|
Ngụy
trí thức?
Trí Ngủ
Vài hôm trước đây, Việt Báo trịnh trọng mời
người đọc đọc “lư luận” của ông Lâm Lễ Trinh về đề tài “Sĩ phu thời xưa và kẻ sĩ
ngày nay: cuộc khủng hoảng của trí thức Việt Nam.” Thực ra, bài viết là một
bài nói chuyện ở Viện Việt Học trước đó vài ngày (25/8/2002). Cái chủ đề này
thu hút ngay người viết, v́ một phần muốn biết cuộc khủng hoảng nào đă xảy ra
trong giới trí thức Việt Nam, và một phần người viết không phải là trí thức nên
muốn học hỏi xem giới trí thức nói ǵ.
Nhưng sau khi đọc hết 7 trang giấy chứa đựng
chữ nghĩa của ông Lâm Lễ Trinh, người viết đă thất vọng. Phải nói là “thất vọng
tột cùng” th́ đúng hơn. Trong bài viết, tôi không t́m thấy một chi tiết nào để
biện minh cho cái tựa đề đao to búa lớn kia. Đó là chưa nói đến cách lập luận,
hành văn, và khả năng tri thức của tác giả mà tôi nghĩ là c̣n ở tŕnh độ quá
thấp để bàn đến một vấn đề mang tính học thuật như thế.
Khủng hoảng là t́nh trạng rối loạn, mất thăng
bằng, hay mâu thuẫn. Đọc qua cái tựa đề, người đọc ắt hẳn kỳ vọng những lư giải
về rối loạn, hay mâu thuẫn trong giới trí thức Việt Nam. Thế nhưng, bài viết
của ông chẳng dính dáng ǵ đến cái chủ đề đó. Sau khi loay hoay với định nghĩa
thế nào là một “trí thức”, ông bèn lao vào những nhận xét về các nhân vật như
Nguyễn Công Trứ, Phan Thanh Giản, Nguyễn Trường Tộ, v.v..., rồi quay sang tụng
niệm những câu kinh quen thuộc chửi bới cộng sản, và kết luận bằng một câu văn:
“Như con tầm nhả cho hết tơ mới chết, như cây nến cháy cho tận bấc, lệ mới hết
tuôn rơi: Đó là thân phận của người sĩ phu yêu nước, theo hai câu thơ của Lư
Thường Ẩn: Xuân tàn đáo tử ti phương tận / Lạp cự, thành hội lệ thủy can.” Nói
một cách khác, câu kết luận và những lập luận chẳng ăn nhằm ǵ với cái tựa đề
“khủng hoảng của trí thức” cả – một kiểu “treo đầu dê bán thịt chó” rất thô
thiển. Mà ngay cả những lập luận của ông cũng chỉ là những câu văn kém tri
thức, rời rạc, lảm nhảm, tạp nhạp, chẳng ăn nhập ǵ với nhau.
Do đó, đọc xong bài viết tôi cảm thấy vẫn có
nhiều vấn đề chưa được rơ ràng, nên viết vài hàng trao đổi cùng tác giả Lâm Lễ
Trinh.
Bàn về định nghĩa trí thức của ông Lâm Lễ
Trinh
Để nói chuyện trí thức nghiêm túc mà ông lại
đi tra Từ điển Larousse, một loại từ điển bách khoa phổ thông! Việc làm này cho
thấy hoặc là ông không biết tra cứu sách chuyên môn, hoặc là ông khinh thường
người đọc. Trong cả hai trường hợp, nó thể hiện cái tinh thần học thuật thiếu
nghiêm túc.
Về định nghĩa trí thức, ông Lâm Lễ Trinh viết
[nguyên văn, kể cả mẫu tự viết hoa]: “Định nghĩa Trí thức, Khoa bảng, Chuyên
viên và Sĩ phu Dịch từ chữ intellectuel trong từ điển Pháp”. Thực ra, đây
là một sự hiểu biết lơ lửng, thiếu đào sâu. Ở Âu châu, những chữ như
“intellectuel” (Pháp), “intellectual” (Anh), “Intellektuelle” (Đức), v.v... đều
có nguồn gốc từ chữ “intellectualis” trong tiếng Latin. Và, chữ
“intellectualis” xuất phát từ chữ “intellectus” có nghĩa là sự hiểu biết.
Người trí thức, theo người viết hiểu, là người
luôn t́m ṭi cái mới, đặt vấn đề, đặt giả thiết để giải thích một hiện tượng, là
người hoài nghi trước một lư thuyết mới và sẵn sàng phản nghiệm một giả thuyết
mới, là người sáng tạo ra tri thức mới. Hiểu theo nghĩa này, những người như
Hegel, Karl Marx, Voltaire, Antonio Gramsci, v.v… là những nhà trí thức.
Học cao, hiểu rộng, hay có bằng cấp khá chỉ là
một điều kiện cần, nhưng chưa đủ để gọi là trí thức. Ấy thế mà ông Lâm Lễ Trinh
viết “Tại các nước chậm tiến, tùy tŕnh độ địa phương, những phần tử, với sức
học bổ túc, vẫn được tôn xưng là trí thức”! Để khai sáng cho ông, xin ông hăy
t́m đọc cuốn sách “The New Radicalism in America (1889-1963): The Intellectual
as a Social Type” (New York: Alfred A. Knopf, 1966) của Christopher Lasch để
biết thêm định nghĩa thế nào là một người trí thức.
Ông nhận xét rằng người trí thức Việt Nam thời
xưa là những anh hùng và hào kiệt: “C̣n đối với dân tộc ta, mẫu người lư tưởng
thường được gọi là Trai Anh Hùng, Gái Hào Kiệt”. Thú thực, tôi chưa nghe ai nói
“Gái hào kiệt” bao giờ, nhưng chỉ nghe đến “Gái thuyền quyên” mà thôi. Ông Lâm
Lễ Trinh có rối loạn ǵ không đây?
Mâu thuẫn?
Đọc những ǵ Lâm Lễ Trinh mạt sát Nho giáo làm
người đọc cảm thấy như đọc văn phong của Nguyễn Gia Kiểng, người đang hăng hái
kêu gọi thay đổi văn hóa Việt Nam. Ông viết: “Qua một ngàn năm đô hộ, Đế quốc
Trung hoa đă thành công đào tạo tại Việt Nam một lực lượng hủ nho bạc nhược,
phản động và thoái hóa, với lối học cử nghiệp, thiếu óc sáng tạo. Lớp người này
quan niệm vũ trụ nhân sinh và luân lư một cách hẹp ḥi và kém khoa học”. Nhưng
ông chỉ phán thế thôi, chứ không thấy ông lư giải quan niệm nào là “kém khoa
học”. Dù sao đi nữa, lời phán của ông với sự thiếu thốn về cơ sở lập luận làm
cho thái độ của ông quả là phản khoa học.
Câu phát biểu trên đây của Lâm Lễ Trinh c̣n tự
mâu thuẫn. Quả vậy, trong một đoạn văn trước, ông tả Nguyễn Công Trứ như là một
“văn hào hay danh tướng – luôn luôn tỏ ra là một mẫu người mang nặng dân tộc
tính Việt Nam: phóng khoáng, lăng mạn, yêu đời và tiến bộ.” Nguyễn Công Trứ,
như chúng ta biết, là một người nho học.
Va chạm văn minh ?
Lâm Lễ Trinh có ư cho rằng giới trí thức Việt
ở hải ngoại gặp phải một sự khủng hoảng v́ va chạm văn minh. Ông viết “Trong
tap chí Foreign Affairs, Gs Samuel Huntington, thuộc đại học Harvard, đă hữu lư
nói đến "sức va chạm giữa các nền văn minh, the shock of civilizations". Con
người trí thức Việt cảm thấy ḿnh chỉ là hạt cát trong cơn lốc toàn cầu.” Nhưng
tôi không thấy ông tŕnh bày cụ thể để thuyết phục người đọc về sự tự ti của
giới trí thức Việt hải ngoại ra sao.
Thế nhưng sau đó ông lại tự ḿnh mâu thuẫn khi
cho rằng “Khối di cư Việt hiện có tiềm năng tài chính khá dồi dào, đặc biệt một
kho chất xám 300.000 chuyên viên, thuộc đủ mọi ngành, được huấn luyện trong tự
do, dân chủ. Những tiềm năng ấy chưa được tận dụng theo một kế hoạch hợp lư đề
dân chủ hóa đất nước. C̣n nhiều phí phạm đáng tiếc.” Tại sao khủng hoảng ở
trên rồi bây giờ lại nói là chưa được tận dụng? Con số 300 ngàn này xuất phát
từ đâu? Không thấy ông Lâm Lễ Trinh nói ǵ đến nguồn gốc con số này.
Dù sao đi nữa, câu phát biểu trên của ông là
một lối so sánh ngớ ngẩn và thể hiện một sự hiểu lầm tai hại. Trong cuốn sách
“The Clash of Civilizations and the Remaking of World Order”, Giáo sư Huntington
lư giải rằng trong tương lai các quốc gia trên thế giới sẽ quy tụ với nhau thành
nhiều nhóm dựa trên văn hóa và tôn giáo, nhưng không dựa trên ư thức hệ. Do đó,
Huntington tiên đoán rằng những xung đột trong tương lai sẽ xuất phát từ những
xung đột văn hóa và tôn giáo, đặc biệt là xung đột giữa các quốc gia Hồi giáo và
các quốc gia Kitô giáo thuộc Tây phương. Những lư giải và tiên đoán của
Huntington chẳng dính dáng ǵ đến một cộng đồng lưu vong. Không thể dựa vào
thuyết của Huntington mà khái quát hóa cho một cộng đồng, bởi v́ thuyết đó được
xây dựng trên nền tảng và b́nh diện quốc gia.
Đảng Cần Lao
Lâm Lễ Trinh có ư khen ngợi chế độ Ngô Đ́nh
Diệm, nhưng chê bai chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Ông dành những lời lẽ nặng tính
phê phán: “Thiệu chỉ huy Quân đội lẫn đảng Dân chủ, một tổ chức hữu danh vô thực
do Thiệu lập ra để tái ứng cử”, nhưng lại tỏ ra tử tế với chế độ Ngô Đ́nh Diệm.
Ông viết: “Để chống lại duy vật biện chứng Các Mác, ông Ngô Đ́nh Nhu, cố vấn của
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, trang bị tinh thần miền Nam với hệ thống tư tưởng Nhân
vị, Personnalisme, một học thuyết công giáo cấp tiến […] Ngày 2.9.1954, đảng
Cần Lao ra đời, chủ trương cải tổ xă hội theo mô h́nh ‘nhân vị, cộng đồng, đồng
tiến’.” Thế nhưng ông không cho biết cụ thể đường lối hay triết lư của Đảng này
ra sao, hay Đảng đă làm việc ǵ có lợi cho dân.
Tuy nhiên, theo tác giả Vĩnh Phúc trong cuốn
“Những huyền thoại và sự thật về chế độ Ngô Đ́nh Diệm”, th́ Đảng này do ông Trần
Kim Tuyến và một nhóm 4 thân hữu khác đă lập ra Cần lao Nhân vị Cách mạng Đảng,
mà chủ tịch là ông Nguyễn Tăng Nguyên. Qua chính mô tả của ông Trần Kim Tuyến
th́ đảng này chỉ có tên, không có cơ cấu tổ chức chặt chẽ hay có hoạt động chính
thức nào đáng kể cả. Theo tác giả Vĩnh Phúc, ngay cả ông Ngô Đ́nh Nhu cũng
không bày tỏ một sự ủng hộ nào cho đảng Cần Lao. Về vai tṛ của ông Diệm, tác
giả Vĩnh Phúc viết: “Phần ông Diệm chẳng cần biết đảng phái ǵ cả, mà cũng không
biết đảng CL [Cần Lao] và phong trào cách mạng liên hệ như thế nào. Chỉ thấy
rằng ông rất khoái khi được bầu làm lănh tụ PTCMQG! Đảng CL họp hành măi, lập
biên bản lung tung mà chẳng làm được ǵ, v́ các nhóm không ai nghe ai.”
Phịa văn
Lâm Lễ Trinh viết “Trong bài ‘Đôi điều suy
nghĩ của một công dân’, Hà Sĩ Phu chán ngán nhận xét: ‘Dân tộc phải đương đầu
với một cuộc tổng khủng hoảng nhân cách. Xă hội đang lộn ngược do thang giá trị
bị lộn ngược. Chủ nghĩa vô hồn tạo ra một khoảng trống ghê rợn. Về văn hóa, lư
tưởng và nhân cách.’.” Tôi đọc bài viết này của Hà Sĩ Phu cũng lâu và nhiều
lần, nhưng không thấy có đoạn nào ông viết như thế. Trong bài viết “‘Đôi điều
suy nghĩ của một công dân” của Hà Sĩ Phu, thậm chí không có chữ “nhân cách”
trong đó! (Ai muốn biết nguyên văn bài tiểu luận của Hà Sĩ Phu, có thể đọc tại
địa chỉ sau đây: http://members.aol.com/buitin/mainhsph.htm). Có thể nói đây là
một câu văn mà Lâm Lễ Trinh bịa đặt hoàn toàn. Đây là một hành động vô cùng
phản trí thức.
Vấn đề tiếng Việt
Ông Lâm Lễ Trinh được người ta xưng tụng là
một trí thức. Thế nhưng trong bài viết 7 trang của ông, mỗi trang đều chứa hàng
chục lỗi chính tả và lỗi văn phạm. Thực ra, ngay cả cái tựa đề “Khủng hoảng của
Trí thức Việt Nam” cũng có vấn đề. Người ta nói “khủng hoảng kinh tế” hay
“khủng hoảng chính trị”, chứ không ai nói “khủng hoảng của chính trị”.
Ông viết “mặc căm”, “chử”, “Vỏ sĩ”, “rỏ ràng”,
“giúp đở”, “tỗn hại”, “chuyễn hướng”, v.v… một cách vô tư, y như một cậu học tṛ
đang vật vă với vần tiếng Việt. Những lỗi lầm như thế nó nhiều và có hệ thống
đến mức độ mà người đọc phải hỏi ông có bao giờ học tiếng Việt chưa. Thêm vào
đó là những danh từ quái gở như “tinh thần bách nghệ”, “dân khí”, v.v... làm
người đọc không hiểu ông muốn viết ǵ. Có khi ông dùng chữ Nho (như “hữu lư”
thay v́ “có lư”), và những câu thơ (Xuân tàn đáo tử ti phương tận / Lạp cự,
thành hội lệ thủy can) mà ông không có một lời giải thích hay diễn dịch ư nghĩa
của chúng!
Chưa hết, ông c̣n có những câu văn lúc th́
chêm vào tiếng Pháp ( như “théorie de l'absurde”, “littérature du désespoir”),
lúc th́ phiên âm (như “Các Mác”), lúc th́ giữ nguyên (Simone de Beauvoir,
Merleau Ponty), lúc th́ tiếng Anh pha lẫn tiếng Việt (như “mode thời thượng”,
“nhà Kinh tài Businessman” …). Tệ hơn nữa, có lúc ông lại viết sai. Chẳng hạn
như bài viết của Samuel Huntington trong Tạp chí Foreign Affairs có tựa đề là
“The Clash of Civilizations”, chứ không phải “The shock of civilizations” như
Lâm Lễ Trinh viết.
Cách viết và dùng chữ trong bài viết của ông
chẳng khác ǵ một người lao ḿnh vào viết chính luận với vốn liếng chữ Nho bỏm
bẻm, lai rai vài chữ Pháp, chút ít chữ Anh, và một ít tiếng mẹ đẻ. Tây chẳng ra
Tây, Tàu cũng không phải Tàu, Việt cũng chưa thuần Việt, mà là một quái thai chữ
nghĩa.
Chúng ta biết ông Lâm Lễ Trinh từng giữ chức
Bộ trưởng Nội vụ trong chính phủ Ngô Đ́nh Diệm. Chúng ta cũng biết ông c̣n là
một luật sư, và có viết lách (chủ bút của một tờ báo). Làm đến chức bộ trưởng,
chủ bút một tờ báo, là luật sư mà viết tiếng Việt không rành, viết sai chính tả,
diễn đạt ư tứ không thông, lập luận không mạch lạc, th́ quả là một điều vô cùng
xấu hổ, một nỗi nhục nhă cho cái chính phủ mà ông từng phục vụ.
Thái độ trịch thượng?
Ông viết: “Khi Phan Khôi tranh luận với
Trần Trọng Kim về Nho giáo, Ngô Đức Kế phản bác chính kiến của Phạm Quỳnh, hay
Phan Châu Trinh và Phan Bội Châu "ḥa nhi bất đồng", họ luôn luôn tự chế, lễ độ
và tương kính, bất đồng nhưng không bất ḥa.” Vậy ông Lâm Lễ Trinh có học
được cái thái độ lịch sự của người đi trước hay không? Để trả lời câu hỏi đó,
có thể đọc câu sau đây của ông: “Ngoài những câu lếu láo phát ngôn trọn đời, Hồ
Chí Minh có nói một câu ít nữa nghe được ‘Có dân là có tất cả’.” Không biết ông
Hồ nói ǵ mà bị ông Lâm Lễ Trinh mắng là “lếu láo”. Chưa đưa một bằng chứng nào
mà đă mắng người ta như thế, th́ quả là ông hoặc là có định kiến với ông Hồ, hay
chưa từng được dạy và học về văn hóa tranh luận.
Nói tóm lại, trong bài viết về khủng hoảng trí
thức, ông Lâm Lễ Trinh không đưa ra được một lập luận nào để chứng minh rằng có
một sự khủng hoảng trí thức, nhưng nó cho người đọc biết nhiều về tác giả. Thật
vậy, bài viết của ông cho thấy một sự khủng hoảng trầm trọng về tri thức của tác
giả.
Cuối cùng, tôi rất tâm đắc với câu
phát biểu của ông Lâm Lễ Trinh, và cũng xin trích câu đó ra đây để làm đoạn kết
luận của bài trao đổi này: “Danh từ cao quư ‘trí thức’ lắm khi bị bôi bẩn bởi
những người ngụy trí thức, trí thức thời cơ, trí thức tháp ngà, trí thức yếm
thế, trí thức trưởng giả xa-lông.”
|