WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Cá mập ở Washington (*)

 

Jim Lobe

 

Chính phủ của Tổng thống George W. Bush, kể cả hầu hết những nhân vật cao cấp trong Ngũ giác đài như Donald Rumsfeld đến Cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice, đang ở trong thế thủ.  Không những mức độ tán thành của dân Mĩ đối với Tổng thống Bush (qua thăm ḍ dư luận) đang xuống đến mức thấp nhất, mà uy tín của chính phủ ông đang bị tổn hại nghiêm trọng, nghiêm trọng đến độ giới báo chí chẳng biết phải viết như thế nào cho hợp lí.   

Hôm thứ Năm vừa qua, Bộ Công lí (Department of Justice) tuyên bố rằng qua yêu cầu của cơ quan t́nh báo CIA, Bộ sẽ tiến hành một cuộc điều tra về sự việc một viên chức cao cấp trong Ṭa bạch ốc đă tiết lộ danh tánh của một điệp viên CIA.  Đây chỉ là một trong hàng lố x́-căng-đan mà trong vài tuần sắp đến sẽ trở thành những cái tít trên trang đầu của báo chí Mĩ.  

Ngoại trừ trường hợp ngoại t́nh và hành lạc sex trong Oval Office (Ṭa bạch ốc), ông Bush và chính sách về Iraq của ông đang bị tố cáo là vi phạm hầu như mọi nguyên lí của một chính phủ tốt: từ lừa dối, tham nhũng, đến bất tài và phản bội.   

Phần lớn những tố cáo này chỉ mới xuất hiện vài tuần trước đây, không chỉ trên các tờ báo khuynh tả, mà ngay cả trên các tờ báo lớn và thân cận với chính phủ Bush.  Những người tố cáo không chỉ từ phe của Đảng Dân chủ, mà ngay cả trong phe của Đảng Cộng ḥa và những người trong Capitol Hill.  Điều này chứng tỏ sự nghiêm trọng của vấn đề và những tố cáo mà ông Bush phải đối đầu trong vài tuần sắp đến. 

Lừa dối  

Những tuyên bố của Chính phủ Bush về việc Iraq tàng trữ vũ khí tàn phá hàng loạt, nhất là phát biểu của Phó tổng thống Dick Cheney rằng Iraq đang có một chương tŕnh sản xuất những vũ khí nguy hiểm này, đă được chứng minh là hoàn toàn sai.  Bây giờ, người ta mới thấy những tuyên bố của chính phủ Bush là thiếu cơ sở, và Iraq chẳng bao giờ có nỗ lực sản xuất vũ khí tàn phá hàng loạt sau cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất vào năm 1991.  

Sau 4 tháng lục soát khắp Iraq, David Kay và đội ngũ 1400 chuyên viên chuyên săn lùng vũ khí tàn phá hàng loại ở Iraq hoàn toàn không t́m thấy một vũ khí hóa học, sinh học, hay vũ khí hạt nhân nào ở Iraq.  Họ cũng chẳng t́m thấy một bằng chứng nào về chương tŕnh sản xuất vũ khí hàng loạt ở Iraq (nhưng họ t́m thấy bằng chứng cho thấy Iraq có ư định thiết lập một chương tŕnh sản xuất vũ khí).  Nói một cách khác, tất cả những tuyên bố của các giới chức Mĩ và Anh về vũ khí tàn phá hàng loạt ở Iraq là sai, hay tệ hơn nữa, là đặt điều nói dối.    

Sự việc c̣n tồi tệ hơn khi Chủ tịch ủy ban t́nh báo (House of Representatives Intelligence Committee) Porter Goss (là người của Đảng Cộng ḥa và từng là cựu quan chức trong CIA) công khai tố cáo rằng để t́m cái cớ cho chiến tranh chính phủ ông Bush đă lạm dụng, uốn nắn những thông tin t́nh báo.  Joseph Cirincione, một chuyên gia về vũ khí thuộc tổ chức Carnegie Endowment for International Peace, nói: “Tôi ghét nói điều này, nhưng tôi phải nói: xem ra người Iraq đă nói sự thật.”

Hối lộ và tham nhũng 

Giới lập pháp Mĩ cũng mất tự tin và hết sức quan tâm đến những lạm dụng của giới thương mại thân cận với ông Bush và Cheney, những người đang hưởng lợi kinh tế từ cuộc tái kiến thiết Iraq sau cuộc chiến.  Qua sự phàn nàn của Quốc hội, một hợp đồng đă được kí kết với công ti Halliburton (một công ti xây cất khổng lồ do Dick Cheney làm xếp trước khi trở thành phó tổng thống và vẫn c̣n có cổ phần khi giữ chức phó tổng thống) phải hủy bỏ.  

Bằng chứng về các công ti và nhân vật thân cận với ông Bush đang làm ăn khấm khá ở Iraq sau cuộc chiến xuất hiện hàng ngày.  Thật vậy, thế giới xem việc Mĩ quyết định Mĩ phủ nhận vai tṛ của Liên hiệp quốc trong việc quản trị Iraq hiện nay là để dành lợi ích kinh tế cho những người gần gụi với Ṭa bạch ốc ở Mĩ.   

Giáo sư kinh tế Paul Krugman (Đại học Harvard) viết trên tờ New York Times: “Xem những hợp đồng [trong các công tŕnh xây dựng ở Iraq] như là giải thưởng dành cho bè bạn của các viên chức trong Ṭa bạch ốc chỉ làm chậm quá tŕnh tái kiến thiết Iraq và có thể là mầm móng của những hậu quả không lường được sau này.”  Tờ New York Times c̣n tiết lộ rằng một nhóm thương gia gần gụi với Tổng thống Bush, gia đ́nh ông và các quan chức cao cấp trong chính phủ ông đă thiết lập một công ti tư vấn để cố vấn cho các công ti muốn làm ăn ở Iraq. 

Tháng qua, một luật sư gốc Do Thái và cũng là thành viên trong công ti luật của Douglas Feith (ông Feith nay là một quan chức cao cấp trong Ngũ giác đài phụ trách kế hoạch tái kiến thiết ở Iraq) cũng cố vấn cho các công ti muốn làm ăn ở Iraq.  Công ti luật này liên kết với cháu của Ahmad Chalabi, người được Ngũ giác đài giao cho nhiệm vụ lănh đạo Hội đồng Cai trị Iraq (Iraqi Governing Council).  Hội đồng này gồm có 25 người và hoàn toàn do Ngũ giác đài bổ nhiệm hay được bổ nhiệm dưới sự chấp thuận của Ngũ giác đài.    

Quan tâm về sự minh bạch trong các vấn đề tài chính cũng được nêu lên.  Tuần qua, một tờ báo ở Florida cho biết văn pḥng của Bộ trưởng Quốc pḥng Donald Rumsfeld yêu cầu cơ quan Special Operations Command ở Tampa dành ra 40 triệu Mĩ kim cho ngài Bộ trưởng sử dụng.  Sự việc này, do một người trong Ngũ giác đài tiết lộ, chưa bao giờ được báo cáo lên Quốc hội, nhưng nay đang bị điều tra.  Tờ Washington Post cho rằng cuộc điều tra này sẽ là một sự kiện “explosive” (bùng nổ), bởi v́ bấy lâu nay Quốc hội thường hay phàn nàn rằng ông Rumsfeld cố t́nh giữ bí mật và không báo cáo nhiều vấn đề cho Quốc hội biết. 


Bất tài 

Bằng chứng về sự bất tài trong kế hoạch và thực thi tái kiến thiết ở Iraq đang được các quan chức ở Washington nói nhiều.  Ngay cả Tổng thống Bush cũng thú nhận rằng kế hoạch tái kiến thiết ở Iraq không được thực thi theo như dự định và yêu cầu Quốc hội cung cấp 87 tỉ Mĩ kim để trang trải cho các chi phí ở Iraq và Afghanistan trong năm tới.  

Không những các nhà kế hoạch ở Ngũ giác đài không tiên đoán được những cuộc kháng chiến ở Iraq (mà hiện nay đang làm chết ít nhất là 1 lính Mĩ trong mỗi 36 giờ), mà họ c̣n đánh giá sai các cơ sở vật chất ở ở Iraq.  Vấn đề càng trở nên phức tạp khi các công ti Mĩ đ̣i hỏi Iraq phải sử dụng các thiết bị mới và đắt tiền nhưng không ứng dụng cho hệ thống hiện tại ở Iraq. 

Và, trong khi chính phủ Mĩ khăng khăng cho rằng không cần thêm quân đội (hiện nay Mĩ đóng 130,000 quân ở Iraq), th́ các tư lệnh Mĩ cho rằng họ không thể kiểm soát biên giới Iraq, nơi mà hàng ngàn du kích quân Hồi giáo xâm nhập.  Tệ hơn nữa, họ không có khả năng giữa an toàn hàng ngàn địa điểm chứa đạn dược và vũ khí của quân đội Iraq c̣n tồn đọng lại sau cuộc chiến.



Phản bội, nếu không là phản quốc 

Tuần qua, một x́-căng-đan lớn xảy ra ở Washington: hai quan chức cao cấp trong Ṭa bạch ốc tiết lộ danh tánh của một điệp viên CIA nhằm trả đũa việc chồng của điệp viên này viết một bài báo trên tờ New York Times chứng minh rằng lời tố cáo của ông Bush rằng Iraq t́m cách mua uranium từ Niger là sai.  (Xem bài “Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu” của Joseph Wilson). 

Trường hợp này dính dáng đến ông đại sứ về hưu tên là Joseph Wilson.  Qua yêu cầu của CIA, ông Wilson công du đến Niger vào năm 2002 để kiểm tra tài liệu (cho rằng Iraq t́m cách mua uranium của Niger, một tài liệu mà sau  này được chứng minh là giả tạo).  Sau khi về Washington, ông Wilson viết một bản báo cáo cho CIA về sự việc, và ông kết luận rằng câu chuyện là một sự giả tạo và ai đó đưa ra câu chuyện là nhằm mục đích lừa gạt.  Báo cáo này, dĩ nhiên, được đệ tŕnh lên Ṭa bạch ốc, trước khi ông Bush đọc bài Diễn văn Liên bang nổi tiếng, mà trong đó ông tố cáo Iraq t́m cách mua uranium từ Niger.  Sau khi Mĩ xâm chiếm Iraq, ông Wilson viết một bài báo đăng trên tờ New York Times kể lại chuyến đi Niger của ông, và lời kết luận trong bản báo cáo cho CIA, ông c̣n viết rơ rằng kết luận này đă được CIA nói cho Phó tổng thống biết (v́ chính ông Cheney yêu cầu CIA điều tra câu chuyện).   

Sau khi bài báo của ông Wilson xuất hiện trên tờ New York Times, có ít nhất là 6 kí giả, kể cả kí giả nổi tiếng Robert Novak (thuộc phe cánh hữu và thân thiện với các quan chức cao cấp trong Ngũ giác đài) cho Wilson biết rằng họ được “hai quan chức cao cấp trong Ṭa bạch ốc” báo cho biết vợ ông, bà Valerie Plame, là một điệp viên của CIA, và bà đang đóng vai một chuyên gia kĩ thuật về vũ khí ở một quốc gia ngoài Mĩ. 

Mục đích của hai quan chức cao cấp trong Ṭa bạch ốc này là nhằm hạ uy tín của ông Wilson.  Nhưng ông Wilson tin rằng mục đích chính của việc tiết lộ này là nhằm cảnh cáo những ai (kể cả cựu quan chức trong chính phủ) dám nói khác với chính phủ hiện tại là họ phải trả một cái giá.  Ông Wilson, người có nhiều bạn trong CIA và Bộ Ngoại giao, c̣n cho rằng có thể Karl Rove (cố vấn chính trị của ông Bush) chính là một trong hai “quan chức cao cấp trong Ṭa bạch ốc” đă tiết lộ danh tánh của vợ ông cho báo chí.  Điều cần nói ở đây là Rove và Novak là hai người bạn chí thân và cả hai đều chống lại cuộc chiến ở Iraq. 

Theo đạo luật t́nh báo được phê chuẩn vào năm 1982, bất cứ ai tiết lộ danh tánh và mật vụ của điệp viên CIA được xem như là phạm trọng tội phản bội, có thể bị phạt tù đến 10 năm.  Cơ quan CIA đă chính thức đệ đơn yêu cầu Bộ Công lí phải điều tra cho đến nơi đến chốn về việc tiết lộ này.  Bộ Công lí tuyên bố rằng họ sẽ tiến hành điều tra, nhưng cho biết cuộc điều tra có thể tốn nhiều thời gian. 

V́ Bộ trưởng John Ashcroft là người do Ṭa bạch ốc bổ nhiệm (tức có vấn đề về độc lập), Đảng Dân chủ cho rằng Bộ công lí không nên điều tra, và đề nghị việc điều tra nên để cho một ủy viên công tố độc lập phụ trách.  Song, đề nghị của Đảng Dân chủ bị từ chối.  Dù sao đi nữa, ai cũng đồng ư rằng việc tiết lộ này là một tội phạm rất nghiêm trọng, và nó có thể là một x́-căng-đan lớn như vụ Watergate thời Tổng thống Nixon.  

(*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài “The sharks are circling in Washington” của Jim Lobe, Asia Times (www.Atimes.com) số ra ngày 01/10/2003.

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE