WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 01/2004

Phật Giáo -câu trả lời cho NIETZSCHE

Quán Như 

    Ở Việt Nam người viết về triết gia Friedrich Nietzsche nhiều nhất là Phạm Công Thiện. Những hố thẵm triết lư mà Phạm Công Thiện nhắc tới là những hố thẳm tuyệt vọng của triết lư Tây Phương khi chưa t́m ra ngỏ thoát. Nhưng người nghiên cứu nghiêm chỉnh nhất là Linh Mục Lê Tôn Nghiêm. Thái độ nghiêm chỉnh này đưa đến chuyện mất niềm tin vào một Thượng Đế giả định của lư trí. Lê Tôn Nghiêm có một phản ứng can đảm là trả áo v́ không c̣n niềm tin của một người chăn chiên. Mấy triết gia Việt nam đi trước thời đại. Họ đặt vấn đề hố thẳm của tư tưởng vào thập niên 60 v́ hai thập niên sau, ở Anh Quốc có một phong trào nghiên cứu tim hiểu tư tưởng Nietzsche một cách rầm rộ không kém. Hội Nghiên Cứu Nietzsche được thành lập tại Anh vào năm 1990 và sách vở nghiên cứu Nietzsche tràn ngập thị trường chữ nghĩa. Các bài nghiên cứu về sự liên hệ giữa tư tưởng Nietzsche và Socrate, Kant, Schopenhauer, Heiddegger, thi sĩ Blake, Darwin, các nhà phê b́nh hậu hiện đại, thái độ của ông về Ky Tô Giáo, Phật Giáo  vân vân...được in ra nhan nhản. Các lời phát biểu của Nietzsche thường gây ra tranh căi được phân tích tường tận. 

Tuy nhiên không phải triết gia nào cũng có thiện cảm với Nietzsche. Bertrand Russell nhạy cảm với chũ nghĩa quốc xă, nên cho Nietzsche cổ vỏ một thứ triết lư con người quyền lực, nhằm loại bỏ những người hoặc chủng loại kém cỏi (như Quốc Xă đă tiêu diệt Do Thái và thí nghiệm tạo những con người tuyệt hảo như trong phim The Boys From Brazil) khỏi mặt địa cầu và chỉ c̣n lại những con người hoàn hảo theo kiểu Nietzsche, một con người 'không c̣n t́nh cảm, tàn nhẫn, gian trá, chỉ chuyên nghĩ tới quyền lực'. Dĩ nhiên những ngộ nhận đó ngày nay không c̣n nữa. 

Nói tới Nietzsche là phải nói tới 'đối thủ' của ông, người mà ông đă khai tử một cách gọn gàng; 'Thượng Đế đă chết'. Thượng Đế ngày xưa được ưa chuộng bao nhiêu th́ bây giờ bị lạnh nhạt bấy nhiêu, nhất là ở Tây Phương.  Ngay cả hàng ngũ chăn chiên cũng không c̣n mấy người tin là Thượng Đế có thật (ít nhất là Thượng Đế hữu ngă). Tuỳ Viên báo chí của Tổng Giám Mục Canterbury (Giáo Trưởng cao nhất của Anh Giáo) đă tuyên bố trong tờ Independence là có nhiều Mục Sư không c̣n tin tưỏng vào sự hiện diện của Thượng Đế nữa nhưng vẫn tiếp tục chăn chiên. Nói một cách khác các ứng viên Mục Sư Anh Giáo  không c̣n phải xác nhận ḷng tin Thượng Đế trước khi được tuyển làm Mục Sư, hay có khi c̣n được phong vào hàng ngũ Tổng Giám Mục.

 

Cái Chết Của Thượng Đế 

Nietzsche muốn nói ǵ khi tuyên bố là Thượng Đế đă chết và c̣n bảo là tất cả chúng ta là những kẻ đă giết Ngài?  

Xác nhận của Nietzsche không phải là một xác nhận có tính cách thần học (nghĩa là ai muốn tin th́ cứ tiếp tục tin). Nietzsche cũng không đưa lư luận đầy đủ để chứng minh là Thượng Đế không hiện diện, mà nói là Ngài chỉ hiện diện trong tâm trí của con người. Nó chỉ là một lời kêu cứu trầm thống của triết lư và văn hoá Tây Phương hiện đại. Nói một cách khác nó nói lên sự mất mát ḷng tin vào thế giới quan siêu h́nh cùng với toàn thể hệ thống giá trị (nhất là các giá trị luân lư) đă được chấp nhận trong văn hoá và tôn giáo (it refers to the complete loss of belief in the accepted religious and  metaphysical world view  along with the system of values it upholds). Lời tuyên bố này tiên đoán sự phát hiện của thời đại hư vô, một thời đại thiếu trù phú về văn hóa do việc mất mát ḷng tin này. Oái oăm thay việc mất ḷng tin vào Thượng Đế mà người Tây Phương xem là tối thượng và vô giá này, lại là một hệ quả tự nhiên và hợp luận lư của thế giới quan siêu h́nh và tôn giáo đă được chấp nhận trong lịch sử văn hoá Tây Phương.     

Tất cả bắt đầu từ nền tảng tư tưởng của Socrate và Plato phân chia hai thế giới, bị chia cắt riêng biệt: một thế giới vô thường, thực tế và hiện sinh; một thế giới khác trường tồn, nền tảng của mọi hữu thể. Chính thế giới Thực Hữu (true Reality) này mang ư nghĩa cho mọi ư nghĩa và giá trị cho 'đời sống'. Quê nhà đích thực của con người là thế giới thiêng liêng này, nó giúp cho con người định hướng đời sống của ḿnh. Thế giới này cũng cho con người khả năng dùng lư trí để 'làm hoa tiêu cho linh hồn' (the pilot of the soul). Trong khi thế giới tự nhiên, hiện hữu không có một giá trị ǵ, không ư nghĩa tự tại nào, mà chỉ là một phản ảnh yếu ớt, một phó bản mờ nhạt của thế giới 'thực hữu'.  Trong nền tảng thế giới nhị nguyên này, đời sống đích thực của con người là đời sống đi t́m thực hữu trường cữu của thế giới 'bên trên', và mục tiêu của đời sống cho đến lúc qua đời là theo đuổi con đường đạt được kiến thức, thiết lập mối liên hệ với, và cuối cùng đi vào, thế giới 'trường cữu' đó. Đó là quê nhà đích thực của con người. Giá trị nhân sinh cao cả nhất của con người về mặt tôn giáo, đạo đức, thẩm mỹ, không thể t́m ở thế giới tự nhiên này, nhưng chỉ có thể t́m thấy trong một thế giới đă được siêu nhiên hóa. Thế giới hiện hữu chỉ qua là thế giới vô thường, vô nghĩa, vô giá trị và có thể gọi là thế giới 'bất thiện' (evil). Do đó những đam mê, ước muốn và mục đích đều vô giá trị và vô nghĩa. Và những t́nh cảm này phải được chế ngự bỡi những thiện nhân (Good man). Trong thế giới Tây Phương, tư tưởng của Plato đă cung cấp nền tảng thần học cho Ky Tô Giáo. Như Augustine nói: 'Ky Tô Giáo là tư tưởng Plato của quần chúng' (Christianity is Platonism for the people). Thế giới thực hữu trường tồn của Plato trở thành Vương Quốc của Thượng Đế! Thế giới này c̣n được nhiều người 'vươn tới' hơn thế giới thuần lư của triết gia,  v́ chỉ cần một điều kiện duy nhất là Ḷng Tin là có thể về với nước Chúa! Tuy nhiên đối tượng của ḷng tin chỉ có thể minh chứng được khi chết (eschatological verification).  

Plato, diễn dịch tư tưởng Socrate, theo Nietzsche là một bước ngoặt và là đỉnh cao nhất của lịch sử thế giới. Mặc dù Ky Tô Giáo tuyên bố là chỉ cần ḷng tin là được lên thiên đàng, tư tưởng Plato, hay có thể nói là toàn thể lịch sử tư tưởng Tây Phương, khuyến khích con đường theo đuổi trí thức của những con người có thiên tư. Con đường theo đuổi tri thức đă định tính và định hướng cho việc h́nh thành văn hoá Tây Phương cho đến ngày nay. Ngang trái thay, chính v́ theo đuổi con đường đi t́m tri thức và sự thật đă khiến cho nhăn quan thế giới nhị nguyên của Plato không c̣n đứng vững nữa. Có nghĩa là đến lúc không c̣n mấy ai tin vào sự hiện hữu của Thượng Đế. Và việc mất ḷng tin này đưa đến một thời đại tràn ngập chủ nghĩa hư vô (nihilism). Việc theo đuổi đi t́m sự thật khiến người ta khám phá ra được một chân lư là, không có một chân lư nào cả, không có cái gọi là thế giới thực hữu trường tồn theo thị kiến của Plato. (Phật trong 49 ngày tỉnh tọa cũng không t́m thấy ǵ khác hơn không có cái ǵ gọi là trường tồn cả, Tất cả vô thường v́ tất cả là duyên khởi). Nếu không có thế giới bất biến trường tồn th́ cũng không có vương quốc của Thượng Đế và không có cả một Thượng Đế không có vương quốc! Cái chết của Thượng Đế có nghĩa là sự sụp đổ toàn diện của một thế giới quan, sự giải thích về sự hiện hữu, cả một hệ thống giá trị, đạo đức diễn dịch ra từ thế giới quan này. Tại sao chuyện 'động trời' như thế có thể xảy ra được? 

Sự kiện này liên hệ đến toàn thể  lịch sử triết lư và thần học Tây Phương, nhất là sự phát triển của khoa học hiện đại (khoa học theo nghĩa của từ ngữ Đức Wissenschaft gồm cả khoa học chính xác thực nghiệm lẫn khoa học nhân văn như khoa ngữ văn mà Nietzsche là một chuyên viên). 

Đầu thế kỷ 18 bắt đầu với nhà tư tưởng Ư Vico, các nhà triết lư đi đào bới lịch sử để t́m các dấu hiệu có ư nghĩa để giải thích sự liên tục giữa quá khứ, thời đại họ đang sống và hướng đi của lịch sử trong tương lai. Mặc dù là quan điểm khác nhau, các triết gia này đều nh́n lịch sử qua lăng kính Plato, tất cả đều kết luận là lịch sử nhân loại tiến hoá theo một mục đích có ư nghĩa và mục đích này phản ảnh những nổ lực và tiềm năng của con người. Con người và hành động là trung tâm điểm của vũ trụ và vũ trụ này có mục đích và được cấu trúc một cách nào đó để thực hiện những mục đích nói trên.  Nhưng theo Nietzsche, v́ những khám phá của các khoa học gia, nhất là Darwin, cho thấy là ư nghĩa và mục tiêu chỉ là sự lừa bịp vĩ đại và chúng chỉ phát xuất từ ḷng mong ước của con người.   Với tác phẫm Về Nguồn Gốc Của Các Chủng Loại (On the Origin of Species), các dữ kiện khoa học sẵn có cho thấy con người bây giờ không c̣n là trung tâm của cái ǵ ngoài cuộc đời của chính họ, không có bằng chứng ǵ chứng tỏ những thế lực siêu nhiên lo lắng chăm sóc cho số phận của con người. Thế giới thiên nhiên không có cấu trúc nhằm mục đích để  'lo' cho sự an sinh của con người hơn là các loài vật khác. Hoàn toàn không có bằng chứng nào để chúng ta có thể kết luận lạc quan kiểu đó. Theo Darwin con người cũng giống như các loài vật khác và trong vũ trụ không có luật lệ cần thiết nào để bảo đảm sự tiến bộ trong tương lai. Nietzsche nói trong tác phẩm Daybreak:'Trước đây người ta đi t́m cái cảm giác về sự cao cả của con người bắt nguồn từ siêu nhiên. Con đường này ngày nay đă trở thành `con đường cấm: đứng gác cổng có mấy con vượn, bên cạnh có các loài thú dữ khác, như thể muốn nói với con người là: đừng có đi về hướng này nữa'. Tự xem ḿnh khác hẳn với thiên nhiên, linh ư vạn vật, con người xem ḿnh là một sản phẩm của một thế lực siêu nhiên nào đó, có một linh hồn siêu nhiên hóa, không c̣n được mấy ai có suy nghĩ chấp nhận nữa. Nietzsche tự hỏi phải chăng cái cảm tưởng cao cả đó phát sinh từ một hướng khác? 

Nietzsche dĩ nhiên là không vui vẻ ǵ khi thấy Thượng Dế chết v́ ông không chấp nhận chủ nghĩa hư vô. Thượng Đế được xem như là vô giá trong văn minh và văn hoá Tây Phương, vốn là nguốn cỗi ḷng tự hào của con người, và nếu Ngài (hiểu theo lăng kính của Plato, nền tảng triết lư và thần học Tây Phương) không c̣n nữa, tất cả sẽ bị tràn ngập và phá hủy bởi một thời đại tàn bạo như thú vật. Trong Những Suy Nghiệm Không Đúng Thời (Untimely Meditations) Nietzsche cho thấy nỗi lo sợ của ông:

  Lư thuyết cho là giữa con người và con vật không có ǵ khác nhau- nếu được truyền bá trong một vài thế hệ nữa, không ai ngạc nhiên khi thấy con người ch́m đắm trong ḷng vị kỷ nhỏ nhen, tham lam, tan vỡ và biến dạng không c̣n là con người nữa. Thay vào đó, trong tương lai có những hệ thống cá nhân ích kỷ, nhóm người này bốc lột những nhóm người khác.

 Cái chết của Thượng Đế và sự phát sinh của chủ nghĩa hư vô, mặc dù là do kết quả của một sự duyệt xét thành khẩn về những định chế mà người Tây Phương tạo dựng ra, lẽ ra phải đưa đến những ǵ có giá trị hơn cho nhân loại, trái lại nó tạo ra một hố thẵm về mặt văn hoá. Sự sụp đổ của ư niệm Thượng Đế làm mở ngỏ những sức mạnh tàn hại khốc liệt cho văn hóa nhân loại. Những ǵ mà chúng ta tự hào về con người đang bị tàn phá sụp đổ mà chưa có hệ thống giá trị nào thay thế. 

Tất cả những hệ thống giá trị là sản phẩm của con người, do chính con người sáng tạo ra, và nếu chúng bị hủy bỏ đi, cả vũ trụ chúng ta đang sống trở thành lạnh lẽo, vô nghĩa. Con người cảm thấy ḿnh bị lừa dối trong một thời gian quá dài và tự dưng cảm thấy hoàn toàn vô vọng v́ mất mát quá lớn này. Tuy nhiên chưa ai có thể biết chắc là cuộc đời thực sự vô nghĩa không, hay nó có thể có ư nghĩa vượt ngoài sự suy nghĩ của con người. Nietzsche cũng nghĩ như thế và ông ta bắt đầu đi xây dựng một thế giới quan mới và một hệ thống giá trị mới để thay thế cho hệ thống cũ đă bị sụp đổ. Cái chết của Thượng Đế đặt lại một câu hỏi căn bản về ư nghĩa của đời sống và của con người mà tất cả mọi người đều phải đi t́m ra câu giải đáp. Nietzsche ví von điều nầy với một con tàu lại ra khơi trong một chuyến viễn du mới, một cuộc hành tŕnh mới.

 Mỗi cá nhân có những tiềm năng chưa hề được vén mở và khi tiềm năng này được hé mở, đời sống của họ trở nên vô giá, có ư nghĩa hơn và làm con người thơa măn không biết tới mức nào mà lường. Lầm lạc một lần để đi theo viễn kiến của Plato và Thượng Đế hữu ngă của Ky Tô Giáo không có nghĩa là tất cả mọi con đường tiến hóa khác trở thành những ngỏ cụt, không có nghĩa là không c̣n một con đường nào khác. Nietzsche dĩ nhiên làm chuyến viễn du mới, chỉ tiếc là ông chưa đi được xa để thấy mặt trùng dương, Đề nghị trả lời của ông khi đối mặt với chủ nghĩa hư vô, đề nghị lượng giá lại mọi giá trị chưa đi đến đâu th́ ông qua đời. Tuy nhiên ông cũng đă để lại cho chúng ta vài dấu ấn, dù mờ nhạt. Nietzsche có nhắc tới mối lo sợ của ông là mọi người trong cơn khủng hoảng đối mặt với hư vô, có thể t́m về Phật Giáo như là một niềm an ủi trong hố thẵm in lặng.

 

Phật Giáo Qua Lăng Kính Của Nietzsche 

Nietzsche thấy có một sự tương đồng giữa thời đại của ông và thời đại của Đức Phật. Theo Nietzsche Đức Phật cũng thấy hoàng hôn của những thần tượng như ông ta thấy Thượng Đế đă chết. Nhưng thay v́ t́m một con đường mới vén mở những tiềm năng của con người để đối phó lại với hư vô, Đức Phật tạo ra một tôn giáo giúp con người 'thích ứng' với hư vô một cách 'an lạc'! Đức Phật dạy những đệ tử cùng thời làm thế nào để đối diện với sự vô nghĩa của hữu thể và đời sống, đối diện với một vũ trụ mà trong đó con người không có một chỗ đứng đặc biệt nào hơn những chúng sinh khác, mà vẫn giữ được an lạc. Đó t́nh trạng mà theo Nietzsche, Phật Giáo gọi là 'nhập nát bàn'. Mặc dù Đức Phật đă tránh được một thảm họa do chuyện Thượng Đế đă chết, tức là rơi vào t́nh trạng hỗn mang vô tổ chức, Đức Phật đă không hiểu im lặng của hố thẵm, cái t́nh trạng tâm lư tuyệt vọng khi thấy cái thế giới quan mà ḿnh dùng làm nền tảng của tất cả hệ thống giá trị bị hoàn toàn sụp đổ. Cái tuyệt vọng của một người khi thấy là đời sống hoàn toàn không có một ư nghĩa nào và do đó thế giới ḿnh sống cũng hoàn toàn không có một giá trị hay ư nghĩa nào. Đức Phật v́ không hiểu được hố thẵm đó từ đâu, nên đă chấp nhận hố thẵm đó như là hiện trạng cuối cùng của hữu thể. Đức Phật đă t́m cho con người một mục đích của sự sống, đó là nát bàn, một liều thuốc cuối cùng, giúp con ngựi an lạc, vô dục, vô cầu trong đó mọi khổ đau của trần thế sẽ không c̣n nữa và cái chết được xem như là niềm an lạc tối hậu. Do đó Nietzsche xem Phật Giáo là một tôn giáo cho một nền văn minh đă mệt mơi đến hồi kết thúc. Mặc dù theo Nietzsche, Đức Phật đă không siêu việt hóa được cái hố thẵm hư vô, ông xem Đức Phật như là một người y sĩ thực sự đă t́m được phương thuốc cứu chữa cho con bệnh. Không giống như những tôn giáo khác, Phật Giáo không hứa hẹn với con người những mục tiêu giả tưởng, mà chỉ cung cấp những mục tiêu thực tế. Con đường Phật đạo đưa tới hạnh phúc thực sự chứ không phải là một thứ hạnh phúc hứa hẹn hoang đường. Tuy nhiên Đức Phật không vượt qua được hố thẵm hư vô và chỉ làm tăng thêm cái vô nghĩa của một vũ trụ cứng nhắc, lạnh lẽo và vô nghĩa. Nietzsche thấy những nhà tư tưởng đương thời mất niềm tin nơi Ky Tô Giáo nên bắt đầu thấy Phật Giáo quyến rũ nên lo sợ là Phật Giáo sẽ lần lần lan tràn qua Âu Châu. Phật Giáo cung cấp một cách trị liệu cho tâm trạng thất vọng của thành phần trí thức Âu Châu và giúp họ đối đầu với hố thẵm hư vô một cách an lạc.

 

Giải Pháp Của Nietzsche Để Đối Đầu Với Hố Thẵm Hư Vô                 

Nietzsche đi t́m câu trả lời cho câu hỏi căn bản: Nếu nguồn cỗi của chân lư, thế giới tuyệt đối thường hằng của Plato không có thực, thế giới hiện sinh vô thường mà chúng ta đang sống th́ sao? Câu trả lời của Nietzsche, ngạc nhiên thay, không khác câu trả lời của Phật Giáo Đại Thừa là bao nhiêu:  

Khi chúng ta hủy bỏ thế giới 'thực' th́ c̣n lại thế giới nào? Có lẽ là thế giới hiện sinh? NHƯNG KHÔNG! Hủy bỏ thế giới thường hằng có nghĩa là chúng ta cũng hủy bỏ luôn thế giới hiện sinh, vô thường.

 Để độc giả thấy cái nh́n của Nietzsche gần gũi với Phật Giáo tới mức nào, câu khẳng định của Đại Thừa có lẽ nên được nhắc tới đây: Ta Bà tức Tịnh Độ. Thiền bẻ gẩy cái nh́n nhị nguyên để đạt tới cái khởi đầu của ṿng khâu Bát Chánh Đạo: Chánh kiến.  Nietzsche cũng thấp thóang nh́n thấy chính kiến. Cái c̣n lại với chúng ta chỉ giản dị là 'thế giới', khi thế giới giao lưu với cuộc đời và được giải thích qua thị kiến của con người. Theo tử tưởng của Nietzsche tới đây, chúng ta không c̣n ngạc nhiên khi thấy Ông đă quá gần gũi với lư giải duy thức và cuối cùng đến cái mà Phật xem là chân lư căn bản và tột cùng: duyên khởi. Ai thấy được duyên khởi tức là thấy chánh pháp và ai có được chánh kiến về pháp tức là thấy được lư duyên khởi. Thế giới được mô tả và định nghĩa một cách có thể hiểu được: đó là 'ư chí quyền lực (will to power) chứ không là ǵ khác ' Cái ư niệm 'ư chí quyền lực' của Nietzsche thay thế cho 'ư niệm' niệm về Thượng Đế và ư niệm này 'rút ra được từ thế giới hiện sinh' (nói theo Phật Giáo, thế giới ở đây và bây giờ). Nhờ cái ư chí quyền lực này mà thế giới và cuộc đời lại một lần nữa có ư nghĩa và con người có được một thị kiến mới, đầy ư nghĩa về hữu thể hiện sinh và giúp chúng ta vượt qua hố thẵm hư vô. Qua bờ bên kia.Yết Đế Yết Đế Ba La Yết Đế.

 

Làm thế nào Nietzsche đạt được chánh kiến này? 

Theo quan điểm của Nietzsche, trong toàn thể lịch sử văn hoá Tây Phương, chỉ có một dân tộc đạt đến h́nh thức tuyệt hảo này: dân Hy Lạp cổ đại. Họ là một dân tộc thiên tài 'độc nhất' trong lịch sử nhân loại bởi v́ họ đă tạo ra nhiều nhân vật cao cả nhất. Để thấy thấp thoáng là nhân loại sẽ 'đi về đâu', Nietzsche trở về với h́nh ảnh của dân Hy Lạp.  Đi t́m nguyên nhân tại sao dân Hy Lạp có thể tạo ra nhiều h́nh ảnh cao cả như vậy, Nietzsche khám phá ra là nhờ thái độ của người Hy Lạp đối với dục vọng và đam mê (desires and passions; để cho độc giả có cảm tưởng gần gũi, đó là thái độ đối với tham và sân). Con người nh́n thấy những tàn hại ghê gớm của 'bản tính' con người có thể gây ra, nhưng khác với Plato, họ không tách con người ra khỏi bản tính. Họ không có ư định giải thích cái này là có giá trị hơn cái kia bằng cách dựa vào những nguồn gốc siêu nhiên 'chỉ có trong trí tưởng tượng', nhưng họ thấy được những ǵ cao đẹp nhất ở ngay trong bản tính con người (trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật!), ngay trong thế giới ta bà này. Người Hy Lạp nhận là trong con người có cả những chủng tử xấu xa và 'vô nhân', nhưng thiên tài của họ nằm ở chỗ là họ tạo ra những phương cách đối trị lại những chủng tử xấu xa đó. Trong tác phẩm của thi sĩ Hy Lạp, Hesiod, một trong những tính chất căn bản của con người là xung đột, tranh chấp mà ông gọi là Eris. Hesiod nhân cách hoá Eris thành hai ông thần: một ông 'ác' luôn gây chiến tranh và một ông 'Thiện' luôn là hiệp sĩ khuyên khích mọi người cạnh tranh (chứ không phải xung đột) với nhau. Nietzsche phê b́nh đây là điểm sáng giá nhất trong tư tưởng Hy Lạp. Điều quan trọng là, 'bản tính' của con người có thể được uốn nắn không phải để đưa đến những hành động chiến tranh, mà khiến mọi người tranh nhau để hướng thượng thăng hoa. Người Hy Lạp không có phán đoán 'nhân tâm' là thiện hay bất thiện, bởi v́ đó chỉ là phản ảnh thiên nhiên, phi thiện-phi ác. 'Chân tâm' chỉ là 'tự nhiên nhi nhiên'. Tùy con người đi hướng nào th́ chừng đó mới có thiện ác. Nếu dùng theo hướng sáng tạo, cạnh tranh con người có thể thăng hoa và theo đuổi sự tuyệt hảo, arete. Những bi kịch ngày nay mà mọi người c̣n thưởng thức như Sophocles, Aeschylus và Euripides, cũng được sáng tạo từ tinh thần agon này. Người Hy Lạp biết nghệ sĩ là người luôn luôn dấn thân  trong một cuộc đấu tranh vói chính cá nhân ḿnh. 

Qua những thí dụ về chủng tử tốt của thi sỉ Hesiod, người Hy Lạp tạo ra một mẫu mực đấu tranh (agon) để theo đưổi sự tuyệt hảo và mẫu mực này đă trở thành câu trả lời cho hố thẵm hư vô. Eris của Hesiod đă trở thành ư chí quyền lực của Nietzsche. Cũng như Eris của Hy lạp, will power này cũng có thể là chủng tử thiện hay ác. Nhưng cuộc tranh đấu này, thay v́ tranh đấu với những người khác nhau, nó là một cuộc tranh đấu trong chính bản thân con người. Kẻ thù ta đâu có phải là người. Kẻ thù ta tên nó là gian ác, thù hận, là tam độc. Khả năng tự chế dục vọng, si mê Nietzsche gọi là khả năng tự chế (Self overcoming- Selbstuberwindung). Con đường tự chế ngự dục vọng-si mê là con đường vượt qua hố thẵm. Ư chí quyền lực trong mỗi cá nhân được Nietzsche đề nghị thay thế cho nổ lực tôn giáo (i.e. Ky Tô Giáo). Mục tiêu của đời người không phải là hướng về một thế giới khác, mà là nổ lực tái tạo cá nhân trên thế giới này để thăng hoa, đi t́m cái tối hảo (exellence-Ubermensch). Mục đích tạo ra Ubermensch trở thành ư nghĩa của cuộc đời.

 Khuôn mẫu persuit for excellence do văn hoá Hy Lạp cung cấp vẫn chưa đủ trong thế giới hiện nay. Một thị kiến mới về con người và cuộc đời nếu muốn được mọi người tin tưởng và chấp nhận phải khế hợp với những tiến bộ về khoa học. Tuy nhiên một thái độ máy móc về khoa học cũng sẽ đưa con người về hố thẵm hư vô. Cái nh́n phân tích máy móc không giúp ích ǵ trong việc đi t́m ư nghĩa của con người và cuộc đời. Khi đọc tác phẩm Lịch Sử Chủ Nghĩa Duy Vật (History of Materialism) của Friedrich Lange, Nietzsche t́m ra một phương tiện để phản bác chủ nghĩa duy vật máy móc: đó là lư thuyết sinh động của một toán học gia, Roger Boscovitch. Vật thể thay v́ chỉ là một khối ù ĺ bất động, cứng nhắc, được thay thế bởi puncta, những lực vô h́nh, không định hướng, trung tâm của lực, mà các khoa học gia gọi là Những Trung Tâm Lực (Force-centres-Kraftcentren). Cái mà chúng ta gọi là một khối rắn chắc thật ra các chùm-lực. Cái mà chúng ta nghĩ là không châm thủng được, thực ra chỉ là những phản lực. Tất cả những hiện tượng tự nhiên từ một vi tử đến con người theo mô thức này, là tổng hợp của những lực. Con người cũng tiến hóa như thiên nhiên, dùng những h́nh ảnh mà chúng ta có về chính bản thân của ta, là tổng thể của những lực 'bên trong' chúng ta như nhu cầu, bản năng, t́nh cảm, đam mê. Ai am hiểu giáo lư Duy Thức đều biết là 'tư tưởng' và cảm giác chỉ là kết quả của sự giao lưu giữa tâm vương và tâm sở và ư thức chỉ là một 'điều hợp viên', Con người chấp vào ngă hữu v́ nghĩ là phải có một ngă hữu điều hợp tư tưởng và t́nh cảm này. Tuy nhiên trong Phật Giáo có thể có tư tưởng nhưng không có người suy nghĩ (Thoughts without a thinker!). Nietzsche thấy là thuyết vật thể sinh động của Boscovitch phải được bổ khuyết thêm bằng 'ư chí bên trong' (inner-will), những động lực từ bên trong khiến chúng ta suy nghĩ hay hành động- và ngay cả một nguyên tử cũng có một wille zur Match này. Có thể gọi những động lực tiên khởi (nisus) này là 'bản năng' thêm vào thuyết khối- lực của Boscovitch thành Willen-Punktationen hay các điểm-lực (Will points), Đây là nổ lực của Nietzsche đi t́m nền tảng khoa học cho tư tưởng về bản chất nhân loại (nhân tâm-chân tâm) một nền tảng khoa học. Tất cả những nhu cầu, bản năng, dục vọng là thành quả của sự giao tiếp của những lực trong hiện tượng vật lư. Do đó không có cái gọi là vật chất, và do đó cũng không có cái chủ nghĩa duy vật máy móc, nhưng chỉ có những cuộc tranh chấp giữa những lực, giữa ư chí này và ư chí khác.  Nietzsche do đó tuyên bố 'thế giới nh́n từ bên trong, thế ǵới được định nghĩa bằng những tính chất có ư nghĩa, không có ǵ khác hơn là ư chí quyền lực’. Dựa trên mô thức các lực sinh động tạo ra vật chất, ngay cả đất đá, nếu con người c̣n có một hy vọng nào để t́m điều ǵ có thể thay thế cho khát khao về tôn giáo đă bị sụp đổ (Thượng Đế-thế giới ư niệm của Plato). con người phải hướng nội để 'làm việc' với những 'lực' bên trong chúng ta như nhu cầu, t́nh cảm, đam mê bằng quá tŕnh 'tự chế ngự' (self-overcoming- Selbstuberwindung). Phật Tử hẳn ai cũng nhớ lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú: tự thắng ḿnh mới là chiến thắng lớn nhất! Nếu Nietzsche sinh ra là một người Phương Đông, nghiên cứu Phật Giáo bằng Pali-Sankrit-Hán-Tạng hay cả Việt ngữ, ông khỏi cần phải lập thuyết dông dài mất th́ giờ, v́ những điều ông nói là những giáo pháp căn bản của Đức Phật: Duyên Khởi. Vô minh-tương đương với cái mà Nietzsche gọi là primitive nisus- volitional actions và trăm ngàn pháp của tâm. Bắt đầu từ hành là bắt đầu tạo nghiệp- nghĩa là từ lúc có will to power. Và lời tuyên bố sau đây không có khác một chút nào về quan niệm giải nghiệp của Phật Giáo:

 Chúng ra có hoàn toàn tự do để tái tạo chúng ta và khai mở khả năng tiềm ẩn mà mỗi người chúng ta đều có. Chỉ khi nào chúng ta đi theo con đường đó chúng ta mới có thể thấy đời sống lại có ư nghĩa và có thể được thỏa măn sâu xa. Chúng ta sẽ cảm nghiệm chính chúng ta như một cuộc đời sống động, một cuộc đời nên sống và có thể sống. (We are free to re-create ourselves and release the potential that we each have. It is only by following such a path that we can once  find more meaningful and deeply satisfying lives. We will come to experience ourselves as living life as it should be and can be lived)  

Nói suông chuyện chuyển nghiệp, tu hành, giải thoát th́ ai cũng nói được, nhưng làm thế nào để sống đạo, thực hành con đường giải thoát mới là chuyện khó. Về điểm này Nietzsche không giúp ích được ǵ nhiều. Chỉ thấy răi rác một vài lời khuyên trong các tác phẩm Daybreak, The Wanderer and His Shadow (Hoài Khanh đă dịch tác phẩm này trước 75) và The Twilight of the Idols (đă làm cho Lê Tôn Nghiêm hết tin Chúa), Nietzsche nói là tự chế cũng giống như một người làm vườn, tỉa cỏ dại, cắt cành cây, ươm cây...Nietzsche nói:

 Huân tập các chủng tử tâm linh tốt trong mảnh đất mà đam mê đă được tiết chế là một công việc khẩn cấp và tức thời (To sow the seeds of good  spiritual work in the soil of the subdued passions is then the immediate urgent task).  

Nietzsche chỉ dơ tay chỉ mặt trăng, nhưng không nói cho chúng ta biết bằng cách nào để lên mặt trăng. Chúng ta phải quay về phi thuyền Phật Giáo.

 

Ư Chí Quyền Lực Và Vô Minh 

Nietzsche đi t́m một con đường để vượt qua cái hố thẵm hư vô do sự sụp đổ của cả nền tảng của tư tưởng Tây Phương, nhất là tư tưởng độc thần của Ky Tô Giáo, khiến cho đời sống lại có ư nghĩa. Hứng khởi từ con đường đi t́m sự tuyệt hảo của tư tưởng Hy Lạp, sử dụng lư thuyết về vũ trụ của Boscovitch để có một nền tảng khoa học và sau đó thêm vào ư tưởng ư chí quyền lực để tự thắng t́nh cảm để thăng hoa khiến người đời và đời người có ư nghĩa. Phật Giáo chính là con đụ̈ng tâm linh mà Nietzsche đă khổ tâm t́m kiếm để vượt qua hố thẵm hư vô. Phật Giáo gọi là đáo bỉ ngạn, qua bên kia bờ, giải thoát, tịnh độ, ngộ, tùy pháp môn mà người Phật Tử hành tŕ. Phật Giáo không phải chỉ muốn cho chúng sinh an lạc bên bờ này của hư vô. Không không phải là không mà là có, Không cũng không phải là có, mà là không. Không cũng không phải là không không, mà cũng không phải là không không có. Sở dĩ Phật phải dài ḍng v́ sợ mấy ông Tiến Sĩ PG ở các đại học Tây Phương 'y kinh giải nghĩa'  thành ra Phật mắc oan ba đời! Kim Dung viết kiếm hiệp 'nói láo mà chơi nghe láo chơi' nhưng tâm đầy đạo vị. Ông nói: Viên cũng là Không mà Không cũng là Không! Chỉ những con khỉ con vượn nào trong tiến tŕnh của Darwin như 'Ngộ Không', mới theo pḥ được Tam Tạng. Không phải chỉ là Đường Tam Tạng của Ngô Thừa Ân mà thôi, đó c̣n là Sutras của Phật. Và trong Tam Tạng Kinh Điển  Phật nói ǵ? Tự ḿnh thắp đuốc lên mà đi. Cúng dường chư Tăng th́ cứ cúng dường chư Tăng, kư ca kư cóp tạo phước điền th́ cứ  kư ca kư cóp để chuyển nghiệp chừng nào hay chừng đó. Nhưng Huệ Năng nói trong Pháp Bảo Đàn Kinh: không tu th́ không bao giờ giải thoát. Nói như Nietzsch không tự chế th́ không qua được bên kia bờ. Nếu muốn làm một cuộc hành tŕnh tâm linh như Nietzsch th́ chúng ta phải dừng lại cái quan niệm cốt lơi nhất của Đạo Phật; Duyên Khởi. Sở dĩ Phật có thể đứng dậy khỏi gốc cậy Bồ Đề là v́ Ngài đă thấy Duyên Khởi. Thấy Duyên Khởi là thấy Pháp. Và bước đầu duyên khởi là Vô Minh (trsna- Thirst). Vô Minh không có ǵ khác hơn là 'Will to power' của Nietzsche. Đó là bước đầu trong quá tŕnh tác nghiệp như Ông đă định nghĩa: The most primitive form of affect.Từ đó mà sinh ra những t́nh cảm khác mà Phật Giáo nói rơ: hành, thức, danh sắc...Vô minh thúc đẩy bản năng, dục vọng, ham muốn...để đạt đến mức làm con người ...hài ḷng hơn. Các chủng tử bất thiện thúc đẩy con người chinh phục kẻ khác, tàn ác, độc tài, thù hận. Tuy nhiên nếu được huân tập đúng cách các chủng tử này trở thành chủng tử Thiện và có thể biến con người thành từ bi hỷ xă (tứ vô lượng tâm). Vô minh thúc đẩy con người tham và sân. Vô minh v́ nghĩ rằng thân ḿnh có thật nên si mê tự ngă. Và Hoà Thượng Thanh Từ lư giải sở dĩ con người tham và sân là v́ si, chấp thân này là có thật. Si là nguổn cỗi của các hành động tác nghiệp xấu. Nietzsch nhận xét là v́ Will of Power thúc đẩy nên con người đi t́m hạnh phúc theo những phương cách mà con người dần dần bị buộc chặc vào khổ đau và khiến họ trở nên hung ác, bạo động và tuyệt vọng (will to power seeks happiness and fulfilment in ways that are inextricably link to pain and frustration which in turn, create such secondary effects as cruelty, violence and despair...) Nietzsche nói câu này như một Sa Môn nói pháp, không có ǵ khác. Khi con người biết tự thắng ḿnh, biết huân tập những chủng tử thiện, Trsna vô minh có thể thăng hoa thành một con đường tâm linh dharma chanda (sublimation- Sublimierung). Chúng ta có thể nh́n cuộc đời với con mắt khác, từ nhăn thị chúng sinh, nh́n thấy bổn lai diện mục của ḿnh và một chân trời mới mở ra cao rộng đến mức nào, chưa ai có thể biết được. Đó là điều mà Nietzsche nói là khai mở tiềm năng mà ai cũng có. Có chánh kiến th́ chúng ta mới có được những 'chánh' khác. Con người do đó sống một đời có ư nghĩa, thoả măn, không c̣n bận tâm về cái lưới sinh tử nữa. Quan niệm Dharma Chanda là phương tiện giúp chúng ta đáo bỉ ngạn, Hố thẵm hư vô đă bị lấp kín. Không ai c̣n bận tâm về Thượng Đế giả tưởng, như Nietzsche than phiền, đă lường gạt nhân loại trong một thời gian quá dài. 

Chúng tôi không muốn làm bận tâm quư Phật Tử về tám vạn bốn ngàn pháp môn tu hành. Ăn chay, niệm phật, cúng dường, công quả, góp nhặt công đức, ngổi thiền, xây chùa, xây viện dưỡng lăo, pháp thí, vác hèo vác gậy làm ông ác đứng ngoài cổng chùa, biểu t́nh chống chiến tranh đ̣i hoà b́nh....miễn là quư vị biết đó là một những phương tiện giải nghiệp, Miễn là quư Phật Tử biết Phật Giáo là con đường trung đạo; không phải là con đường độc thần của Ky Tô Giáo, không phải là tư tưỏng nhị nguyên của của Plato, không phải là chủ nghĩa Duy Vật máy móc, hai cái ư thức hệ đă gây ra máu xương sông núi cho dân tộc Việt Nam trong một thời gian quá dài. Phật Giáo không hoàn toàn đồng ư với Mạnh Tử trong cho bản tính con người là Thiện (Bất Nhẫn Chi Tâm), cũng không đồng ư hoàn toàn với Tuân Tử cho con người là cực ác, không đồng ư với Pháp Gia như Hàn Phi Tử cho luật pháp làm cho con người không phạm tội, không có đem Thiên Đàng Địa Ngục để dụ dỗ và dọa nạt ai. Chủng tử thiện hay ác đều có mặt trong cuộc đời, trong mỗi người chúng ta. Nó nằm đây, nằm trong những mỗi ai. Đó là tâm ca, đạo ca, giải thoát ca. Muốn qua bên kia bờ th́ phải tự vượt thắng chính chúng ta. Không tu mà hy vọng giải thoát là chuyện bao giờ có. Huệ Năng đă nhắc chừng chúng ta như thế. Cái này có là cái kia có. Pháp môn vô lượng. Nhưng như Nhất Hạnh nói, có một cánh cửa bao giờ cũng phải mở rộng. Cánh cửa yêu thương. 

 

Quán Như

Viết theo Tỳ Kheo Sagaramati, thế danh Robert G. Morrison, trong bài God Is Dead- What Next? in trong Western Buddhist Review, số 1, 1994. Tỳ Kheo tên đời là Robert Morrison, Ph D, dạy về Phật Giáo tại Vijrakatu Buddhist Study Centre. Ttác phẩm Phật Giáo Và Nietzsch của Morrison do Oxford University Press xuất bản vào năm 1997.

Bài trong tháng

Ba cuốn sách đáng chú ư trong năm 2003
Bắt giữ Saddam và cuộc chiến c̣n tiếp tục
Chiếc Nhạn bay rồi
Chiến tranh và không phải nói xin lỗi
Chu Ân Lai
Các sự kiện nổi bật 2003
Cúm chim Hồng Kông 1997
Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn được trao giải thưởng Life of Peace
Francois Traufaut
Giới thiệu Chuyến tàu nửa đêm của Sâm Thương
GS Đỗ Xuân Hợp
Hỏi đáp về Cúm Hồng Kông
Khiếu kiện Hải quan
Kư ức lựa chọn và Học thuyết sai lầm
Liều lượng dùng thuốc cúm
Lá Thư Chuyển Luân cuối năm_Chuyển Luân
Lá thư đầu năm
Lên tiếng thay cho người làm thinh
Một thế giới bị chia cắt
Nguyễn Cao Kỳ về VN
Nhân năm khỉ_nguồn gốc con người hiện đại
Nơi Xuân về trong sương trắng_Minh Hoàn
Phật giáo-Câu trả lời cho Nietzche
Quang Nguyen_Tội phạm trong tư tưởng
Quang_Nguyen_ĐẬP BỎ TIN TỨC của SBS
Quê hương c̣n đó_Trịnh Nhật
Thư Hà Nội_Thạch Linh
Trần Hồng Châu-người thi triển tuư quyền
Về các trường hợp cúm A ở Hồng Kông
WHO-tin cập nhật về cúm A (H5N1)_140104
Xuân khúc nhớ thương_Dương Thi Nhi
Đàm hoa Lạc khứ_Thích nữ Trí Hải
Đại học quốc tế đầu tiên ở VN 
Ảo tưởng lạc quan và xu hướng gây chiến

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE