WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Giáo hội và giáo hội

 

 Giới Tử

          Theo thông cáo báo chí của Vơ văn Ái,  Đại hội VIII (ĐH8) của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Hải Ngoại tại Hoa Kỳ (GHPGVNTNHN-HK) trong ba ngày 14, 15 và 16.5.1999 tại California là một thành công viên măn. Các văn kiện, h́nh ảnh, thành viên tham dự đều được ghi nhận qua báo chí, đặc biệt là tờ Phật Giáo Hải Ngoại số 17, cơ quan ngôn luận chính thức của giáo hội nầy và bộ video hai tập do ban tổ chức đại hội phát hành.  

          Cái đinh của ĐH8 là ba văn kiện được gọi là Thông Điệp Hướng Về Thế Kỷ XXI của Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang, Xử Lư Thường Vụ Viện Tăng Thống (XLTV-VTT), Diễn Văn Chào Mừng ĐH8 của Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo (VT-VHĐ) và Quyết Nghị của ĐH8 của GHPGVNTNHN-HK.

          Cung kính không ǵ bằng vâng mạng, người Phật tử thường phải nh́n-ngón-tay-chỉ-mặt-trăng trước khi nh́n-mặt-trăng, nên có thể xem các văn kiện đó là lời vàng ư ngọc. Nhưng, sắc tức thị không, không tức thị sắc, lúc không nh́n ngón tay nữa mà nh́n vào chính mặt trăng th́ thấy ǵ?

         1. Điều được ĐH8 nói là thông điệp của Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang là một văn kiện có giá trị về nhiều phương diện theo ư nghĩa về lâu về dài, nhưng đă không đề ra một giải đáp nào cho những vấn đề cấp thời trước mắt của Phật giáo, của dân tộc và cả của chúng sinh nhân loại. Cho nên, văn kiện nầy thật ra có thể phổ biến bất cứ lúc nào. Vào cuối năm nay, vào đầu năm sau, hay vào năm 2001... lúc nào cũng được, đâu phải nhất thiết phổ biến cấp kỳ trong ĐH8, khiến cho quư vị trong GHPGVNTNHN-HK phải lao tâm lao lực suốt 21 ngày, từ khi nhận giáo lệnh tổ chức đại hội cho đến khi khai mạc đại hội để công bố văn kiện đó như lời than thở tỏ bày trong quyết nghị ĐH8.

          Sao phải gấp gáp ầm ĩ như thế? Có phải v́ có người sợ rằng nếu quư Thầy Huyền Quang, Quảng Độ và Tuệ Sĩ có mệnh hệ ǵ th́ thiên hạ sẽ nhảy vào tranh mất chức XLTV-VTT, VT-VHĐ và TTK-VHĐ nên mới phải làm đủ cách để chính thức hóa quyền kế thừa các chức vụ lănh đạo GHPGVNTN ở ngoại quốc? Nói rơ hơn, ban tổ chức ĐH8 làm đủ cách để chính thức tự tấn phong ḿnh như một GHPGVNTN lưu vong và đặt quư Thầy trong nước vào thế đă rồi, chối không được nhận cũng không xong? Điều nầy càng dễ hiểu hơn nếu người ta nhớ rằng tổ chức GHPGVNTNHN-HK núp sau ĐH8 nầy là một tổ chức trùng lập với tổ chức cùng danh nghĩa do quư Thầy Thiên Ân và Măn Giác sáng lập từ bao nhiêu năm trước, và sự tiếm vị nầy cũng chưa được GHPGVNTN trong nước công khai thừa nhận bao giờ cả.

          2. Quư ngài trong ban tổ chức ĐH8 than thở là tất bật vất vă trọn 21 ngày để hoàn thành đại hội. Nhưng 21 ngày kể từ ngày nào? Ngày khai mạc ĐH8 là 14.5. Nếu đếm trở ngược 21 ngày th́ ngày thực sự có giáo lệnh trong nước ban ra phải là ngày 24.4.1999. Thế nhưng trong văn thư ngày 4.5.1999 của Thầy Tâm Châu gởi GHPGVNTNHN-HK khước từ tham gia ĐH8 th́ Thầy lại tham chiếu thư mời số 0258 ngày 22.4.1999 của Ḥa Thượng Thích Hộ Giác. Như vậy th́ giáo lệnh - nếu có, tất phải đến trước ngày 22.4 chứ không phải 24.4 nhưng v́ công việc đa đoan nên quư ngài mù mờ đếm lộn nên chỉ kể công 21 ngày. Có thật quư ngài đếm lộn, hay thật ra đó chỉ là hư cấu tưởng tượng, nên 21 ngày hay 21 tuần, 21 tháng th́ cũng như nhau thôi v́ có ai ra lệnh ai đâu mà phải băn khoăn là ra lệnh ngày nào?

          Một điểm nữa là trưởng ban tổ chức đại hội là Ḥa Thượng Thích Đức Niệm. Tại sao Thầy Đức Niệm không kư văn thư 0258 mời Thầy Tâm Châu mà Thầy Hộ Giác lại kư văn thư đó? Vậy th́ ai quyết định tổ chức ĐH8? Thầy Hộ Giác quyết định rồi ủy cho Thầy Đức Niệm dàn mặt ra làm trưởng ban tổ chức hay Thầy Đức Niệm quyết định và dành luôn chức trưởng ban tổ chức, nhưng phải nhường cho Thầy Hộ Giác cái hân hạnh kư thư mời để cùng ăn cùng chịu? Hay Vơ văn Ái quyết định tổ chức ĐH8 và phân công cho hai Thầy kẻ nhận chức Trưởng Ban Tổ Chức, kẻ kư văn thư mời họp? Hay cả ba cùng quyết định rồi ủy thác cho trong nước quyền ban giáo lệnh, viết thông điệp, diễn văn chào mừng và khẩn điện cám ơn ĐH8?

          3. Về cái gọi là diễn văn chào mừng ĐH8 của Thầy Quảng Độ. Thông cáo báo chí ngày 16.5.1999 của Vơ văn Ái cho biết, ĐH8 là biến cố nối dài của một khóa họp cấp cao của chư tôn đức trong hội đồng lưỡng viện lănh đạo Giáo Hội trong nước để suy tôn nhân sự vừa được bổ sung vào hội đồng lưỡng viện.

          Trước hết, nếu khóa họp cao cấp đó thực sự diễn ra th́ đó chính là ĐH8 rồi, sao các Thầy trong nước lại làm khổ quư ngài nước ngoài bằng cách ra lệnh cho các Thầy ở nước ngoài phải tổ chức thêm một ĐH8 ở ngoại quốc làm ǵ nữa, v́ đại hội nầy nói cho cùng cũng chỉ làm công việc của khóa họp cao cấp trong nước mà thôi?

          Thứ nữa, cũng theo thông cáo báo chí kể trên th́ mục đích của ĐH8 là để suy tôn nhân sự lănh đạo. Nhưng hai chức vụ XLTV-VTT và VT-VHĐ này đă có từ Đại Hội 7. Chỉ có chính quyền chứ trong nội bộ GHPGVNTN, chưa có một quyết định ǵ về việc kết thúc nhiệm kỳ của ĐH7 và tổ chức ĐH8 th́ chức vụ của quư ngài vẫn c̣n đó, cần ǵ phải tổ chức ĐH8 ở ngoại quốc để để suy cử suy như thế? Như vậy th́ hóa ra nhị vị Ḥa Thượng trong nước đă ra chỉ thị cho các ngài trong tổ chức GHPGVNTNHN-HK bên Mỹ phải tổ chức đại hội lưu vong để lặp lại vô ích điều đă thực hiện trong nước? Không lư quư Thầy trong nước lại lạm dụng giáo lệnh bằng cách đ̣i hỏi quư vị trong GHPGVNTNHN-HK mà có nhiều người có thể chưa đáng là học tṛ của ḿnh suy tôn ḿnh? Hay quư ngài muốn cho Phật tử nghĩ rằng ĐH8 mới là nơi có thẩm quyền đóng ấn tín duyệt lăm các quyết định của hội đồng lưỡng viện trong nước? Nếu như thế thực th́ tổ chức gọi là GHPGVNTNHN-HK là Giáo Hội Mẹ chứ không phải Giáo Hội Con và Viện Hóa Đạo ở quê nhà là VHĐ 2 và VHĐ ở Mỹ mới là VHĐ 1.

          ĐH8 bảo có giáo lệnh giáo chỉ của quư Thầy bên nhà, tại sao không công bố bút tích nguyên văn văn kiện đó, và tại sao không nhớ rơ nhận văn kiện đó ngày nào, giờ nào và ai trao ai nhận, mà chỉ nhớ mù mờ là 21 ngày trước ngày ĐH8? Nếu bảo v́ chính quyền ngăn chận nên không thể gởi giáo lệnh sang th́ tại sao các văn kiện khác như thông điệp, diễn văn chào mừng và khẩn điện lại có thể gởi sang được? Ngoài ra, khẩn điện nầy kư là H.T Thích-Huyền-Quang. Nhưng, từ bao nhiêu năm nay và trong bao nhiêu văn kiện đích thực của Thầy công bố từ ngày Thầy lâm nạn đến nay, Thầy luôn kư là Sa-Môn Thích Huyền Quang thôi, chứ không hề xưng Ḥa Thượng.

          Vạn bất đắc dĩ, Vơ văn Ái hay một cậu ấm cố vấn chính trị nào khác - như lời Đỗ Mậu gọi hạng người nầy, có thể viết một bài văn rồi đặt tên là diễn văn chào mừng, khẩn điện ghi khắc công đức đại hội hay ǵ nữa cũng được, nhưng đẩy quư Thầy Huyền Quang và Quảng Độ vào thế phải khép nép ra lệnh, hân hoan chào mừng, và chân thành tán thán một số việc làm tiền hậu bất nhất của những vị được coi là lănh đạo GHPGVNTNHN-HK mà phần lớn vốn mới là sa di chú tiểu khi GHPGVNTN được h́nh thành năm 1964 th́ liệu có khỏi bị mang tiếng là bôi bác ngỗ nghịch với quư Thầy bên nhà không?

          4. Cũng về văn kiện được coi như là thông điệp của Thầy Huyền Quang. Đạo hạnh cao dày, uyên thâm Phật pháp, quyền cao trọng vọng trong Phật giáo như Thầy Huyền Quang chẳng lẽ lại cũng dùng những danh từ thời thượng như thế kỷ 21, thiên niên kỷ thứ ba... là những chữ đặc thù Thiên Chúa giáo người ta bày ra để ăn mừng sinh nhật tưởng tượng thứ 2000 của Giáo Chủ Giê-su Ki-tô và Giáo Hội Vatican? Nói về thời gian th́ năm nay là Phật lịch 2543, như vậy thế kỷ 21 và đệ tam thiên niên kỷ của Phật giáo nếu muốn kể th́ ít ra cũng đă bắt đầu từ 542 năm trước chứ đâu phải đợi đến sang năm?

          Cho nên, ví dụ một người như Phạm công Thiện có thể viết một bài văn như thế và gọi đó là thông-điệp-hướng-về-thế-kỷ-21 hay chào mừng đản sanh thứ 2000 của Đức Ki-tô cho vui th́ cũng chẳng chết ai, nhưng đặt những lời đó vào miệng Đại Lăo Ḥa Thượng Thích Huyền Quang th́ liệu có khỏi bị mang tiếng phạm thượng v́ đă bắt Thầy phải lếch thếch mừng lễ khánh thọ của Giáo Hội Vatican? Tại sao GHPGVNTNHN-HK lại không nỡ dành công việc khiêm cung hôn tay hôn nhẫn các chức sắc ngoại đạo nầy cho Ḥa Thượng Giác Lượng hay quư ngài Thích... Liên Tôn?

          5. Theo GHPGVNTNHN-HK th́ ĐH8 là một biến cố có ư nghĩa lịch sử quan trọng từ hai mươi mấy năm qua, thế nhưng suốt ba ngày đại hội cũng như ngày cử hành lễ Phật Đản, không một người, không một bài diễn văn, không một biểu ngữ, một h́nh ảnh nào nhắc đến Thầy Quảng Đức, và quư Thầy Thiện Minh, Đôn Hậu, Trí Thủ... và tất cả Tăng Ni Phật tử đă hy sinh trong các phong trào đấu tranh của Phật giáo từ 1963.

          Phút nhập từ bi quán trong lễ buổi Phật Đản nầy th́ trước hết được dành để tưởng niệm tử sĩ vô danh thông thường chứ không phải các Thánh Tử Đạo vị pháp hy sinh. Buổi lễ được khai mạc bằng bài quốc ca Mỹ và chào quốc kỳ Mỹ. Quư vị Tăng Ni Mỹ gốc Việt nào muốn hát quốc ca, chào quốc kỳ Mỹ là quyền của họ, dĩ nhiên. Nhưng trong số quan khách được mời đến làm cảnh cho buổi lễ nầy lại có những người Tích Lan, Ấn Độ, Thái Lan, Tây Tạng, Đại Hàn th́ tạo sao lại bắt họ chào quốc kỳ và hát quốc ca Mỹ trong một buổi lễ thuần tuư tín ngưỡng như thế? Nếu có quốc ca quốc kỳ cho các sư Mỹ gốc Việt th́ tại sao không có quốc ca quốc kỳ Tích Lan, Tây Tạng, Đại Hàn, Ấn Độ cho Tăng Ni quan khách các nước nầy?

          Phật giáo Việt Nam chỉ có một lá cờ, cờ ngũ sắc Phật Giáo quốc tế, chỉ có một bài đạo ca, bài Phật Giáo Việt Nam mà bao nhiêu Tăng Ni Phật tử đă hy sinh bảo vệ năm 1963. Lá cờ đó, bài ca đó là tín chỉ nhân cách của người Phật tử Việt Nam. Lá cờ đó đă phủ lên nhục thân của các Thánh Tử Đạo, bài Phật ca đó đă tiễn đưa hương linh các Thánh Tử Đạo về nơi đất Phật cao vời. Những thứ cờ quạt khác chỉ là sắc tướng tùy duyên không thể đứng trên, đứng trước Phật kỳ và giáo ca được. 

          6. Suốt buổi lễ Phật Đản, trong khi những người lên diễn đàn cứ một mực đê đầu đănh lễ hết vị nhỏ đến vị lớn trong GHPGVNTNHN-HK th́ không một ai thèm chịu khó qùy xuống để có một-lạy-cho-ra-lạy trước bàn thờ Phật, ngay cả khi xướng Tam Tự Quy bằng tiếng Việt.

          Đă không thèm lạy Phật mà quư vị lên trước bàn thờ hành lễ, mỗi người lại lăm lăm một cái micro như mấy ông cảnh sát cầm dùi cui đàn áp du đảng. Kể từ bao giờ mấy Thầy phải cầm micro mà tụng niệm như ca sĩ trên sân khấu vậy? Ḥa Thượng Trí Chơn Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ đă có lối niệm Phật rất mới là Kính Thưa Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật! Ḥa Thượng Chánh Lạc đọc quyết nghị của đại hội th́ đă từ bi hỷ xả ê a đọc rơ là “a nhỏ, b nhỏ, c nhỏ...” v́ lo cho thiên hạ dưới kia tâm trí đơn sơ không theo dơi kịp những điểm quyết nghị. Hoà Thượng Hộ Giác suốt buổi lễ ngồi tréo mảy trước bàn thờ Phật cũng như khi nhận lời ra mắt giới thiệu của chư Tăng Ni khách cũng như chủ, mà chắc chắn có người tuổi đạo cũng như tuổi đời phải hơn Ḥa Thượng. Ḥa Thượng tréo mảy thản nhiên như ông hoàng bà chúa ngồi trong pḥng khách tiếp thần dân. Trông thật thoải mái oai vệ.

          Trong một buổi lễ trang nghiêm như thế, trước số Tăng Ni quan khách đông hơn Tăng Ni gia chủ như thế, mà Hoà Thượng Chứng Minh Đạo Sư Thích Thuyền Ấn - Phật tử 1963, biết rơ ngài dưới pháp hiệu Thiện Giăi hơn là pháp hiệu nầy, lại ban đạo từ bằng cách làm thơ. Thuộc nhà Phật, nhưng thay v́ nói đến Niết Bàn Âm Ty, Thầy lại dùng những tiếng như Địa Ngục, Thiên Đàng là từ ngữ ngoại đạo để diễn đạt mơ ước hoằng hóa của Thầy. Nghe Thầy ngân nga đọc thơ và không hề được dịch ra ngoại ngữ, các Tăng Ni quan khách ngoại quốc có thể tưởng là Thầy đang đọc các bài kệ tiếng Phạn theo lối phát âm tiếng Việt? Ngày xưa, Phật, Bồ Tát cũng như các cao Tăng đâu có làm thơ trong các dịp lễ lạy trang nghiêm tôn kính như thế. Chỉ có Chú và Kệ thôi.           

          Đúng là Phật giáo của những người chỉ thích chào quốc kỳ và hát quốc ca Mỹ. Đâu cần ngoảnh mặt nh́n về quê hương mới thấy đâu là thời mạt pháp, và ai đă đẩy tôn giáo của ḿnh vào thời mạt pháp.

          7. Có đại hội để làm ǵ? Trên thực tế, nếu ngày mai đây quư Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ giải nghiệp liễu sanh lạc quốc th́ chức vụ Tăng Thống hẳn sẽ lọt vào tay Ḥa Thượng Đức Niệm, chức vụ Viện Trưởng VHĐ vào tay Ḥa Thượng Hộ Giác, chức vụ Tổng Thư Kư VHĐ vào tay Thượng Tọa Viên Lư. Như kiểu con hưởng gia tài của mẹ. Ai vào đây dành nữa mà phải có đại hội tự tấn phong, suy tôn suy cử.

          Đại hội ba ngày ở California của GHPGVNTNHN-HK nếu có mảy may kết quả nào đó th́ kết quả ấy chính là đă gián tiếp hợp thức hóa cho tổ chức nầy, cụ thể là củng cố danh vị của quư ngài Đức Niệm, Hộ Giác, Viên Lư, Chánh Lạc, Giác Đức và Giác Lượng. V́ suy cử Huyền Quang là suy cử kẻ thừa kế Đức Niệm, suy cử Quảng Độ là suy cử kẻ thừa kế Hộ Giác, suy cử Tuệ Sĩ là suy cử kẻ thừa kế Viên Lư. Viện Hóa Đạo lưu vong c̣n đó th́ Chánh Lạc c̣n đó thay v́ tạm thời rút lui chờ ngày ra ṭa, th́ Giác Lượng vẫn c̣n là Ḥa Thượng Phó Chủ Tịch đặc trách giải trừ pháp nạn, th́ vẫn c̣n Giác Đức đă hoàn tục đề huề và được GHPGVNTNHN-HK tái sinh thành Pháp Sư niên trưởng Phó Chủ Tịch Nghiên Cứu Kế Hoạch. Nói thế khác, ĐH8 là một cách khai sinh ra một GHPGVNTN lưu vong, một Viện Tăng Thống và Viện Hóa Đạo lưu vong, để biện minh cho một số danh nghĩa lưu vong khi quư Thầy Huyền Quang, Quảng Độ vĩnh viễn nằm xuống tại quê nhà.

          Cũng có thể gọi là Đại Hội 8 là đại hội của Vơ văn Ái với mục đích biện mịnh cho thành tích hoạt động của Ủy Ban Bảo Vệ Quyền Làm Người Việt Nam núp dưới danh nghĩa Pḥng Thông Tin Phật Giáo Quốc Tế của GHPGVNTNHN-HK mà Vơ văn Ái là đồng chủ tịch.

          8. Chỉ tội nghiệp cho quư Thầy ở quê nhà bị đẩy vào thế công nhận không được mà phủ nhận cũng không xong. Nhưng quư Thầy bên nhà càng khốn đốn khó khăn th́ càng có cớ cho Vơ văn Ái và Ḥa Thượng Giác Lượng giải trừ pháp nạn và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam bên Pháp, bên Mỹ.

          9. Một số Phật tử, tại gia cũng như xuất gia h́nh như đă quên mất bài học của Vạn Hạnh. Bài học vô trụ, vô tranh, và không trung thành chính trị mù quáng. Vạn Hạnh là quốc sư phục vụ cả ba triều đại Đinh, Tiền Lê, và Lư. Vua nào xứng đáng, triều đại nào tốt th́ giúp, xấu th́ bỏ. Không thù ghét và cũng không tiếc thương yếu đuối.

          Phật giáo không tranh quyền lực, nên không bám cứng một thế lực chính trị nào đến chết bỏ và cũng không chống một thế lực nào đến chết bỏ. Phật giáo chỉ làm trọng tài, chỉ vạch ra cái hay, cái dỡ đúng thời đúng lúc, chỉ khuyến cáo người ta làm cái đúng, tránh cái sai đúng thời đúng lúc.

          10. Trong khi Phật giáo trong nước đang có bao nhiêu việc phải làm cho ngót 80 triệu đồng bào, th́ một số quư vị hữu danh ở ngoại quốc đă làm ǵ? Hoặc chạy theo những kẻ sống với những ảo tưởng chính trị xa vời cũ kỷ, điên cuồng tiếc nuối quá khứ, nguyền rũa hiện tại và tuyệt vọng với tương lai của đồng bào và tín ngưỡng của ḿnh. Hoặc xum xoe biến ḿnh thành những sư tử trùng để tự hủy hoại thành quả tu tập của chính ḿnh và quấy nhiễu hoạt động hoằng hóa của đồng đạo. Thành tích Giải Trừ Pháp Nạn sáng chói của GHPGVNTNHN-HK bao năm rồi là ǵ ngoài hành động hung hản ngang ngược quấy phá một vài cảnh chùa theo sự đôn đốc xúi dục của hàng ngoại đạo? Một số Phật tử thuần thành đă bị biến thành những con chốt thí tạo thành áp lực quần chúng hỗ trợ cho những chuyến đi đêm của thế lực ngoại đạo với chính quyền Việt Nam trong ư đồ bảo vệ bá quyền tôn chính ngoại lai đó tại Việt Nam nhân danh tự do, dân chủ, nhân quyền.

          11. Là những người từng thăng trầm lận đận với vận hội chung của Phật giáo từ năm 1963 như quư Thầy Hộ Giác, Tâm Châu, Thuyền Ấn, Như Huệ, Hành Đạo... Chắc hẳn quư Thầy cũng biết niềm đau nhục của các hàng Phật tử trước cái nạn Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo và Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Thuần Túy thời Ngô đ́nh Diệm, cái nạn Ấn Quang - Quốc Tự thời Nguyễn văn Thiệu, và bây giờ là cái nạn Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và GHPGVNTN. Muốn thành lập bao nhiêu tông phái cũng được, muốn dàn dựng lên bao nhiêu giáo hội cũng được. Để “tùy phương tiện lợi hành đồng sự” chứ không phải để chống báng quấy nhiễu thị phi. Các trưởng tử Như Lai ỏTăng đức như hải phải từ bi hơn để tội nghiệp cho hàng Phật tử sơ cơ để tránh cho họ những đau nhục cũ.  

          Nếu c̣n chút tôn kính các bậc tiên liệt đă hy sinh cho tiền đồ Phật Giáo Việt Nam, nếu c̣n chút tự trọng tự tín đối với hàng giáo lănh các tôn giáo bạn, nếu c̣n chút ân cần ưu tư về những niềm đau nhục của người đồng đạo trước nạn phân hóa v́ áp lực chính trị ngoại tại th́ người Phật tử, tại gia cũng như xuất gia phải góp tâm sức làm cho bao nhiêu tông phái Phật giáo Việt Nam kết hợp thành một khối để quy tập tâm sức phục vụ Đạo Pháp và Dân Tộc chứ không phải ră tan từng mảnh chỉ tồn tại v́ hư danh và tư lợi.

          12. Có vậy th́ may ra mới bớt lo là ngày nào đây gặp lại Thầy Quảng Đức, Thầy Thiện Minh và bao nhiêu Tăng Ni Phật Tử đă vị pháp vong thân từ năm 1963 đến nay mà không phải thống hối là đă không làm điều đáng phải làm.

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE