏ rơi một dân tộc đă lựa chọn tự do “ ( Trích Tiền Phong, số 658, trang 20. ) 

Chẳng biết , người Mỹ có nhận đuợc một lá thư nào của các chính khách và các tướng lănh VN không.

 Ngày 20 tháng  3, tướng Lâm quang Thi, tư lệnh phó quân đ̣an 1 đă rời bỏ thành nội Huế, di tản chiến thuật. Bộ TTM mất liên lạc.. Ngày 29 tháng 3, Tướng Trưởng, chuẩn tướng Nguyễn Dức Khánh, Dại tá Duệ, đại tá Kỳ và các sĩ  quan bộ  tham mưu đă lên tầu Hải quân 404, dời Dànẵng vào Cam Ranh. Dà nẵng bị bỏ ngỏ để mặc quân lính mạnh ai nấy chạy. Dến Cam Ranh, Các tướng lănh giữ kín việc về Sàig̣n. Chuẩn tướng  Bùi thế Lân lên bong tầu ra lệnh cho TQLC  dời  tầu, nói dối là chiến hạm sẽ quay lại vùng 1 chiến thuật. Khi người lính cuối cùng rời khỏi tầu xuống Cam Ranh th́ chiến hạm vội chặt neo chạy về Sàig̣n vào lúc 7 giờ 30  tối ngày 31-03-1975. TQLC đă bị lừa phản bội vào phút chót . 

Ngày 27-04, Dại tướng  Cao văn Viên bỏ chạy, chỉ để lại một thư  từ chức trên bàn làm việc và đề nghị  tướng Dởng văn Khuyên thay thế ông ( Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ, Tiếng sông Hương 2000 ). 

Ngày 28-04, tấ cả những vị tướng sau đây đă bỏ trốn. TT Nguyễn văn Minh, biệt khu thủ đô. TT Nguyễn văn Toàn, tư lệnh quân  đoàn 3. TT Trần văn Minh, tư lệnh không quân. Chuẩn tướng Trần đ́nh Thọ, đại tá Nguyễn văn Lung.. 

Sàig̣n bị bỏ ngỏ trước khi Cộng quân vào  ngày  30 tháng  tư. Ông Thiệu  bỏ đi đẩu tiên và cứ thế tùy theo cấp bậc lớn nhỏ chuồn theo. 

Trong khi đó, theo lệnh Ṭa nhà trắng bắt buộc đại sứ Martin phải lên máy bay. Ong là  một trong những người Mỹ cuối cùng  đă lên máy bay vào lúc 5 giờ sáng , ngày 30-04.  

!0 giờ 30, ngày 30-04,  Cộng sản vào chiếm dinh độc lập.  Cuộc chiến kết thúc.

Bài trong tháng

Ba cuốn sách đáng chú ư trong năm 2003
Bắt giữ Saddam và cuộc chiến c̣n tiếp tục
Chiếc Nhạn bay rồi
Chiến tranh và không phải nói xin lỗi
Chu Ân Lai
Các sự kiện nổi bật 2003
Cúm chim Hồng Kông 1997
Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được trao giải thưởng Life of Peace
Francois Traufaut
Giới thiệu Chuyến tàu nửa đêm của Sâm Thương
GS Đỗ Xuân Hợp
Hỏi đáp về Cúm Hồng Kông
Khiếu kiện Hải quan
Kư ức lựa chọn và Học thuyết sai lầm
Liều lượng dùng thuốc cúm
Lá Thư Chuyển Luân cuối năm_Chuyển Luân
Lá thư đầu năm
Lên tiếng thay cho người làm thinh
Một thế giới bị chia cắt
Nguyễn Cao Kỳ về VN
Nhân năm khỉ_nguồn gốc con người hiện đại
Nơi Xuân về trong sương trắng_Minh Hoàn
Phật giáo-Câu trả lời cho Nietzche
Quang Nguyen_Tội phạm trong tư tưởng
Quang_Nguyen_ĐẬP BỎ TIN TỨC của SBS
Quê hương c̣n đó_Trịnh Nhật
Thư Hà Nội_Thạch Linh
Trần Hồng Châu-người thi triển tuư quyền
Về các trường hợp cúm A ở Hồng Kông
WHO-tin cập nhật về cúm A (H5N1)_140104
Xuân khúc nhớ thương_Dương Thi Nhi
Đàm hoa Lạc khứ_Thích nữ Trí Hải
Đại học quốc tế đầu tiên ở VN 
Ảo tưởng lạc quan và xu hướng gây chiến

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE